BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
SỬ THANH HOÀI
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CẢI THIỆN SINH KẾ CỦA
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ GẮN VỚI
QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Đồng Nai, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
SỬ THANH HOÀI
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CẢI THIỆN SINH KẾ CỦA
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ GẮN VỚI
QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60620115
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
đầu hiện nay. Việc đánh giá hiệu quả các hoạt động sinh kế, trong đó gắn với
quản lý rừng bền vững giúp chúng ta hiểu rõ những phương thức sinh kế của
đồng bào dân tộc thiểu số và mối quan hệ với quản lý rừng bền vững.
2
Huyện Lạc Dương nằm trên cao nguyên Lâm Viên có địa hình cao
nguyên đất đỏ bazan, ở độ cao 1.500m – 2.200m và độ cao bình quân 1.500m
– 1.600m. Là một huyện miền núi phía bắc tỉnh Lâm Đồng, gồm 5 xã và 01
thị trấn. Địa hình của toàn huyện chủ yếu là rừng núi, rộng lớn và bị chia cắt.
Trình độ dân trí và đời sống về vật chất, tinh thần của một bộ phận người dân
còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số
gốc Tây Nguyên. Lạc Dương có tổng diện tích tự nhiên 131.252,84 ha, trong
đó rừng là 114.936,57 ha, chiếm 87,57% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong
đó rừng tự nhiên 109.761,49 ha, rừng trồng 5.175,08 ha (rừng sản xuất
668,99 ha; rừng phòng hộ 53.618,51 ha và rừng đặc dụng 60.586,07 ha)[15].
Rừng ở Lạc Dương không chỉ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và
bảo vệ môi trường của địa phương mà còn có vai trò quan trọng bảo vệ nguồn
nước cho hệ thống sông Đa Nhim, sông Đa Dâng, sông Krông Nô và vùng hạ
lưu. Huyện có tỷ lệ hộ nghèo còn cao của tỉnh Lâm Đồng, tỷ lệ hộ nghèo toàn
huyện năm 2013 là 7,01%, trong đó hộ đồng bào dân tộc thiểu số 8,98% [16].
Tình trạng phá rừng, chiếm đất làm nương rẫy của đồng bào dân tộc trên địa
bàn còn ở mức khá cao, vẫn còn tình trạng bà con đồng bào trở về làng cũ
trong các khu rừng đặc dụng để phát rừng. Đồng bào dân tộc thiểu số trực tiế p
tham gia bảo vê ̣ và phát triể n rừng chỉ đươ ̣c hưởng mô ̣t phầ n giá tri ̣ sử du ̣ng,
còn giá tri ̣sử du ̣ng gián tiế p của rừng hầ u như không đươ ̣c nhâ ̣n. Trong khi xã
hô ̣i, cô ̣ng đồ ng, tổ chức và cá nhân nằ m ngoài khu vực có rừng, không tham gia
bảo vê ̣ tái ta ̣o rừng la ̣i được hưởng lợi từ các dich
̣ vu ̣ do rừng ta ̣o ra rất lớn như
- Đề xuất được các giải pháp góp phần cải thiện sinh kế của đồng bào
dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững ở trên địa bàn huyện Lạc
Dương.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu sinh kế
của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững.
4
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung
Về nội dung: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên
quan đến sinh kế, quản lý rừng bền vững, sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu
số gắn với quản lý rừng bền vững.
- Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu sinh kế, quản lý rừng bền vững, sinh kế của đồng
bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững trên địa bàn huyện Lạc
Dương.
- Phạm vi về thời gian
Đánh giá thực trạng sinh kế, sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số,
quản lý rừng bền vững, sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý
rừng bền vững trong 3 năm gần đây từ 2011-2013, đưa ra một số giải pháp
góp phần cải thiện sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng
bền vững ở trên địa bàn huyện Lạc Dương.
4. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế, quản lý rừng bền
vững, sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững.
- Nghiên cứu đánh giá được thực trạng về sinh kế của đồng bào dân tộc
Từ đinh
̣ nghiã trên, có thể hiể u nô ̣i dung sinh kế bao gồ m hai khía ca ̣nh cơ
bản là:
Các nguồ n lực nguồ n vố n để đảm bảo sinh kế .
Các hoa ̣t đô ̣ng sinh kế cu ̣ thể .
- Khái niê ̣m về sinh kế theo Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFIT) năm
1999: “Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực
vật chất, xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống”.
* Sinh kế bền vững
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái
niệm phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway
6
(1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm
con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản
của họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư
nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa
phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh
kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi
sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai.
Theo DFIT (2001), sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được
những căng thẳng và đột biến, hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng
cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến
cơ sở tài nguyên thiên nhiên. Tiêu chí SKBV gồm: an toàn lương thực, cải
thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng
- xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi ro và các cú sốc.
* Khung phân tích sinh kế
Chính sách, tiến
các động lực, các
Con người
- Thời vụ
qui tắc
- Chấn động
(trong
tự
nhiên
và
Xã hội
Tự nhiên
thái độ đối với
môi trường,
thị
-Chính sách và
khu vực tư nhân
đồng …)
-Các cơ sở tài
nguyên thiên
nhiên
-Cơ
sở
thị
trường
tồn
hoặc tính bền
vững
-Cuộc sống đầy
đủ hơn
-Giảm khả năng
tổn thương
-An ninh lương
thực được cải
thiện
-Công bằng xã
hội
- Đa dạng
-Sinh
kế chiếm đoạt.
* Tiếp cận sinh kế bền vững
Khung phân tích SKBV do Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFIT) đưa ra
được các học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi. Ba thành tố
chính của sinh kế theo DFIT là: (1) Nguồn lực và khả năng mà con người có
được; (2) Chiến lược sinh kế (thể hiện ra các hoạt động sinh kế); (3) Kết quả
sinh kế.
* Giảm nghèo theo các nguồn vốn sinh kế
Để giảm nghèo, phát triển SKBV, ngoài việc các hộ dân phải tự mình
nâng cao năng lực phát triển họ cũng cần những can thiệp hỗ trợ từ bên ngoài.
Vai trò của các chương trình can thiệp hỗ trợ là tác động vào tài sản sinh kế
và chiến lược sinh kế của nông hộ, giúp họ tăng cường tài sản và giảm tổn
thương.[3]
1.1. 2. Khái niệm về quản lý rừng bền vững
Khái niệm QLRBV được hiểu là chủ rừng hoặc người quản lý rừng tổ
chức các hoạt động của một khu rừng xác định luôn thu được lợi ích về gỗ,
lâm sản và giá trị dịch vụ tối đa mà không làm thay đổi diện tích, trữ lượng và
năng suất lâm sản trong đó và không làm ảnh hưởng tới lợi ích lâu dài của
khu rừng.
Tiến trình Helsinki (1995) định nghĩa như sau:” Quản lý rừng bền vững
là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì
tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, và
8
duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện, hiện nay và trong tương lai,
các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng, ở cấp địa phương, quốc
gia và toàn cầu, và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái
khác”. [8]
rừng bền vững
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Tình hình nghiên cứu về sinh kế của người dân trên thế giới
Việc phát triển kinh tế hộ nói chung và kinh tế hộ nông dân nói riêng ở
các nước đang phát triển, hướng tới xóa đói giảm nghèo bền vững, là chủ đề
lớn và nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả quốc tế trong vài thập kỷ
gần đây. Khảo sát các công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề này, chúng
tôi thấy nổi lên một số chủ đề lớn đáng lưu ý sau đây.
* Các nghiên cứu dưới góc độ thu nhập của kinh tế hộ
- Trong các nghiên cứu về kinh tế hộ của Cervantes-Godoy and Brooks
(2008); Ironmonger; Duncan (2000); World Bank (2003,2007), đã cho thấy
kinh tế hộ có nguồn thu nhập rất đa dạng, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp,
phi nông và di cư. Việc tập trung phát triển kinh tế hộ mang lại nhiều lợi ích
do hộ là đơn vị kinh tế nhỏ, năng động, có khả năng ứng phó nhanh với
những cú sốc thị trường; trợ giúp kinh tế hộ cũng dễ đảm bảo tính công bằng
hơn. Ngoài ra, đối với cấp hộ cũng dễ áp dụng nông nghiệp xanh, hạn chế
việc sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu trên diện rộng, hạn chế quá
trình hoang mạc hóa,…[23]
* Các nghiên cứu xung quanh vấn đề về nguồn lực (sinh kế) của kinh tế
hộ gia đình
- Việc phát triển kinh tế hộ ở các nước đang phát triển gặp phải rất
nhiều lực cản. Năng suất lao động thấp, thu nhập thấp đó là một phần nguyên
nhân của nghèo đói nếu không được khắc phục.
10
- Trong các nghiên cứu của Anríquez and Bonomi (2007); World Bank
(2003); Reardon et al 1998; Hall and Patrinos (2006); Carter and Barrett
(2006); Christiaensen and Subbarao (2005); Dercon (2004); Vollrath (2007);
và thu nhập cao hơn.[22]
- Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ đói nghèo giảm có tương quan chặt
chẽ với việc đa dạng hóa sản xuất hàng hóa và tham gia tích cực vào thị
trường của nông hộ. Từ đó đa dạng hóa các nguồn thu nhập là phương kế hữu
hiệu để chống lại rủi ro, linh hoạt trong sản xuất và hướng tới tương lai tốt
đẹp hơn, trong đó thu nhập phi nông nghiệp vừa là lực kéo vừa là lực đẩy cho
phát triển kinh tế hộ.
Các tác giả, tổ chức như: IFAD (2003); Brooks (2010); CervantesGodoy and Brooks (2008), cho rằng cần cải cách thể chế kinh tế như điều
chỉnh chính sách đất đai và quyền sở hữu tài sản, tạo thuận lợi cho việc mua
bán đất đai; mở rộng sản xuất và gây dựng thương hiệu; cải cách thị trường
lao động để tạo thêm các cơ hội việc làm và tăng thu nhập là những chính
sách giúp kinh tế hộ phát triển và thoát nghèo.[21]
Kinh tế văn hoá của đồng bào vùng cao có quan hệ mật thiết với rừng.
Rừng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân. Ví
dụ của Raha (dẫn trong Guha, 1989) cho rằng rừng có ảnh hưởng lớn đến đừi
sống tôn giáo và tinh thần. Guha viết (1989:29):
Sự phụ thuộc của người dân vùng núi vào tài nguyên rừng đã được thể
chế hoá thông qua rất nhiều thế chế xã hội và văn hoá. Thông qua tôn giáo,
văn hoá và truyền thống, các cộng đồng bản địa đã tạo ra một vành đai bảo vệ
xung quanh rừng.
Theo Uỷ ban Phát triển Quốc tế (DFID – Anh, 1998:1), sinh kế gồm có
năng lực, tài sản (bao gồm cả tài nguyên vật chất và xã hội) và các hoạt động
cần để kiếm sống. Có 5 loại vốn: Thứ nhất là vốn tự nhiên hoặc các nguồn tài
nguyên như đất, nước, động vật mà con người có thể khai thác để phục vụ cho
12
cuộc sống. Thứ hai là vốn xã hội, hay các nguồn tài nguyên xã hội như là
mạng lưới xã hội hoặc các tổ chức mà người dân tham gia để kiếm sống. Thứ
họ trở nên linh hoạt hơn trong xử lý những khó khăn nảy sinh và sự thay đổi
các điều kiện kinh tế. Đến lượt mình, hiệu quả của sự đổi mới này đã nâng
cao ý thức của người dân trong khai thác và bảo vệ rừng, đồng thời quản lý tài
nguyên thiên nhiên, Trung Quốc đã cải thiện tình trạng quản lý rừng, dẫn tới
tăng sản lượng cũng như bảo vệ rừng tốt hơn (Zhang Kun trong Enters và
cộng sự, 2000).
Nêpan cũng chuyển giao quyền quản lý rừng đến chính quyền địa
phương. Chức năng của các cấp chính quyền địa phương như quận, huyện, thị
trấn hay uỷ ban phát triển làng bản sau khi phân quyền là tiến hành trồng
rừng, mở rộng và quản lý rừng bằng cách thành lập các uỷ ban người sử dụng
từ chính những người đang sử dụng rừng (Singh và Kafle trong Enters và
cộng sự, 2000).
Ở Indonexia, chương trình cải cách (reformasi) được thực hiện từ năm
1988 trong đó chính quyền phải đưa ra các điều luật và chính sách mới (trong
lĩnh vực lâm nghiệp) nhằm xác định lại vai trò của nhà nước và các cơ quan,
đoàn thể liên quan trong quản lý rừng. Với Nghị định Kawasan dengan
Tujuan Istimewa (KdTI-khu vực cho mục đích riêng biệt), hình thức quản lý
rừng dựa vào cộng đồng đã được thừa nhận một cách hợp pháp như một tổ
chức quản lý rừng tại địa phương. Mặc dù khu vực KdTI vẫn là một bộ phận
của đất rừng quốc gia, Nghị định này lại thừa nhận những lợi ích xã hội và
môi trường của hệ thống quản lý bản địa, vai trò của các tổ chức cơ sở trong
việc đảm bảo tính bền vững của hệ thống quản lý tài nguyên thiên nhiên và
quyền của các hộ dân khai thác, bán các sản phẩm gỗ và các sản phẩm khác
ngoài gỗ từ những cây họ trồng (Lai và cộng sự trong Enters và cộng sự,
2000).
14
Ở Thái Lan, Đạo luật 1992 Tambon Administration trao quyền nhiều
USD, bảo vệ đất: 64 tỷ USD, dịch vụ sức khỏe cộng đồng: 62 tỷ USD, cung
cấp Oxy: 147 tỷ USD, lâm sản (gỗ): 5,6 tỷ USD) [25].
1.2.2. Tại Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình nghiên cứu về sinh kế của người dân tộc thiểu số tại
các tỉnh miền núi
Sinh kế là mối quan tâm hàng đầu của con người, là điều kiện cần thiết
cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con người nhưng vẫn đáp ứng
được đòi hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên. Việc lựa chọn những hoạt
động sinh kế của người dân miền núi chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố
về điều kiện tự nhiên, xã hội, yếu tố con người, kết cấu hạ tầng...
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chương
trình, chính sách, dự án lớn đầu tư hỗ trợ khá tập trung và đồng bộ vào các
lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn miền núi. Các chính
sách có sự hỗ trợ tác động qua lại, tạo tiền đề cho nhau, góp phần làm thay
đổi cơ bản bộ mặt nông thôn, miền núi.
Chính sách về định canh, định cư. Quyết định 138/QĐ-TTg (năm 2000),
các dự án ĐCĐC đã được hợp nhất vào Chương trình 135. Quyết định số
33/2007/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện ĐCĐC cho đồng bào
DTTS giai đoạn 2007 - 2010...
Chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở và nước sinh hoạt
cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn. Thực hiện theo Quyết định
134/2004/QĐ-TTg. Triển khai Quyết định này có 03 quyết định của Thủ
tướng, 03 văn bản cấp Bộ. Đáng chú ý là Quyết định 146/2005/QĐ-TTg và
Quyết định 57/2007/QĐ-TTg về thu hồi đất của các nông, lâm trường để giao
cho các hộ đồng bào DTTS nghèo.
Chính sách vay vốn đối với hộ đồng bào DTTS: Quyết định 32/2007/QĐTTg về cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ DTTS. Quyết định
16
Bên cạnh chính sách của Đảng và Nhà nước hỗ trợ mọi mặt về đời sống
của đồng bào dân tộc vùng cao, thì nhiều tổ chức xã hội cũng chăm lo sinh kế
của người dân tộc thiểu số.
Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD): là một tổ chức phi
chính phủ, phi lợi nhuận của Việt Nam, trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam (viết tắt là VUSTA). Tiền thân từ tổ chức CIDSE
Việt Nam (tổ chức Hợp tác Quốc tế vì sự Phát triển và Đoàn kết), SRD được
thành lập vào tháng 3 năm 2006, giấy phép hoạt động do Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường cấp. Sứ mệnh của SRD là hỗ trợ các vùng nông thôn để
cộng đồng tự quản lý hệ thống sinh kế một cách bền vững thông qua: i) phát
triển nông nghiệp bền vững; ii) tăng thu nhập cho nông dân qua việc phát
triển phương thức sinh kế bền vững và đa dạng; iii) tăng cường năng lực cho
các tổ chức cộng đồng qua quá trình ra quyết định; iv) vận động chính sách vì
người nghèo. SRD chú trọng vào việc cải thiện năng lực của cộng đồng bị
thiệt thòi để họ có thể quản lý bền vững hệ thống sinh kế, các chương trình
giảm nghèo hiệu quả của các tổ chức phi chính phủ, phát triển cộng đồng và
các mô hình quản lý nguồn lực; trong đó nhóm mục tiêu là các nhóm dân tộc
thiểu số nghèo và nghèo nhất ở Việt Nam. Trung tâm SRD đang thực hiện
những dự án phát triển nông nghiệp và sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu
hỗ trợ xoá đói giảm nghèo tại các tỉnh miền núi phía Bắc và các tỉnh miền
Trung (Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Quảng Trị). Với tôn chỉ “người dân tại các
vùng nông thôn đủ năng lực để tự quản lý nguồn sinh kế của họ một cách bền
vững trong một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh”, trong khuôn khổ dự
án “Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam hướng tới sinh kế của các cộng đồng
dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc”, Trung tâm SRD triển khai các hoạt động
hỗ trợ kĩ thuật, tín dụng thông qua củng cố và phát triển hai câu lạc bộ sinh kế
cộng đồng và các nhóm sở thích tại hai xã Tam Thanh và Võ Miếu của tỉnh
19
thiểu số, phụ nữ và trẻ em tham gia hiệu quả, bình đẳng và đóng góp vào đời
sống chính trị, kinh tế và xã hội”, CERDA hỗ trợ xây dựng các tổ tự quản và
các hợp tác xã sản xuất chè an toàn. CERDA hỗ trợ nâng cao năng lực toàn
diện cho các nông dân chủ chốt trong các tổ nhóm và giới thiệu các mô hình
sinh kế hướng tới cung cấp các sản phẩm sạch ra thị trường.
Trung tâm Vì sự Phát triển Bền vững Miền núi (CSDM): thành lập năm
2000, là một tổ chức hoạt động phi lợi nhuận thuộc Hội Địa chất Việt Nam
trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), giấy
phép hoạt động do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường cấp. Trung tâm
bắt đầu thực hiện các dự án phát triển, xoá đói giảm nghèo từ năm 1998 tại
Lạng Sơn. Các hoạt động của Trung tâm tập trung vào: (i) nâng cao năng lực
cho cán bộ và cộng đồng người dân tộc để họ có thể tự giải quyết những khó
khăn, phát huy những thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội tại địa phương;
(ii) hỗ trợ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở các tri thức và văn hoá
truyền thống dân tộc kết hợp với khoa học kỹ thuật tiên tiến; (iii) hỗ trợ đồng
bào dân tộc xoá đói giảm nghèo trên cơ sở sử dụng hợp lí và bền vững nguồn
tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, rừng); (iv) hỗ trợ các mong muốn và hoạt
động giữ gìn và phát huy văn hoá và bản sắc dân tộc; (v) nâng cao năng lực
cho cán bộ của Trung tâm nhằm đáp ứng một cách có hiệu quả và bền vững
những yêu cầu, mong muốn của đồng bào các dân tộc và những nhóm người
chịu thiệt thòi trong xã hội. Với “mong ước những người thiệt thòi và người
dân tộc thiểu số có thể thực hiện quyền của họ để có được một cuộc sống với
chất lượng tốt hơn, giữ gìn và lưu truyền lại cho con cháu văn hóa truyền
thống của mình. Tất cả những người dân tộc thiểu số sẽ tự hào về bản sắc văn
hóa dân tộc của dân tộc mình và tự tin trong cuộc sống chính trị, kinh tế, xã
hội và môi trường”, CSDM đang tích cực triển khai các hoạt động dự án trên
địa bàn hai xã Tân Sơn và Nà Mèo của huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
cộng đồng cuộc sống của người dân nơi đây đã có nhiều đổi khác. Việc giao
21
đất được thực hiện chủ yếu thông qua việc thảo luận với dân làng ngay tại
hiện trường. Mỗi làng được giao quản lý hai hay ba ngọn núi đá vôi riêng biệt
hay một nửa sườn núi. Thông qua việc bàn bạc và dàn xếp với dân làng, xã đã
giao rừng trên cơ sở vị trí đất rừng, khả năng quản lý rừng và mức độ phụ
thuộc vào các khu rừng đó của người dân. Sau đó các bản làng lại giao lại cho
các hộ dân sử dụng và quản lý dựa trên các quy định riêng của từng bản, làng.
Trong diện tích do bản quản lý, người dân được phép lấy củi sau khi đã được
phép của lãnh đạo trong bản. Nếu xảy ra tình trạng chặt cây trái phép, thì
người vi phạm bị phạt 5kg gạo cho 1kg củi chặt trái phép. Sau hơn 5 năm
thực hiện mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã mang lại cho người
dân cũng như những khu rừng nơi đây những thay đổi đánh kể. các khu rừng
già bị chặt phá trước dây đã phục hồi bình tốt che phủ một diện tích trên 71
ha. Khoảng 176 ha đã tái sinh tốt và bình quân một ha có 412 cây con được
trồng bổ sung. Đời sống của người dân trong bản được nâng cao nhờ các hoạt
động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
Sơn La là tỉnh vùng cao nằm phía Tây Bắc Việt Nam. Tổng diện tích
tự nhiên toàn tỉnh là 1.421.000 ha. Trong đó đất lâm nghiệp có 1.034.100 ha,
đất nông nghiệp có 147.360 ha, đất khác và núi đá chiếm 239.530 ha. Trong
điều kiện khi mà tài nguyên rừng đã cạn kiệt, nền nông nghiệp đang đứng
trước những thử thách mới. Sơn La đã áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào
cộng đồng với chủ trương giao đất giao rừng. Lâm Nghiệp đang dần chuyển
hướng quản lý từ nhà nước sang cộng đồng với nhiệm vụ là xây dựng hệ
thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất theo phương thức nông
lâm kết hợp. Bình quân mỗi năm tỉnh đã trồng 4000 – 5000 ha rừng tập trung,
hơn 1 triệu cây phong trào, khoanh nuôi tái sinh 30.000 ha, bảo vệ 162.000 ha
Việt Đức (GTZ), sự quan tâm của chính phủ Việt Nam, UBND tỉnh Lâm Đồng
luôn dành sự quan tâm đặc biệt phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ban ngành, lãnh,
chỉ đạo các sở, ngành trong tỉnh triển khai đồng bộ với nhiều biện pháp tích
23
cực, đến nay, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở Lâm Đồng cũng như
trong khu vực nghiên cứu, đã thực sự đem lại những hiệu quả đáng khích lệ cả
về kinh tế, xã hội và môi trường. Thông qua việc điều tra, khảo sát từ các bên
có liên quan tham gia thực hiện chính sách chi trả DVMTR trong khu vực và
các nguồn tài liệu thứ cấp được thu thập từ các sở ban ngành trong tỉnh sau khi
tổng hợp.
- Với việc chi trả DVMTR theo hình thức gián tiếp hiện nay tại Lâm
Đồng số tiền mà Quỹ BV&PTR Lâm Đồng được giữ lại 10% trên tổng số tiền
thu được và các đơn vị quản lý rừng nhà nước được giữ lại 10% trên tổng số
tiền ký kết hợp đồng QLBVR với Quỹ BV&PTR cấp tỉnh, đảm bảo được cho
các hoạt động như: kiểm tra, giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán, đào tạo
nâng cao năng lực, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác QLBVR,
phục vụ cho các chiến dịch tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm
trong việc QLBVR thường xuyên, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập cho
cán bộ công nhân viên ở đơn vị, và địa phương khi tham gia thực hiện chính
sách chi trả DVMTR có trách nhiệm hơn.
Chúng ta có thể thấy, nếu biết tổ chức, quản lý và kinh doanh tốt, rừng
sẽ đem lại cho chúng ta nhiều lợi nhuận. Khi chúng ta đầu tư 30 triệu đô la
cho việc chống phá rừng và suy thoái rừng thì chúng ta có thể nhận được 2,5
tỷ đô la từ các sản phẩm và dịch vụ mà nó mang lại [14].
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Về cơ sở lý luận: Luận văn tập trung nghiên cứu khái niệm về sinh kế
và quản lý rừng bền vững. Từ đó có cơ sở đi phân tích các nhân tố ảnh hưởng