Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
A- Đặt vấn đề.
I- Lời mở đầu .
Được đi học là một niềm hạnh phúc lớn của mỗi người. Trong suốt quãng
đời đi học, mỗi bài học đều để lại những dấu ấn sâu đậm và mãi mãi không bao
giờ quên đó là những năm tháng học trong trường Tiểu học vì đây là bậc học có
ý nghĩa nhân văn sâu xa, không chỉ dạy những kiến thức cơ bản mà còn dạy các
em học làm người .Trẻ em như tờ giấy trắng viết, vẽ lên đó những gì phần lớn
phụ thuộc vào nhà trường chính vì vậy giáo dục Tiểu học có vai trò quyết định
đến việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Trẻ em không được cắp sách
đến trường là một thiệt thòi lớn mà bản thân các em phải gánh chịu thêm vào đó
là gánh nặng của xã hội . Trẻ không được học hành đồng nghĩa với sự cam chịu
yếu kém, đói nghèo, không có việc làm và nhiều thách thức khác, chính vì sự cần
thiết của một xã hội công bằng, không phân biệt tôn giáo, vùng miền không phân
biệt giàu nghèo mà Đảng và nhà nước đã tạo điều kiện tốt nhất để mọi trẻ em
được đến trường. Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã đi vào
cuộc sống của nhân dân nói chung và giáo dục nói riêng (đặc biệt là đối với bậc
tiểu học). Ngay sau khi giành được độc lập (2/9/1945) đến ngày 8/9/1945 bác Hồ
đã ra lời kêu gọi “Chống nạn thất học”. Như vậy có thể thấy giáo dục nói chung
và giáo dục Tiểu học nói riêng luôn được Đảng và nhà nước hết sức quan tâm và
là một chính sách lớn của quốc gia để tiến tới một xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
Năm 1991 Chính phủ đã ban hành “Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học”, luật
ghi rõ “Nhà nước thực hiện chính sách phổ cập giáo dục Tiểu học bắt buộc từ
lớp 1 đến lớp 5 đối với trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi”. Chế độ
giáo dục bắt buộc này vừa đảm bảo quyền lợi cơ bản của trẻ là được học tập và
phát triển vừa tạo điều kiện để nâng cao dân trí, làm cho cuộc sống của mỗi
người, mỗi gia đình ngày càng văn minh hạnh phúc. Bên cạnh những sự ưu đãi
đặc biệt cho bậc Tiểu học Đảng và Nhà nước còn thường xuyên quan tâm đến
giáo dục của những vùng khó khăn và trẻ em gặp khó khăn trong học tập . Điều
nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự
phát triển kinh tế xã hội nhưng thực tế cho thấy để thực hiện được mục tiêu này
là cả một quá trình khó khăn vất vả cả về nguồn nhân lực và vật lực bởi phổ cập
kiến thức phổ thông không phải là điều dễ làm, dễ hiểu, dễ tiếp thu đối với mọi
người nó đòi hỏi phải có sự tham gia đồng bộ, sự kết hợp chặt chẽ của tất cả mọi
tầng lớp, mọi ngành nghề và mọi cơ quan chức năng trong xã hội thì mới thu
được kết quả cao. Năm 2000 cả nước đã đạt chuẩn PCGDTH và hiện nay đang
chuyển sang nhiệm vụ củng cố và nâng cao thành quả PCGDTH trên cả nước
tiến tới đạt chuẩn PCGDTH và PCGDTH ĐĐT ở mức độ 1 và mức độ 2.
Trong những năm qua để nâng cao chất lượng PCGDTH chính phủ đã tập
trung chỉ đạo chống mù chữ và tái mù chữ củng cố kết quả PCGDTH ở các tỉnh
khó khăn, tuy nhiên công tác này vẫn còn nhiều yếu kém và bất cập đó là : Tỉ lệ
người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 35 theo thống kê mới đạt tỉ lệ 96% sẽ
phấn đấu đạt 98 % vào năm 2012 và giảm 50% tỉ lệ số người mù chữ trong độ
tuổi 15 đến 35 ở các dân tộc thiểu số, mở rộng diện chống mù, tái mù chữ cho
các khu vực miền núi phía Bắc, đồng bằng Sông Cửu Long, Tây Nguyên và ven
biển Nam Trung Bộ trong độ tuổi này.
Đối với địa bàn huyện Nông Cống nói chung trong những năm gần đây
công tác PCGDTH cũng có nhiều khởi sắc tỉ lệ học sinh bỏ học, học sinh lưu ban
giảm rõ rệt. Tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học tăng cao. Tính đến
thời điểm tháng 12 năm 2010 cả huyện có 24 trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia
trong đó có 23 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 và 1 trường đạt chuẩn ở mức
độ 2 (trường Tiểu học Hoàng Giang), một số trường đang trong giai đoạn hoàn
tất hồ sơ để được công nhận trường chuẩn mức độ 1 . Bên cạnh đó một số trường
chưa nhận thức được công tác PCGDTH và PCGDTH ĐĐT là một nhiệm vụ
cần thiết và phải tiến hành trong thời gian lâu dài, liên tục nên sau khi được công
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống
2
4
5
6
7
8
Tổng
753
531
668
630
475
639
845
401
4.94
2
Số người biết chữ trong độ tuổi
Từ 15- 25 Từ 26- 35
TS Nữ TS Nữ
241 117 111 44
164 78 102 45
196 110 120 57
177 87
71
33
107 55
79
35
1
1
1
1
2 1
2 2
3
1
3 2
1
1 1
3
1
2
1
1
1
1 1
3
10 4 13 8
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống
3
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
3- Đặc điểm tình hình của nhà trường :
Trường Tiểu học Tân Phúc được tách ra khỏi trường Cấp 1-2 Tân Phúc từ
năm 1993. Trong nhiều năm qua nhà trường đã liên tục đạt danh hiệu trường tiên
TB
Yếu
Khối lớp
1
2
3
4
5
Tổng
2
4
3
3
3
15
2
3
3
3
2
13
3
2
1
6
= 40%
+ Mặt mạnh :
Về trình độ đào tạo của giáo viên trong nhà trường cơ bản đã được đào tạo
chuẩn và trên chuẩn, về trình độ chuyên môn tỷ lệ giáo viên đạt loại giỏi và khá
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống
4
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
là 93.3 % đây là một tỷ lệ khá cao do vậy chất lượng giờ dạy đã được nâng lên rõ
rệt so với các năm học trước. Phần lớn các giáo viên đã có kinh nghiệm trong
công tác giảng dạy. Tập thể giáo viên trong nhà trường thống nhất, đoàn kết cùng
giúp nhau thực hiện tốt các công việc được giao, nội bộ Ban giám hiệu đoàn kết
nhất trí cùng hỗ trợ nhau trong quá trình làm việc.
+ Mặt yếu :
Nhà trường không có giáo viên bộ môn đặc thù nên giáo viên rất vất vả
trong công tác soạn bài một giáo viên trong một đêm phải soạn nhiều giáo án lại
thêm công tác chủ nhiệm lớp nên mất rất nhiều thời gian dẫn đến việc đầu tư vào
bài giảng có phần hạn chế . Mặt khác số giáo viên là người địa phương quá ít
(chỉ có 1 đồng chí) còn lại là giáo viên các xã lân cận đi dạy với quãng đường
khá xa mất nhiều thời gian đi lại, ảnh hưởng đến sức khoẻ và thời gian học tập,
công tác từ đó ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học trong nhà trường.
b- Về học sinh :
- Số liệu học sinh biên chế theo từng khối lớp năm học 2010 - 2011:
Khối Số lớp Số HS Nữ
1
2
3
0
Số HS
Học sinh học 10b/
Khuyết tật
tuần
4
66
1
63
2
51
2
68
1
63
10
311
Tỉ lệ đạt Ghi chú
100%
100%
100%
100%
100%
100%
- Số liệu học sinh trong thôn theo từng khối lớp năm học 2010- 2011:
Thôn Thôn
Khối
40
Thôn
4
5
6
5
10
8
34
Thôn
5
8
8
14
4
11
45
Thôn
6
16
18
2
9
11
56
Thôn
3
4
5
65
53
67
63
76
63
2
13
9
40
1
53
0
10
15
26
2
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Ghi
chú
* Nhận xét : + Mặt mạnh :
100 % số học sinh trong toàn trường được học 2 buổi / ngày, 10 buổi/ tuần.
Kết quả học tập của học sinh thông qua bảng báo cáo số liệu 2 mặt giáo
dục cuối năm học 2009- 2010 là một kết quả đáng phấn khởi vì kết quả học tập
của các em khá cao đặc biệt là môn Tiếng Việt từ khối 2 đến khối 5 không có học
sinh yếu, tỷ lệ học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình Tiểu học là 100%. Tỷ
lệ học sinh giỏi trường và giỏi huyện cũng rất cao (4/6 học sinh dự thi đạt học
sinh giỏi huyện).
+ Mặt yếu :
Số lớp được biên chế trong năm học là phù hợp với qui định của bộ giáo
dục, bình quân 31 học sinh / lớp nhưng so với học sinh tiểu học thì sĩ số 1 lớp
học như thế là khá cao. Đây là yếu tố khó khăn cho công tác giảng dạy và giáo
dục bởi vì số học sinh/ lớp càng thấp hiệu quả giáo dục càng cao và ngược lại số
học sinh/ lớp càng cao thì hiệu quả giáo dục sẽ bị hạn chế nhất là những vùng
nông thôn có mức thu nhập bình quân trên đầu người thấp như xã Tân Phúc thì
lại càng vất vả, trong khi đó tỷ lệ học sinh khuyết tật lại rất cao năm học 20102011 nhà trường có 10 học sinh khuyết tật từ khối 1 đến khối 5 (10 học sinh
khuyết tật = 50 học sinh bình thường). Mặt khác một số bộ phận nhân dân còn
nhận thức chậm về trách nhiệm đối với công tác PCGDTH cũng như PCGDTH
ĐĐT. Một số không ít gia đình học sinh chưa thực sự quan tâm đến việc tập của
con em mình. Ngoài giờ học các em còn phải lao động phụ giúp gia đình nên
không giành được thời gian học thêm ở nhà. Có những gia đình vợ chồng đi làm
ăn xa về quê hoặc vì lí do nào đó chưa làm giấy khai sinh cho trẻ, có những gia
phương đã tạo điều kiện giúp đỡ để nhà trường đạt danh hiệu trường tiên tiên cấp
huyện trong nhiều năm qua và phấn đấu đạt trường chuẩn quốc gia vào năm
2011.
Khi tiến hành công tác PCGD các văn bản pháp qui, qui phạm của nhà
nước luôn được nhà trường cập nhật đầy đủ tạo hành lang pháp lí cho nhà trường
thực hiện nhiệm vụ PCGD. Nhà trường đã tạo được niềm tin cho các cấp Uỷ
đảng và nhân dân xứng đáng là chỗ dựa tin cậy cho bà con nhân dân khi có con
cháu học tập ở nhà trường và nhà trường xứng đáng là cái nôi “giáo dục” ở địa
phương trong sự nghiệp “Trồng người”.
Phát huy những kết quả đã đạt được trong công tác phổ cập ở năm học
2009- 2010 nhà trường tiếp tục cũng cố và giữ vững thành quả PCGDTH cũng
như PCGDTH ĐĐT trong năm học 2010- 2011 và các năm học tiếp theo. Ngay
từ đầu năm học Hiệu phó chuyên môn được phân công phụ trách công tác phổ
cập đã xây dựng kế hoạch “Chỉ đạo công tác phổ cập” trong năm học một cách
cụ thể, chi tiết. Phân công nhiệm vụ và giao trách nhiệm rõ ràng cho các tổ chức,
đoàn thể và từng thành viên trong hội đồng giáo dục nhà trường như :
- Kế hoạch hoạt động công tác phổ cập năm học.
- Kế hoạch hoạt động công tác phổ cập từng tháng, từng kỳ .
- Kế hoạch kiểm tra công tác phổ cập từng tháng, từng kỳ.
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống
7
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
Do điều kiện hoàn cảnh thực tế của nhà trường còn thiếu thốn và nhiều
yếu tố ảnh hưởng khác vì vậy trong quá trình chỉ đạo và thực hiện gặp rất nhiều
khó khăn, vướng mắc dẫn đến kết quả thực hiện chưa cao.
B- Giải quyết vấn đề .
- Tổ chức động viên cán bộ giáo viên tích cực bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,
nắm vững chương trình, nội dung của cấp học, tích cực đổi mới phương pháp
dạy học. Tăng cường công tác viết sáng kiến kinh nghiệm và làm đồ dùng dạy
học.
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống
8
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
- Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác PCGDTH
và PCGDTH ĐĐT sâu rộng trong đội ngũ cán bộ giáo viên, các cấp Uỷ đảng và
toàn thể nhân dân hiểu để từ đó mọi người thấy rõ trách nhiệm của mình trong
việc thực hiện công tác PCGD ở nhà trường Tiểu học.
- Làm tốt công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nâng chất lượng mũi nhọn, phụ đạo
học sinh yếu kém, giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn để nâng cao chất
lượng đại trà.
- Thường xuyên điều tra theo dõi, bổ sung số liệu biến động trong từng độ tuổi
phải phổ cập. Xây dựng bộ hồ sơ phổ cập đầy đủ, đúng qui định, chính xác và
được cập nhật thường xuyên.
- Phối kết hợp tốt mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội để làm tốt
công tác PCGDTH và PCGDTH ĐĐT. Tổ chức tốt các hoạt động của hội cha mẹ
học sinh trong nhà trường nhằm giúp đỡ, đôn đốc các bậc phụ huynh trong thôn,
xã thực hiện tốt công tác PCGDTH.
- Huy động tất cả mọi lực lượng như : Hội cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn
thể, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội hỗ trợ tài chính để xây dựng cơ sở vật
chất cho nhà trường hoạt động.
- Tổ chức các lớp học như :
+ Mở lớp học hoà nhập cho trẻ khuyết tật ( nếu số lượng trẻ khuyết tật quá
phía nhà trường. Đây là khâu hết sức quan trọng, nếu chủ trương được làm rõ
hơn, tường tận hơn thì khi bắt tay vào áp dụng sẽ nhiều mặt thuận lợi hơn. Khi
mà các cấp Uỷ đảng, Chính quyền đã hiểu được mục đích ý nghĩa của chủ
trương thì sẽ nhận được sự ủng hộ cao thực hiện sẽ mang lại hiệu quả.
Nhà trường tích cực tuyên truyền sâu rộng về chủ trương về
PCGDTHĐĐT cho nhân dân biết rõ và nắm chắc và cần cập nhật đầy đủ các chủ
trương giáo dục cũng như về công tác phổ cập GDTĐĐT cho nhân dân biết,
thông qua các phương tiện truyền thanh của xã, thôn hoặc thông qua các buổi
họp phụ huynh, họp thôn…Sau khi đã nắm được đường lối, chủ trương thì nhân
dân sẵn sàng chấp hành và thực hiện theo yêu cầu. Cũng cần phải đề cập đến là
khi có chủ trương về PCGDTHĐĐT nhà trường cần báo cáo với các cấp Uỷ
đảng, chính quyền,các đoàn thể để họ nắm rõ. Khi lãnh đạo địa phương đã nhận
thức được tầm quan trọng của công tác PCGDTHĐĐT thì sẽ dễ dàng cho nhà
trường tiến hành nhiệm vụ.
Bên cạnh tăng cường nhận thức cho các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền,
đoàn thể nhân dân , cũng không thể coi nhẹ việc giác ngộ, nâng cao nhận thức
cho giáo viên học sinh. Người quản lý phải thực sự là người thấu hiểu mục tiêu
của công tác PCGDTHĐĐT, từ đó tuyên truyền cho đội ngũ giáo viên. Cách
tuyên truyền có thể tổ chức từng buổi riêng, hoặc thông qua các buổi họp hội
đồng, họp chuyên môn để lồng ghép nội dung tuyên truyền. Tổ chức các cuộc thi
tìm hiểu về Luật PCGDTH và những quy định, những tiêu chuẩn về kiểm tra,
đánh giá, công nhận cá nhân đơn vị hoàn thành PCGDTHĐĐT theo thông tư
36/2009/TT- BGDĐT ra ngày 4/12/2009 của bộ Giáo dục và Đào tạo. Cuối năm
học tổ chức cho giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm về thực hiện công tác
PCGDTHĐĐT. Nhà trường cần tham mưu với ban chỉ đạo khen thưởng cho cá
nhân, đoàn thể tổ chức vận động tuyên truyền đạt thành tích cao trong công tác
PCGDTHĐĐT.
2- Điều tra nắm chắc số lượng trẻ em trong độ tuổi phổ cập, xây dựng chỉ tiêu
PCGDTHĐĐT cho từng độ tuổi.
Điều tra số lượng trẻ trong độ tuổi phổ cập là khâu hết sức quan trọng.
nắm chắc số trẻ và cập nhật đầy đủ nên việc huy động trẻ ra lớp khá thuận lợi.
Nhà trường chủ đạo phối hợp với Trường Mầm non của xã thực hiện tốt kế
hoạch bàn giao trẻ vào lớp trong mỗi năm học. Công việc bàn giao này được
thực hiện trong thời gian từ 1/7 đến 15/ 7 hàng năm. Trước khi nắm chắc số trẻ
đã vào học mẫu giáo, nhà trường tiến hành rà soát lại số trẻ đó có khớp với tổng
số trẻ trong sổ phổ cập không ? Trong thực tế địa phương cho đến nay vẫn còn
có một vài gia đình không cho con đi học mẫu giáo (trước khi con vào lớp 1) với
nhiều những lí do khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là lí do đóng học phí. Trường
hợp nào chưa ra lớp mẫu giáo thì giáo viên nào phụ trách điều tra viên thôn đó
có trách nhiệm đến tận hộ gia đình để vận động gia đình đưa trẻ đến trường vào
ngày toàn dân đưa trẻ đến trường.
Phối hợp chặt chẽ với ban văn hoá xã tổ chức cho giáo viên, học sinh
toàn trường tuyên truyền, cổ động trên toàn xã về ngày toàn dân đưa trẻ đến
trường. Cắt dán băng rôn, khẩu hiệu, loa đài, phát thanh trên phạm vi toàn xã để
nhân dân nắm bắt và đưa trẻ đến trường đúng ngày, giờ qui định. Tổ chức long
trọng buổi lễ đón tiếp các em học sinh mới tạo ấn tượng sâu sắc trong các em
thể hiện được sự chia sẻ ân cần, tránh không để các em phải sợ hãi.
Sau khi vào học ổn định nhà trường bàn giao chỉ tiêu duy trì sĩ số học sinh
cho giáo viên chủ nhiệm các lớp. Đến hết năm học các lớp đều phải duy trì đầy
đủ số lượng học sinh như đã bàn giao ở đầu năm. Để thực hiện tốt việc duy trì sĩ
số, giáo viên chủ nhiệm các lớp cần thường xuyên cập nhật sĩ số học sinh đi học
hằng ngày thông qua sổ theo dõi học sinh. Nhà trường phối hợp với Ban đại diện
cha mẹ học sinh, Mặt trận tổ quốc xã, thường xuyên trao đổi thông tin về sự
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống
11
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
hiện chương trình. Song song với công tác tự học, tự bồi dưỡng năng lực chuyên
môn nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên có điều kiện tiếp cận thông tin mới
đặc biệt là chương trình áp dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy. Ngoài
ra mỗi giáo viên phải luôn luôn tự học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ của bản thân.
Phối hợp với Công đoàn nhà trường để xây dựng bầu không khí sư phạm,
đoàn kết, thân ái trong nhà trường. Coi nhà trường là ngôi nhà chung của tập thể
sư phạm thật sự là một “Tổ ấm tình thương”, thực hiện được như vậy mới phát
huy hết khả năng của đội ngũ giáo viên. Tổ chức phát động thi đua theo chủ
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống
12
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
điểm để nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ giáo viên trong dạy và học.
Thực hiện khoán chất lượng, số lượng cho từng giáo viên (thông qua kết quả
khảo sát thực tế đầu năm học của học sinh). Từ đó định ra mặt bằng về kiến thức
của từng khối lớp và đây chính là cơ sở chính để giao khoán chất lượng cho từng
giáo viên trong từng năm học.
Khuyến khích giáo viên đặt mua các tờ báo của ngành như báo giáo dục
thời đại, các tập san như : Văn học tuổi trẻ, Toán tuổi thơ, chăm học .v.v phục vụ
công tác nghiên cứu, học hỏi, tìm hiểu để nâng cao chất lượng giảng dạy. Nhà
trường thành lập thư viện với yêu cầu có nhiều đầu sách đặc biệt là các loại sách
tham khảo để giáo viên có điều kiện tiếp cận về kiến thức và các PPDH hay. Tổ
chức các chuyên đề giải toán khó, rèn cảm thụ văn học để giáo viên trao đổi kinh
nghiệm nhằm tạo điều kiện cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Xây dựng
những giáo án mẫu cho nhà trường đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm nhà
trường, đối tượng học sinh. Khuyến khích những giáo viên nhiệt tình, có nhiều
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
6- Tự kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện PCGDTHĐĐT.
Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện công tác phổ cập giáo dục
tiểu học nói chung và PCGDTHĐĐT nói riêng ở tất cả các giáo viên. nhà trường
cần tổ chức sơ kết đánh giá rút kinh nghiệm công tác PCGDTHĐĐT. Qua kiểm
tra đánh giá góp phần cho nhà trường giải quyết được những khó khăn trong quá
trình thực hiện công tác PCGDTHĐĐT. Qua các lần kiểm tra sẽ thấy được
những việc đã làm được và cái chưa làm được để có biện pháp khắc phục kịp
thời.
Duy trì thường xuyên đều đặn kết quả PCGDTHĐĐT. Nâng cao dần tỷ lệ
PCGDTHĐĐT năm sau luôn cao hơn năm trước và tiến tới duy trì ổn định.
Trong kiểm tra nhà trường cần chú trọng đến kiểm tra định kì, kiểm tra đột
xuất trong việc thực hiện công tác PCGDTH. Đặc biệt là kiểm tra việc ghi chép
hồ sơ, công tác tuyển sinh, kế hoạch dạy học, chất lượng học tập của học sinh ở
từng lớp .
c- Kết luận.
I- Kết quả nghiên cứu :
Trước những yêu cầu cấp bách của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước mọi người cần phải trang bị cho bản thân mình một hành trang kiến
thức để phục vụ bản thân, phục vụ gia đình và xã hội. Đó là những yêu cầu mà
mỗi một công dân phải chịu trách nhiệm thực hiện. Học để có kiến thức cho bản
thân và cho xã hội vững vàng đi theo con đường mà Đảng ta đã lựa chọn. Thực
tế đó đã được chứng minh rõ ràng ở những năm gần đây, khi đất nước bước vào
con đường đổi mới, nhu cầu học tập của nhân dân ngày một cao. Nghị quyết
TW2 khoá 8 đã mở ra cho nhân dân nhiều cơ hội về học tập và giáo dục bắt đầu
chuyển mình. Không nằm ngoài những sự chuyển mình đó trường Tiểu học Tân
Phúc đã vươn lên vượt mọi khó khăn vất vả để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ
được giao trở thành một điểm sáng của ngành giáo dục Nông Cống.
Sau một thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài vào thực tiễn trong quá
Sĩ số HS
đầu năm
66
63
51
68
63
311
1
2
3
4
5
Tổng
Sĩ số HS
cuối HK1
66
63
51
68
63
311
Sĩ số HS
cuối năm
65
63
51
TL
SL
1
2
3
4
5
Tổng toàn
trường
66
63
51
68
63
311
12
12
TL
15.2% 12.7% 17.6% 11.8% 15.9%
14.5%
*Kết quả xếp loại 2 mặt Văn hoá và Hạnh kiểm cuối học kì 1 năm học 20102011là :
Khối
Văn hoá
Giỏi
12
15
15
14
11
67
1
2
3
4
5
Tổng
Toán
Khá TB
13
40
18
42
16
38
13
29
22
35
28
28
94
172
Yếu Đủ Chưađủ
2
65
1
1
62
0
1
50
1
1
67
1
1
63
0
8 308
3
52 29
2
49
3 46
2001 9
68 34
1
65
3
62
2000 10
71 33
2
65
5
60
1999 11
79 37
2
70
1
69
1998 12
55 27
1
54
54
1997 13
86 45
1
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
Từ một nhà trường với điều kiện kinh tế còn nhiều thiếu thốn nhưng với
mục tiêu “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” cộng vào đó là sự nhận thức đúng
đắn của các cấp Uỷ đảng, Chính quyền và nhân dân địa phương đã làm nên
thành công của công tác PCGDTH và PCGDTHĐĐT . Để đạt được thành công
ấy không thể không kể đến vai trò chủ chốt của nhà trường đó là sự đoàn kết,
đồng tâm hợp lực vượt lên khó khăn của tập thể cán bộ giáo viên trong nhà
trường để hoàn thành tốt nhiệm vụ của ngành giao phó.
Bản thân tôi khi trực tiếp nghiên cứu quá trình thực hiện công tác
PCGDTH và PCGDTHĐĐT đã phải tìm hiểu kĩ càng mọi sự cố gắng và từng
bước thực hiện của tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trường, nắm bắt ghi chép
đầy đủ các số liệu một cách chính xác, chỉ đạo các biện pháp thực hiện đã đề ra
một cách tối ưu, tạo lập được một quy trình khép kín. Từ biện pháp đầu tiên cho
đến biện pháp cuối cùng đã làm nổi bật lên các bước thực hiện công tác
PCGDTH nói chung và PCGDTHĐĐT nói riêng trong nhà trường mang lại hiệu
quả cao trong giáo dục. Đến đây đề tài của tôi đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà
đề tài đã đặt ra. Hy vọng những lần nghiên cứu tiếp theo đề tài sẽ phát triển sâu
hơn và cao hơn.
II- Để thực hiện tốt công tác PCGDTH nói chung và PCGDTHĐĐT nói riêng
tôi xin có một số đề xuất và kiến nghị sau :
+ Đối với phòng và sở giáo dục : Cần tăng cường kiểm tra công tác PCGDTH và
PCGDTHĐĐT phổ cập giáo dục đúng độ tuổi ở các nhà trường. Nắm bắt tình
hình công tác phổ cập giáo dục ở các trường tiểu học thường xuyên liên tục.
- Hỗ trợ nhà trường kinh phí để mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác dạy và
học.
- Bố trí đủ lượng giáo viên đứng lớp, đặc biệt là giáo viên đặc thù và giáo viên
thiết bị thư viện.
+ Chính quyền xã tăng cường đầu tư ngân sách bổ sung thêm cơ sở vật chất. Hỗ
trợ và tạo điều kiện về mọi mặt để nhà trường thực hiện tốt công tác