Phân tích thực trạng về hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng - Pdf 43

BÀI LÀM
“Phân tích thực trạng về hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam”.
1. Tầm quan trọng của công tác đào tạo nhân lực
Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, sự cạnh tranh của các Doanh nghiệp ngày càng khó
khăn hơn. Để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực trên
địa bàn tỉnh thành công thì việc đầu tư vào công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
là điều tất yếu, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Nhận thức được tầm
quan trọng của công tác đầu tư này, nhiều doanh nghiệp đã chú trọng vào công tác đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Tuy nhiên phương pháp thực hiện công tác này chưa có phương pháp làm việc một cách
bài bản, hệ thống như: thiếu một tầm nhìn dài hạn xuyên suốt các hoạt động, hoạch định
chiến lược và kế hoạch, thiếu sự đồng bộ giữa các hoạt đông khác nhau...
Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, cuộc cạnh tranh giữa các nước và
các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt. Cuộc cạnh tranh đó thể hiện trên tất cả các mặt:
công nghệ, quản lý, tài chính, chất lượng, giá cả, v.v... Nhưng trên hết, yếu tố đứng đằng
sau mọi cuộc cạnh tranh là con người. Thực tế đã chỉ ra rằng đối thủ cạnh tranh đều có
thể copy mọi bí quyết của doanh nghiệp về sản phẩm, công nghệ, v.v... Duy chỉ có đầu tư
vào yếu tố con người là ngăn chặn được đối thủ cạnh tranh sao chép bí quyết của mình.
Do có tính thực tiễn, nên vấn đề nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân
lực là đề tài luôn nóng hổi trên diễn đàn thông tin và nghiên cứu quốc tế.
Ở Việt Nam, nghị quyết của Đảng cũng chỉ ra rằng Việt nam chỉ có thể đi tắt đón đầu sự
phát triển trên thế giới bằng cách đầu tư vào yếu tố con người. Điều này cũng đuợc thể
hiện rất rõ trong luật giáo dục của nước ta. Nhà nước đã chú trọng vào việc phát triển

TrịnhMaiLy – GeMBA01.M06


nguồn nhân lực cho đất nước. Do vậy, vấn đề phát triển nguồn nhân lực là một trong
những vấn đề mấu chốt của nước nhà.
So với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, các doanh nghiệp Việt nam chưa có

3. Các hình thức đào tạo của Ngân hàng Công thương:
Căn cứ vào yêu cầu thực tế của công việc, Ngân hàng Công thương xác định nhu cầu đào
tạo cần thiết đối với cán bộ của Ngân hàng mình. Trên cơ sở nhu cầu đào tạo, Ngân
hàng Công thương đề ra các loại hình đào tạo thích hợp cho từng vị trí công việc. Các
hình thức đào tạo gồm:
- Đào tạo tập trung: Học viên tập trung học tập tại cơ sở đào tạo ở trong nước hoặc ở
nước ngoài để hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian theo quy định của cơ sở
đào tạo.
- Đào tạo không tập trung: Học viên tập trung về cơ sở đào tạo từng đợt để hoàn thành
từng phần của chương trình đào tạo. Số đợt tập trung của từng năm và thời gian mỗi đợt
do cơ sở đào tạo quyết định, tổng thời gian các đợt học đảm bảo hoàn thành chương
trình đào tạo theo quy định.
- Đào tạo từ xa, tự học có hướng dẫn của các Trường đại học tại Việt Nam.
- Bồi dưỡng kiến thức: gồm các khoá đào tạo ngắn hạn ở trong nước hoặc nước ngoài để
hoàn thiện, nâng cao và hiện đại hoá kiến thức cho cán bộ dưới hình thức tập huấn, hội
thảo, thực tập, khảo sát, các khoá ngắn hạn.
+ Đào tạo nội bộ: Khoá học do Ngân hàng Công thương hoặc do các đơn vị trong hệ
thống Ngân hàng tổ chức thực hiện, hoặc do đối tác đào tạo theo chương trình chuyển
giao công nghệ. Giáo viên là cán bộ trong hệ thống Ngân hàng được ban lãnh đạo phê
duyệt (giáo viên kiêm chức) hoặc do các đơn vị có nhu cầu đào tạo mời.
+ Đào tạo bên ngoài: Khoá học do cơ sở đào tạo hoặc các đơn vị ngoài hệ thống tổ chức.
- Về kế hoạch tổ chức đào tạo: Hàng năm Trường lên kế hoạch đào tạo trình ban lãnh đạo
Ngân hàng Công thương phê duyệt. Căn cứ kế hoạch được duyệt trường tiến hành tổ
TrịnhMaiLy – GeMBA01.M06


chức các khoá học. Ngoài ra, tuỳ thuộc vào nhu cầu đào tạo Trường sẽ tiến hành tổ
chức các khoá học bổ sung khi cần thiết.
4. Nội dung chuyên ngành đào tạo:
- Đào tạo trong kế hoạch:

thiết thực, sát với công việc đang làm. Ban lãnh đạo Ngân hàng hoặc lãnh đạo đơn vị
duyệt theo phân cấp.
-

Đào tạo cho các dự án: Đào tạo cán bộ theo các dự án do ban quản lý dự án thực hiện
dưới sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo Ngân hàng .

* Ngoài ra quy chế đào tạo còn quy định cụ thể:
-

Phân cấp quản lý và trách nhiệm của các đơn vị trong công tác đào tạo

-

Điều kiện cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng kiến thức.

-

Quyền lợi của cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng.

-

Nghĩa vụ của cán bộ được cử đi đào tạo.

-

Xử lý vi phạm.

5. Các mặt đạt được trong hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Ngân
hàng Công thương :

bên ngoài Ngân hàng Công thương thực hiện thì chỉ một số cán bộ tại hội sở chính mới
được đi học. Trong khi các chuyên ngành này thực sự cần thiết đối với rất nhiều cán bộ
tại các chi nhánh. Ví dụ: công tác đào tạo cán bộ thẩm định dự án…
- Cán bộ sau khi đi học về không có báo cáo thu hoạch để kiểm tra chất lượng khoá học
và triển khai đối với những cán bộ chưa được đi học.
- Đối tượng được cử đi học sau đại học còn hạn chế.
- Chưa chú trọng vào việc đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ.
7. Một số giải pháp để khắc phục:
- Công tác đào tạo và thực hiện các đề án sau đào tạo phải tiến hành song song.
- Phải có kế hoạch và bố trí kinh phí để cử cán bộ các chi nhánh đi tham gia các khoá học
cần thiết. Có thể phối hợp với các tổ chức ngoài Ngân hàng Công thương tổ chức các
khoá đào tạo, bồi dưỡng tới từng địa phương nơi có chi nhánh Ngân hàng Công thương
- Phải đề ra quy định cán bộ sau khi được đào tạo về phải có báo cáo thu hoạch và cán bộ
đó phải phổ biến, triển khai đến những cán bộ chưa được đi học. Có chế độ thưởng,
phạt đối với những cán bộ thực hiện tốt và những cán bộ thực hiện chưa đạt yêu cầu
hoặc không thực hiện.

TrịnhMaiLy – GeMBA01.M06


- Bổ sung thêm đối tượng để cử đi đào tạo sau đại học. Có chế tài cụ thể và rõ ràng hơn
đối với đối tượng bổ sung này. Ví dụ: Sau khi học thì phải có công hiến như thế nào đối
với Ngân hàng …
- Chú trọng hơn nữa đối với việc đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ của cán bộ Ngân
hàng Công thương bằng cách dành thêm kinh phí đào tạo hàng năm, bắt buộc các đơn
vị trong Ngân hàng tự tổ chức các khoá học. Kết quả và ý thức học tập được tính vào
mức độ hoàn thành công việc để căn cứ xếp lương, thưởng…
- Thường xuyên tổ chức khảo sát về nhu cầu đào tạo đối với toàn thể cán bộ Ngân hàng
8. Kết luận
Qua phân tích, đánh giá hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status