Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn q bình thạnh, TP hồ chí minh - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TRẦN TRỌNG SỸ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG
TIẾP CẬN CÁC NGUỒN VỐN VAY ĐỂ PHÁT TRIỂN
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN Q. BÌNH THẠNH,
TP. HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đồng Nai, 2012


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
- Vốn đối với một Doanh nghiệp (DN) là quyết định sự thành bại và phát triển
của DN đó. Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) rất khó tiếp cận những nguồn
vốn vay, nhất là từ các tổ chức tín dụng (TCTD). DNNVV muốn phát triển sản xuất
kinh doanh (SXKD) thì không thể tự mình đáp ứng được tất cả nhu cầu về vốn kinh
doanh mà cần phải có nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài DN, do đó DNNVV rất cần hỗ
trợ nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng.
- Theo hiệp hội DNNVV, cùng nghiên cứu của phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI) thì “Chỉ có khoảng 30% DNNVV tiếp cận được vốn vay từ

vốn vay đến việc phát triển SXKD của DNNVV.
- Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng của vốn vay đối với việc phát
triển SXKD của DNNVV tác giả đề tài đưa ra một số gợi ý về giải pháp nâng cao
khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của DNNVV trên địa bàn
Quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về ảnh hưởng của nguồn vốn vay với phát triển SXKD của các
DNNVV.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.2.1. Phạm vi về nội dung
- Lý luận chung về DNNVV, vai trò của nguồn vốn vay đối với sự phát triển
SXKD của DNNVV.
- Đánh giá thực trạng hoạt động SXKD của các DNNVV và khả năng tiếp cận
nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn quận Bình Thạnh, để
tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn vay để phát triển
hoạt động SXKD của các DNNVV.
- Đưa ra một số gợi ý về giải pháp giúp cho DNNVV dễ dàng tiếp cận nguồn
vốn vay từ các TCTD và các TCTD cũng hiểu rõ hơn những khó khăn của DNNVV


3

trong việc tiếp cận nguồn vốn cho vay từ các TCTD để phát triển SXKD của các
DNNVV.
3.2.2. Phạm vi về không gian
- Địa bàn nghiên cứu là một số DNNVV kinh doanh các ngành nghề trên địa
bàn Quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh. Đề tài nghiên cứu một số DNNVV hoạt
động các lĩnh vực theo phương pháp xác suất ngẫu nhiên tại một số DNVVV trên
địa bàn Quận để thực hiện việc khảo sát nghiên cứu.

DNNVV.
- Từ những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn vay từ các
TCTD của các DNNVV. Đề tài đề xuất Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng
tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DNNVV trên địa bàn Quận
Bình Thạnh, Tp.HCM.


5

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV)
1.1.1. Khái niệm về DNNVV và Nguồn vốn vay với phát triển SXKD của
DNNVV.
1.1.1.1. Khái niệm về DNNVV
DNNVV là một khái niệm mà các quốc gia trên thế giới có những tiêu chí
đánh giá khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế cụ thể của mỗi nước. Tuỳ vào
giai đoạn phát triển kinh tế (PTKT) xã hội của từng thời kỳ, từng giai đoạn mà các
nước có những tiêu chí khác nhau về khái niệm DNNVV.
Ngân hàng thế giới ( WB) đánh giá những DN có quy mô nhỏ về nguồn vốn,
về lao động và về doanh thu đó là những DNNVV. Như vậy so sánh về quy mô thì
DNVVV được chia ra thành ba loại, đó là: DN siêu nhỏ, DN nhỏ, DN vừa. Về lao
động làm việc trong DN thì những DN có số lao động làm việc từ 10 lao động trở
xuống là DN siêu nhỏ, DN có số lao động từ trên 10 người đến 50 người là DN nhỏ,
DN có số lao động trên 50 đến 300 lao động là DN vừa.
Đầ u của thế kỹ 21 Khối liên minh Châu Âu ( EU) đã xem những DN có trên
10 đế n 250 lao động là DNNVV. Ngày nay Khối liên minh Châu Âu phân loại
DNVVV theo các tiêu chí sau đây:
Bảng 1.1: Phân loại các DDNVV của khối EU


43

“Nguồn : European Recommendation 0f 06 may, 2003”
Theo như Bộ Kinh tế, Tài chính và Công nghiệp Cộng Hoà Pháp (MEF) thì
“Không tồn tại một định nghĩa thống nhất về DNNVV. Các tiêu chí được áp dụng


6

khác nhau tuỳ thuộc vào các văn bản pháp quy liên quan đến chính sách hỗ trợ
DNNVV của các nước”.
Luật cơ bản về DNNVV của Nhật Bản ban hành ngày 03/12/1999 thì tiêu chí
để xác định DNNVV là:
Bảng 1.2. Tiêu chuẩn DNNVV của Nhật bản
Lĩnh vực

Số lao động tối đa ( người)

Số vốn tối đa ( triệu Yên)

Sản xuất

300

300

Bán buôn

100


bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:


7

Bảng 1.3: Phân loại các DDNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP
Quy mô

Khu vực

DN siêu
nhỏ
Số lao
động

DN nhỏ
Tổng
nguồn
vốn

Số lao
động

DN vừa
Tổng
nguồn
vốn

Số lao động

đồng trở
và xây dựng
trở xuống
đến 200
xuống
người

từ trên 20
từ trên 200
tỷ đồng
người đến
đến 100
300 người
tỷ đồng

từ trên 10
10
tỷ
III. Thương mại 10
người
người
đồng trở
và dịch vụ
trở xuống
đến 50
xuống
người

từ trên 10
từ trên 50

vay. Nhờ có nguồn vốn vay từ các TCTD nên DN không phải gặp khó khăn lớn
trong giai đoạn thiếu vốn để tránh việc phải dừng SXKD hoặc phá sản.
1.1.1.3 Khái niê ̣m về tín dụng: Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng
là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái
kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã
nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là
đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực
hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau, tín dụng đã chuyển
sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ.
Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn
tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính
cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt
động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay
gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là
người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ
chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả, Thực chất, tín dụng là
biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng
nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời
sống, theo nguyên tắc hoàn trả.
1.1.1.4 Đặc điểm, vai trò của tín dụng

a. Đặc điểm của tín dụng: Phân phối của tín dụng mang tính hoàn trả, Hoạt
động của tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cả.
b. Vai trò của tín dụng: Tín dụng là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất
mở rộng và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, Tín dụng góp phần thúc đẩy quá


9

trình tích tụ và tập trung vốn, Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội,


10

nhu cầu tiêu dùng cho dân cư, hình thức là hàng hóa hoặc tiền tệ, Dân cư là người
vay; ngân hàng, công ty cho thuê tài chính, doanh nghiệp là người cho vay.
- Tín dụng thuê mua: Tín dụng thuê mua là quan hệ phát sinh giữa các công
ty cho thuê tài chính với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân dưới hình thức
cho thuê tài chính. Đối tượng là tài sản, Chủ thể là công ty cho thuê tài chính (người
cho thuê), và doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân (người đi thuê).
- Tín dụng quốc tế: Tín dụng quốc tế là mối quan hệ giữa các nhà nước,
giữa các cơ quan nhà nước với nhau, hoặc với ngân hàng quốc tế và các tổ chức
quốc tế, các cá nhân người nước ngoài và giữa các doanh nghiệp của các nước với
nhau.
1.1.2. Đặc điểm và Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân
1.1.2.1 Đặc điểm của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân
* Về các điểm mạnh
- DNNVV dễ khởi sự. Hầu hết các DNNVV có số vốn ít, số lao động không
nhiều, diện tích mặt bằng không lớn, các điều kiện làm việc giản đơn đã có thể bắt
đầu kinh doanh (KD) ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh.
- Tính linh hoạt cao. Vì hoạt động với quy mô nhỏ cho nên hầu hết các
DNNVV đều rất năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị
trường. Trong một số trường hợp các DNNVV còn năng động trong việc đón đầu
nhiều biến động đột ngột các thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội, hay các dao
động đột biến trên thị trường.
- Có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống.
- DNNVV có lợi thể về sử dụng lao động: Quan hệ lao động trong các
DNNVV thường có tính chất thân thiện, gần gủi hơn so với các DN lớn. Do đó
người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích hơn trong
công việc.
* Về các điểm yếu: Bên cạnh các điểm mạnh được thì các DNNVV còn có

một cách hiệu quả hơn như làm đại lý và vệ tinh cho các DN lớn, cung cấp những
bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho DN lớn hoặc thâm nhập vào mọi ngõ
ngách thị trường mà DN lớn khó có thể với tới để phân phối các SP của DN lớn.
Bên cạnh đó, khi số DNNVV tăng lên sẽ kéo theo sự gia tăng nhanh chóng số lượng


12

các SP và dịch vụ mới trong nền kinh tế.. Chính sự phát triển của các DNNVV đã
làm tăng tính cạnh tranh, tính linh hoạt và giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế.
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phát triển các DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất
cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Trước tiên, đó
là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng, nhờ sự phát triển của các khu vực nông thôn
thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Các
DN được phân bổ đều hơn về lãnh thỗ ở các vùng nông thôn, đô thị, miền núi, đồng
bằng. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh các DNNVV còn có tác dụng làm cho cơ cấu
thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng mạnh của các cơ sở kinh tế ngoài quốc
doanh và việc sắp xếp lại các DN nhà nước. Sự phát triển các DNNVV cũng kéo
theo sự thấy đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề
và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo. Việc phát triển các DNNVV còn có tác dụng
duy trì và thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các
SP mang bản sắc văn hóa dân tộc, khai thác thế mạnh của đất nước.
- Góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế
Các DNNVV hình thành và phát triển trong những ngành nghề khác nhau luôn
có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với các DN lớn. Nhiều DN
nhỏ khi mới ra đời chỉ nhằm mục đích làm vệ tinh cung cấp các SP cho các DN
lớn. Mối quan hệ giữa DNNVV và các DN lớn cũng chính là nguyên nhân thành
công của nền kinh tế Nhật Bản trong nhiều thập kỹ qua. Do đó, khi các DNNVV
Việt Nam phát triển sẽ góp phần tăng cường các môi quan hệ liên kết hỗ trợ lẫn

Việt Nam là một nước nông nghiệp, năng suất của nền sản xuất xã hội cũng
như thu nhập của dân cư thấp. Việc phát triển các DNNVV ở thành thị cũng như ở
nông thôn là một trong các biện pháp cơ bản góp phân tăng nhanh thu nhập của các
tầng lớp dân cư. Thông qua việc phát triển các DNNVV, lao động ở nông thôn sẽ
được thu hút vào các DN nhỏ thu nhập của dân cư được đa dạng hóa và nâng cao.
Cuộc sống của người dân nông thôn sẽ ổn định hơn và mức sống của dân cư sẽ
được nâng cao góp phần xóa đói, giảm khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp
dân cư và tăng mức độ công bằng trong nền kinh tế.
-

Tạo điều kiện phát triển các tài năng kinh doanh


14

Ngoài các vai trò như đã nói ở trên, các DNNVV Việt Nam còn có vai trò
trong việc phát triển các tài năng kinh doanh. Sự ra đời của các DNNVV làm xuất
hiện rất nhiều tài năng trong kinh doanh, đó là các doanh nhân thành đạt biết cách
làm giàu cho bản thân mình và xã hội.
1.1.2.3 Vai trò của các tổ chức tín dụng (TCTD) đến sự phát triển SXKD
(PTSXKD) của các DNNVV
Các TCTD đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. TCTD
là một định chế tài chính trung gian, trong quan hệ cung cấp tín dụng cho DN thì
TCTD là tổ chức đi vay và cho vay. Thông qua hệ thống tín dụng, mà ngành ngân
hàng là chủ đạo đã làm cho những nguồn vốn nhỏ lẽ từ trong dân chúng và trong
DN không có khả năng sinh lời vì chưa đem vào lưu thông, trở thành những nguồn
vốn lớn cung ứng cho các DN SXKD đang thiếu hụt nguồn vốn, từ đó tạo ra giá trị
gia tăng lớn hơn, mang lại lợi ích lớn hơn cho nền kinh tế và cho xã hội. Các TCTD
đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và phát triển đất nước.
- TCTD góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính, tạo nguồn lực tài

“Further Evidence on the Link between Finance and Growth: An
International Analysis of Community Banking and Economic Performance”
của các tác giả Allen N. Berger, Iftekhar Hasan, Leora F. Klapper. Đã nghiên cứu
số liệu của 49 nước trên thế giới trong 8 năm từ 1993-2000 đã chứng minh được
mối liên hệ của việc nâng cao năng lực tài chính cho DNNVV thông qua các tổ
chức tín dụng, đã đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế của quốc gia, như vậy để
cho DNNVV tồn tại và phát triển bền vững thì tổ chức tín dụng đóng vai trò rất
quan trọng trong việc ổn định và phát triển của DNNVV, góp phần vào tăng trưởng,
phát triển kinh tế của đất nước. Nhờ nguồn vốn vay từ các TCTD, nên các DNVVV
sẽ nâng cao hiệu quả SXKD, mở rộng SX, đối mới công nghệ, nâng cao năng lực
cạnh tranh.
Nguồn: />1.1.2.4 Thực trạng vay vốn SXKD của các DNNVV trên địa bàn Quận Bình
Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh trong năm 2011
Trong năm 2011 cũng như các loại hình DN khác, các DNNVV gặp rất nhiều
khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng. Với mức lãi
suất vay lên đến 25%, thậm chí có những lúc lên 28% đến 30%. Các DNNVV do


16

khả năng tích lũy thấp, nên các phương án đầu tư thường cũng chủ yếu dựa vào vay
tín dụng của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức. Một khi
lãi suất ở mức cao, mọi DN đều phải tính toán lại phương án SXKD của mình.
Nhưng bản chất là DNNVV, tức là quy mô vốn nhỏ, tuy cộng đồng DN này có thể
tham gia thu hút nguồn lao động đa dạng và sản xuất ra các SP và dịch vụ đa dạng,
với giá cả hợp lý, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Hơn nữa, tỷ suất lợi nhuận của
các DN ngoài nhà nước trên vốn sản xuất và doanh thu đều thấp, chỉ đạt bình quân
2-3%, so với mức 4-6% chung của cả nước. Cũng theo điều tra thống kê hằng năm
với các DN mấy năm gần đây (2006-2008), có đến 30% (2006), 28% (2007) và
26% (2008) DN nói chung và DN ngoài nhà nước bị lỗ. Vậy trong điều kiện lãi suất

hồi kinh tế từ sau giai đoạn khủng khoảng của Thái lan. Những năm đầu của thập
kỹ 60 của thế kỹ 20, Thái lan đã có những chính sách trợ giúp cho DNNVV. Văn
phòng tài chính DN nhỏ đã được thành lập từ năm 1963 và được chuyển thành Tập
đoàn Tài chính DN nhỏ. Nội dung chủ yếu các chính sách DNNVV của chính phủ
Thái lan thể hiện những ý sau:
- Cũng cố mạng lưới thể chế chuyên trách về DNNVV. Thái lan thành lập Uỷ
ban khuyến khích DNNVV( SMEPO), có chức năng độc lập, trực thuộc Chính phủ.
Nhiệm vụ của Uỷ ban là xem xét định nghĩa về DNNVV, đề xuất các chính sách,
biện pháp khuyến khích DNNVV và quản lý Quỹ phát triển DNNVV. Uỷ ban này
có trách nhiệm chuẩn bị “ Sách trắng” hàng năm về DNNVV Thái lan đệ trình lên
Thủ tướng. Quỹ Phát triển DNNVV trực thuộc SMEPO cũng được thành lập. Quỹ
này được Chính phủ cấp vốn hàng năm, được trợ giúp bởi khu vực tư nhân, các
chính phủ nước ngoài và các tổ chức quốc tế. Thái lan cũng thành lập Viện Nghiên
cứu phát triển DNNVV, cũng cố các tổ chức như Tập đoàn bảo lãnh tín dụng KD
nhỏ, Tập đoàn tài chính KD nhỏ, Hiệp hội công nghệp.
- Hoạch định kế hoạch lớn phát triển DNNVV. Kế hoạch này bao gồm 7 chiến
lược cơ bản để trợ giúp DNNVV. Mỗi chiến lược cơ bản này lại bao gồm nhiều
biện pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu của chiến lược. Chiến lược Nâng cấp
năng lực kỹ thuật và quản lý của các DNNVV; Phát triển Doanh nhân và nguồn lực
con người của các DNNVV; Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của các
DNNVV; Tăng cường hệ thống trợ giúp của các DNNVV; Cung cấp môi trường


18

KD thuận lợi hơn; Phát triển các DN siêu nhỏ và các DN cộng đồng; Phát triển các
mạng lưới và các cụm DNNVV.
- Xác định các nhóm ngành cần phải nhanh chóng phát triển mạng lưới
DNNVV. Chính phủ Thái lan đã chỉ ra 10 ngành cần phải nhanh chóng phát triển
mạng lưới DNNVV, thành 2 nhóm chính:

động vào năm 1998 nhằm mở rộng việc thuê mướn lao động ngoài nước, sửa đổi
luật Quy chế phát triển DNNVV vào năm 1999, sửa đổi Luật đất đai cho phép
DNNVV tiếp cận dễ dàng hơn với đất đai, sửa đổi các văn bản pháp lý về bảo vệ
môi trường ...
Thời gian gần đây Chính phủ Đài loan đã thành lập “Nhóm đặc trách thúc đẩy
DNNVV”. Nhóm này có chức năng rà soát các điều luật và kiến nghị sửa đổi luật
để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc hoạt động của DNNVV. Nhóm này cũng
được quyền tham gia, góp ý vàoquá trình soạn thảo mọi văn bản luật và quy định có
liên quan tới các DNNVV. Dựa trên việc tiến hành thu thập ý kiến của các chủ
DNNVV và thực hiện các báo cáo định kỳ về việc xây dựng và sửa đổi các điều luật
và các quy định của chính phủ, thuê chuyên gia đánh giá tác độngcủa các luật và
các quy định đã ban hành.
- Các biện pháp trợ giúp tài chính cho DNNVV. Những quỹ trợ giúp tài chính
cho các DNNVV gồm: Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; Quỹ bảo lãnh tương
hỗ; Quỹ Phát triển DNNVV và Tập đoàn Phát triển DNNVV.
+ Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV thành lập từ năm 1974 với sự trợ giúp
của Chính phủ và các ngân hàng lớn của Đài loan, đến năm 2002 đã có 107.049
DNNVV được nhận vốn bảo lãnh từ Quỹ này với tổng số vốn lên tới trên 60 tỷ
USD.
+ Quỹ Phát triển DNNVV được thành lập năm 1989 có số vốn khoảng 400
triệu USD nhằm cung cấp tín dụng trực tiếp cho các DNNVV, đặc biệt là cho các
DN đang đầu tư phát triển SP mới, khai thác thị trường mới, hoặc chuyển đổi công
nghệ mới.
+ Quỹ bảo lãnh tương hỗ thành lập từ tháng 6/1998 để thành lập các nhóm trợ
giúp tương hỗ và tin tưởng lẫn nhau để bảo lãnh cho các khoản vay của các DN
trong nhóm. Từ khi thành lập đến nay quỹ này hoạt động không có nhiều hiệu quả.


20



21

quỹ chung từ chính quyền trung ương và các địa phương, và được ký quỹ ở một thể
chế tài chính tư nhân.
+ Kế hoạch cho vay để cải tiến quản lý của các DN nhỏ, không đòi hỏi phải
có thế chấp hoặc bảo lãnh.
+ Hệ thống bảo lãnh tín dụng giúp bảo lãnh cho các DNNVV vay vốn tại các
thể chế tài chính tư nhân. Hiệp hội bảo lãnh có chức năng mở rộng các khoản tín
dụng bổ sung và bảo lãnh tín dụng cho DNNVV. Hệ thống này được hoạt động từ
năm 1998 đến nay được xem là, có chức năng một mạng lưới an toàn để giảm nhẹ
những rối loạn vế tín dụng và giúp DNNVV tránh bị phá sản.
- Trợ giúp về công nghệ . DNNVV có thể được hưởng các chính sách trợ giúp
cho nghiên cứu và phát triển hoặc tiến hành các hoạt động KD dựa trên công nghệ
mới. Các khoản trợ cấp, bảo lãnh vay vốn, hay đầu tư trực tiếp cho DNNVV được
tiến hành theo các quy định của Luật xúc tiến các hoạt động sáng tạo của DNNVV.
- Trợ giúp về quản lý. Viện quản lý kinh doanh nhỏ và Công nghệ thực hiện
các chương trình đào tạo cho các nhà quản lý, các chuyên gia kỹ thuật của DNNVV
và đội ngũ nhân sự của các địa phương. Việc giúp cho DNNVV tiếp cận thông tin là
một trong những ưu tiên của chính phủ. “Sách trắng” được xuất bản hàng năm chứa
đựng nhiều thông tin bổ ích cho DNNVV.
- Xúc tiến xuất khẩu: Chính phủ Nhật bản cung cấp dịch vụ hướng dẫn và
thông tin cho DNNVV nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động KD ở ngoài nước.
1.2.1.4 Kinh nghiệm từ Hoa Kỳ
- Cải cách pháp lý. Chính phủ Hoa kỳ đã có một số cải cách hợp lý quan
trọng trong thời gian gần đây để trợ giúp DN nhỏ, như nới lỏng những quy định cho
phép tham gia thị trường KD nhỏ dễ dàng hơn, các ngành như Ngân hàng, điện lực,
viển thông và triệt để thi hành Luật chống độc quyền. Chính phủ Hoa kỳ đang tiến
hành những cải cách quan trọng về chính sách an sinh xã hội và thuế khoá để tạo
điều kiện cho các DN KD nhỏ.

cơ quan ban ngành của Chính phủ ở Trung ương phối hợp chặt chẽ với các tổ chức
đại diện cho khu vực tư nhân và các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cũng như nhà
nước hỗ trợ DNNVV nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nguyên tắc cơ bản Hướng dẫn phát triển khu vực DNNVV ở Việt Nam được
tóm tắt theo (Quyế t đinh
̣ Phê duyê ̣t Kế hoa ̣ch phát triể n DNNVV 2006-2010):


23

(1) Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế: “thực hiện nhất quán chính sách
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo
pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.
(Nghị quyết 14-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng
(Khoá IX) ngày 18 tháng 03 năm 2002 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách,
khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân).
(2) Nhà nước tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính sách thuận lợi
cho DN nhỏ và vừa thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng và cạnh tranh
lành mạnh nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước kết hợp với nguồn lực từ bên
ngoài cho đầu tư phát triển.
(3) Phát triển DN nhỏ và vừa theo phương châm tích cực, vững chắc, nâng
cao chất lượng, phát triển về số lượng, đạt hiệu quả kinh tế, góp phần tạo nhiều
việc làm, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; phát triển DN nhỏ và
vừa gắn với các mục tiêu quốc gia, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội phù hợp
với điều kiện của từng vùng, từng địa phương, khuyến khích phát triển công nghiệp
nông thôn, làng nghề truyền thống; chú trọng phát triển DN nhỏ và vừa ở các vùng
sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; ưu tiên phát triển và hỗ
trợ các DN nhỏ và vừa do đồng bào dân tộc, phụ nữ, người tàn tật … làm chủ DN;
ưu tiên phát triển một số lĩnh vực có khả năng cạnh tranh cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status