Dạy học văn thuyết minh trong chương trình trung học phổ thông từ định hướng so sánh đối chiếu (tt) - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

HOÀNG THỊ TUYẾT NHUNG

DẠY HỌC VĂN THUYẾT MINH TRONG CHƢƠNG TRÌNH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ ĐỊNH HƢỚNG SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

HOÀNG THỊ TUYẾT NHUNG

DẠY HỌC VĂN THUYẾT MINH TRONG CHƢƠNG TRÌNH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ ĐỊNH HƢỚNG SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ THỜI TÂN

HÀ NỘI - 2016



dạy cần đổi mới phương pháp hiệu quả, thiết thực với học sinh.Như vậy, mới
điều hòa được những mâu thuẫn ở trên.
1.2.Thực trạng dạy học làm văn trong nhà trường phổ thông
Dạy môn văn học trong nhà trường phổ thông hiện nay đã và đang từng
bước đổi mới. Người dạy bước đầu chú trọng đến phương pháp dạy học tích hợp
trong môn Ngữ Văn trên cơ sở các mối liên hệ giữa Làm văn-Đọc văn - Tiếng
Việt; tích hợp liên môn Văn học - Lịch sử - Địa lý- Giáo dục công dân... Bên
cạnh việc hình thành kiến thức cho học sinh, giáo viên đã chú ý đến việc vận
dụng linh hoạt nhiều phương pháp dạy học nhằm phát triển tư duy và năng lực
cho người học. Tuy nhiên, đôi lúc người dạy lại quên không chú trọng đến sự
kết nối tri thức giữa các phần kiến thức làm văn mà coi như đó là một đơn vị
kiến thức độc lập, chính vì thế học sinh còn lúng túng khi áp dụng những kiến
thức đã học vào thực tế. Người học chỉ biết làm các bài văn một cách thụ động
với những đề kiểm tra của giáo viên. Khi tựtạo lập một văn bản trong cuộc sống
lại không thể làm được. Nguyên nhân cũng một phần do các bài kiểm tra cuối
cấp chỉ tập trung vào kĩ năng làm văn nghị luận nên người dạy đã không có ý
thức kết nối tri thức giữa các phần làm văn trong giảng dạy. Đây là một lỗ hổng
rất lớn đang cần được bù đắp.
1.3.Xuất phát từ thực tế giảng dạy của bản thân
Với kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy của bản thân, cùng việc tham khảo ý
kiến của đồng nghiệp và những người đi trước, chúng tôi nhận thấy rằng phần
lớn giáo viên và học sinh chưa thực sự chú trọng đến việc rèn kỹ năng làm văn
thuyết minh trong chương trình Trung học phổ thông. Giáo viên chỉ cung cấp đủ
cho người học những kiến thức trong sách giáo khoa. Học sinh chưa biết vận
dụng kiến thức kĩ năng để viết một bài thuyết minh. Trong khi đó văn bản thuyết
minh lại rất thông dụng và phổ biến trong đời sống hàng ngày. Làm thế nào để
giới thiệu về mình cho người khác cảm thấy gần gũi, thân quen, yêu mến? Làm
thế nào để giới thiệu về nơi mình sống? Làm thế nào để người khác có thể chấp

2

chung về văn bản thuyết minh[5, Tr.114]; Phương pháp thuyết minh[5,Tr.126];

3


Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh[5,Tr.137]; Luyện nói –
thuyết minh về một thứ đồ dùng[5,Tr.144]; Thuyết minh về một thể loại văn
học[5,Tr.153];Viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh[6,Tr.13]; Thuyết minh
về một phương pháp[6,Tr.24]; Thuyết minh về một danh lam thắng
cảnh[6,Tr.33]; Ôn tập về văn bản thuyêt minh[6,Tr.35].Tiếp nối về làm văn
thuyết minh ở lớp 9 (tập I) là các bài: Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật
trong văn bản thuyết minh[9,Tr.12]; Luyện tập sử dụng một số biện pháp nghệ
thuật trong văn bản thuyết minh [9,Tr.15]; Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản
thuyết minh[9,Tr. 24]; Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết
minh [9,Tr.28]. Trong chương trình Ngữ văn lớp 10ở Trung học phổ thông cũng
có tri thức phần làm văn thuyết minh ở dạng củng cố kĩ năng cho học sinh: Các
hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh[1,Tr.165]; Lập dàn ý cho bài văn
thuyết minh[1,Tr.169]; Tính chuẩn xác và hấp dẫn của văn bản thuyết
minh[2,Tr.24]; Phương pháp thuyết minh[2,Tr.48]; Luyện tập viết đoạn văn
thuyết minh[2,Tr. 62]; Tómtắt văn bản thuyết minh[2,Tr.69].
2.2.Trong sách tham khảo
Hệ thống các sách tham khảo về hướng dẫn làm văn thuyết minh cũng rất
đa dạng. Có thể kể tên các cuốn sách như: Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ
thơ văn lớp 8 (Cao Bích Xuân, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007), Ngữ Văn 9 nâng
cao (Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Việt Hùng, Vũ Băng Tú; Nhà xuất bản Giáo dục,
2007), Hướng dẫn tập làm văn 9 (Vũ Nho chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục,
2010)…Rèn luyện kĩ năng làm văn 10 (Lương Duy Cán, Nhà xuất bản Giáo dục,
2007), Hướng dẫn Làm văn 10 (Nguyễn Thuý Hồng chủ biên, Nhà xuất bản
Giáo dục, 2009), Thực hành làm văn lớp 10 (Lê A chủ biên, Nhà xuất bản Giáo
dục, 2009), Giúp em viết tốt các dạng bài làm văn 10 (Huỳnh Thị Thu Ba, Nhà

học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông.
Chúng tôi cũng mong muốn rằng thông qua luận văn, học sinh sẽ nhận
thức được vai trò của làm văn thuyết minh trong đời sống xã hội, các em hứng
thú với phần làm văn thuyết minh, từ đó các em tự ý thức và rèn luyện kĩ năng,
tư duy cho một loại văn bản các em thường gặp trong cuộc sống hàng ngày.

5


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được kết quả nghiên cứu như mục đích đề ra, chúng tôi xác định
những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Thứ nhất, nghiên cứu những kiến thức lí luận vềlàm văn thuyết minh từ
khái niệm, đến ngôn ngữ, các phương pháp thuyết minh và dàn ý cho bài làm
văn thuyết minh, để làm nổi bật những đặc điểm của văn bản thuyết minh.
Thứ hai, tìm hiểu thực tế về việc giảng dạy, học tập làm vănthuyết minh
của giáo viên và học sinh trong nhà trường; khảo sát chất lượng của các bài làm
văn thuyết minh của học sinh.
Thứ ba, đề xuất các biện pháp cụ thể để người dạy làm văn thuyết minh
có định hướng so sánh đối chiếu trong quá trình dạy học.
Thứ tư, tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài,
để từ đó có những kiến nghị kịp thời để góp phần đổi mới phương pháp dạy học.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Làm văn thuyết minh được giới thiệu và trở thành một phần làm văn trong
chương trình Trung học cơ sở ở lớp 8 và lớp 9, tuy nhiên đối tượng mà luận văn
hướng tới là học sinh lớp 10 ở Trung học phổ thông,các em đã được trang bị những
kiến thức cơ bản về làm văn thuyết minh. Trong chương trình Ngữ văn lớp 10 phần
làm văn thuyết minh chủ yếu đi sâu củng cố, nâng cao và hoàn thiện các kĩ năng
làm văn thuyết minh, hướng tới viết văn bản thuyết minh hoàn chỉnh.Đối tượng

đã nghiên cứu từ đó có những đề xuất về phương pháp phù hợp với thực tiễn.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn gồm 3
chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học Làm văn thuyết
minh trong trường phổ thông. Ở chương này, luận văn nghiên cứu về cơ sở lí
luận của dạy học làm văn thuyết minh: thế nào là một văn bản thuyết minh? Văn
bản thuyết minh có những đặc trưng cơ bản nào? Các phương pháp thuyết minh
cơ bản, phương pháp so sánh đối chiếu trong dạy làm văn thuyết minh.Thực tiễn
của việc dạy và học văn thuyết minh trong nhà trường Trung học phổ thông.

7


Chƣơng 2: Các định hướng so sánhđối chiếu khi dạy làm văn thuyết
minh. Đây là phần trọng tâm của luận văn, chúng tôi đề xuất những biện pháp cụ
thểđể dạy học làm văn thuyết minh trong ý thức so sánh đối chiếu, với mục đích
giúp học sinh làm văn thuyết minh đạt hiệu quả.
Chƣơng 3: Thực nghiệm dạy học làm văn thuyết minh từ định hướng so
sánh đối chiếu.Trong chương 3, chúng tôi tiến hành áp dụng các biện pháp đề
xuất đối với quá trình dạy văn thuyết minh trên cơ sở thực tiễn, từ đó tổng hợp
kết quả, rút ra kết luận và những khuyến nghị.
.

8


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC LÀM
VĂN THUYẾT MINH TRONG TRƢỜNG PHỔ THÔNG

về đối tượng được thuyết minh trong lĩnh vực của cuộc sống và trong lĩnh vực
văn học” [19, Tr. 69]
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về văn thuyết minh nhưng đều hướng
đến nhìn nhận thống nhất theo một cách hiểu. Đó là loại văn bản thông dụng
trong cuộc sống, nhằm mục đích trình bày, giới thiệu cho người đọc, người nghe
hiểu rõ về sự vật, hiện tượng trong cuộc sống một cách khách quan và khoa học.
Đối với học sinh trong nhà trường phổ thông, viết văn thuyết minh không chỉ
mở rộng vốn tri thức khoa học về các lĩnh vực của cuộc sống mà còn giúp các
em rèn luyện tư duy mạch lạc, lôgic - một năng lực tư duy rất quan trọng khi
trình bày một vấn đề.
1.1.2. Đặc điểm của văn bản thuyết minh
Văn bản thuyết minh cũng mang những đặc điểm của một văn bản nói chung
như sự thống nhất về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, đảm bảo các yêu cầu về
tính chính xác, rõ ràng, mạch lạc, liên kết chặt chẽ. Tuy nhiên, văn bản thuyết
minh cũng mang những đặc điểm rất riêng khác với các văn bản khác.
- Tính khách quan, khoa học
Văn bản thuyết minh cung cấp tri thức khách quan giúp người đọc, người
nghe hiểu đúng về sự vật, hiện tượng. Chính vì vậy, các tri thức của văn bản
thuyết minh phải đảm bảo tính khách quan, trung thực. Người thuyết minh cần
phải tôn trọng sự thật, không thể dùng cảm quan cá nhân để thay đổi thông tin
về đối tượng, sự việc được thuyết minh, phải miêu tả sự vật hiện tượng như nó
vốn có. Ngôn ngữ của bài văn thuyết minh cần chính xác, giản dị gần gũi với đời
sống. Tùy từng đối tượng, ngôn ngữ thuyết minh có thể được sử dụng linh hoạt.
Tuy nhiên cần đảm bảo tính chính xác, khoa học.
Ví dụ: Văn bản thuyết minh vềlễ hội đền Trần
Lễ hội đền Trần (Nam Định) diễn ra từ ngày mồng 10 đến ngày 28 tháng 8
âm lịch. Đây là lễ hội có quy mô lớn được tổ chức hằng năm, không chỉ đơn
thuần mang yếu tố tín ngưỡng mà còn là hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần

10

khoa học.

11


- Tính hữu dụng
Đây là đặc điểm độc đáo, khác biệt của văn bản thuyết minh so với các
văn bản khác. Văn bản thuyết minh có phạm vi sử dụng rất rộng, có mặt trong
nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề của cuộc sống xã hội nhằm cung cấp cho con
người những mục đích hữu dụng, cần thiết để nắm bắt và tiếp cận sự vật hiện
tượng.. Trong xã hội hiện đại ngày nay, con người cần sử dụng đến rất nhiều
máy móc để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống: ti vi, tủ lạnh, điều hoà, máy tính,
máy phát điện…Các máy móc ấy đều phải kèm theo bản thuyết minh để ta hiểu
rõ về tính năng, cấu tạo, cách sử dụng, cách bảo quản. Đến một danh lam thắng
cảnh nổi tiếng nếu ta được đọc lời giới thiệu về lai lịch của thắng cảnh sẽ giúp ta
có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về địa danh đó. Sách giáo khoa trình bày
những thí nghiệm, sự kiện lịch sử hay giới thiệu về tiểu sử của các nhà văn, giới
thiệu tác phẩm… chính là những “bản chỉ dẫn” quan trọng để chúng ta có thể
thực hành được thí nghiệm, hiểu về các sự kiện lịch sử hay nhà văn, tác phẩm.
Như thế, văn bản thuyết minh vô cùng cần thiết trong các lĩnh vực đời sống. Đọc
văn bản thuyết minh giúp người đọc có thể hiểu được, làm theo, sử dụng hay nắm
bắt, tiếp cận sự vật hiện tượng được đúng đắn, chính xác nhất. Tuy vậy, văn bản
thuyết minh cũng cần hấp dẫn để thu hút chú ý theo dõi của người đọc người
nghe. Muốn thế, cần sử dụng nhiều hình tượng sinh động, nhiều so sánh cụ thể,
và câu văn phải biến hoá, linh hoạt. Những sự tích, những truyền thuyết thích
hợp cũng làm cho văn bản thuyết minh thêm hấp dẫn và sâu sắc.
Ví dụ: Văn bản “Cốm”- Nguyễn Tuân
Những cây sấu đứng đường của Hà Nội mà bắt đầu lộp độp rụng xuống
những trái sấu chín cây thì trên vỉa hè Hà Nội cũng bắt đầu hiện ra hình ảnh
người ghánh cốm di bán rong. Trái với thói thường của hàng rong, gánh cốm cứ

Cốm rờn lên một niềm vui bất tận xanh, mà trên mặt đó lại cho chằng thêm một
múi lạt chữ thập nhuộm đỏ cánh sen để gửi đến ngõ nhà người yêu, để đặt trên
bàn tiệc cưới, đám hỏi thì quả là màu xanh thật là màu của nguyện vọng hạnh
phúc.
[Trích Cảnh sắc và hương vị đất nước -Nguyễn Tuân]

13


Văn bản Cốm đã cung cấp cho người đọc những tri thức hữu dụng về một
thứ quà rất quen thuộc của Hà Nội. Dưới ngòi bút tài hoa của người nghệ sĩ họ
Nguyễn, người đọc đã cảm nhận một cách trọn vẹn hương vị của mảnh đất kinh
kỳ mỗi độ thu về. Bắt đầu từ lúc người ta cảm nhận được cái se lạnh của thu về,
những gánh hàng cốm quen thuộc đã xuất hiện khắp phố phường Hà Nội. Cốm
là tuyệt phẩm của người Việt khi cốm được ăn cùng chuối trứng cuốc và hồng
trứng. Bàn tay khéo léo của con người đã làm nên một món quà có ý nghĩa. Đọc
văn bản thuyết minh của Nguyễn Tuân đã giúp ta thêm yêu Hà Nội, yêu non
sông đất nước Việt Nam tươi đẹp.
1.1.3. Ngôn ngữ trong văn bảnthuyết minh
Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản thuyết minh đòi hỏi vừa phải chính xác,
cô đọng, chặt chẽ vừa đảm bảo tính sinh động. Văn bản thuyết minh mang đặc
trưng tư duy khoa học, trình bày các tri thức khách quan, khoa học nên ngôn ngữ
sử dụng cũng đòi hỏi phải chính xác và cô đọng, không chú trọng sử dụng ngôn
ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, giàu sức gợi như trong văn bản miêu tả hay
văn bản biểu cảm. Nói như thế cũng không có nghĩa văn bản thuyết minh chỉ sử
dụng những từ ngữ khoa học một cách khô khan. Ngôn ngữ sử dụng trong văn
thuyết minh vẫn rất cần tính sinh động, hấp dẫn thông qua các biện pháp nghệ
thuật được sử dụng như: so sánh, nhân hoá, ẩn dụ…
Ví dụ:


được đối tượng thuộc vào loại sự vật, hiện tượng gì và chỉ ra đặc điểm riêng nổi
bật của đối tượng trong loại sự vật hiện tượng đó. Phương pháp nêu định nghĩa
thường được sử dụng khi giới thiệu về danh lam thắng cảnh, miêu tả một sự
vật…
Ví dụ: - Huế là một trong những trung tâm văn hoá, nghệ thuật lớn của Việt
Nam. Huế là một thành phố đẹp. Huế đẹp của thiên nhiên Việt Nam. Huế đẹp
của thơ, Huế đẹp của những con người sáng tạo, anh dũng.[11, Tr.10]
- Bún riêu là một món ăn rất phổ biến và nổi tiếng của người Việt Nam,
đặc biệt là những người ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ. Điểm độc đáo là món ăn
này ở địa phương nào cũng có và có thể dùng vào bất kì mùa nào trong năm.
- Chèo là nghệ thuật biểu diễn ngẫu hứng, dựa trên cơ sở một tích trò và
những hệ thống mô hình nhân vật, mô hình làn điệu đã có và không ngừng được
bổ sung.

15


Phƣơng pháp phân loại, phân tích
Phân loại để phân tích từng mặt, từng khía cạnh cụ thể của vấn đề, của sự
vật hiện tượng. Đối với sự vật đa dạng, nhiều cá thể thì nên phân loại để việc
trình bày được dễ dàng, giúp người đọc, người nghe có thể nhận ra rõ nét từng
khía cạnh của vấn đề thuyết minh.
Ví dụ:

Bịt mắt bắt dê - một trò chơi dân gian độc đáo
Vì sao có trò chơi bịt mắt bắt dê và trò chơi này xuất hiện từ bao giờ?

Cho đến nay, chưa có một tài liệu nào xác định thời gian ra đời của trò chơi.
Song, chắc chắn trò chơi này đã có từ lâu đời. Một điều lý thú là, bịt mắt bắt dê
không chỉ có duy nhất một trò mà có hai kiểu chơi với khá nhiều “dị bản”. Đồng

khắc họa, trong đó có những bức vẽ rất sinh động của hai dòng tranh Đông Hồ
(Bắc Ninh) và Hàng Trống (Hà Nội)…
(Theo Viết Hiền, báo An ninh thế giới, số Xuân Quý Mùi, 2003)
Phƣơng pháp so sánh
Có thể so sánh sự vật này với sự vật khác với những điểm giống nhau và
khác nhau để qua đó nêu bật những nét riêng, đặc trưng của đối tượng thuyết
minh. Khi so sánh, cần dựa trên cùng một tiêu chí để người đọc, người nghe có
được một cái nhìn đối sánh về sự vật được nói tới.
Ví dụ:

Những loài vật nào lớn nhất?
Những loài vật lớn nhất trên thế giới sống ở dưới nước. Đó là những loài

vật thuộc bộ cá voi. Loài lớn nhất là loài cá voi xanh.
Những chú voi của châu Phi trông có vẻ rất khổng lồ, một số con có chiều
dài tới gần 8 mét, cao hơn 4 mét và nặng 6 đến 7 tấn. Tuy nhiên, những con số
đó thật nhỏ bé khi đặt cạnh những động vật có vú sống ngoài biển khơi. Chú cá
voi xanh lớn nhất được biết đến có chiều dài hơn 33 mét nặng 140 tấn. Một cá
voi xanh cái đang thời kỳ thai nghén nặng tới 200 tấn. Chỉ một cái lưỡi của
chúng thôi cũng đã nặng tới 4 đến 5 tấn, bằng cả trọng lượng của một con voi
khổng lồ rồi.
Cá voi và cá nhà táng có thể dài tới 20 mét, đó là một khối thịt và mỡ
khổng lồ. Không có loài vật nào trên cạn có thể đạt tới những con số đó được, vì
như thế chúng sẽ bị chính trọng lượng của mình làm nghẹt thở mà chết.

17


Một con cá voi bị mắc cạn sẽ lập tức bị chết vì nghẹt thở: nước không còn
nâng được cơ thể của chúng nữa, trọng lượng cơ thể sẽ đè bẹp phổi và không

Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi
tiếng thời đó về văn chương và chính sự.
(Theo Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, tập II, NXB Khoa học xã hội, 1985)
Mục đích của đoạn văn nói về công lao tiến cử người tài cho đất nước của
Trần Quốc Tuấn, vì thế người viết đã dẫn ra nhiều ví dụ về những người tài
được Trần Quốc Tuấn tiến cử, đoạn văn thuyết minh phù hợp với mục đích
thuyết minh, đảm bảo tính chính xác và hấp dẫn.
Phƣơng pháp dùng số liệu
Số liệu là những con số mà người viết văn điều tra, khảo sát, đo đếm, tìm
kiếm, thống kê, tính toán...được từ thực tiễn hoặc tra cứu được từ những nguồn
tài liệu đáng tin cậy về đối tượng và khi thuyết minh về đối tượng đã đưa ra để
chứng minh cho điều thuyết minh.
Trung bình, người ta có từ 40.000 đến 60.0000 tỉ tế bào,nghĩa là 10.000
lần nhiều hơn số dân cư sống trên trái đất hiện nay. Những tế bào này được cấu
tạo bởi 6 triệu tỉ tỉ phân tử, nghĩa là 60 lần nhiều hơn số tinh tú trong vũ trụ.
Những phân tử được tạo thành từ 1 tỉ tỉ nguyên tử. Một con số khổng lồ, tương
đương với số tinh tú có trong 10.000 vũ trụ như vũ trụ của chúng ta. Nếu mỗi
nguyên tử dài 1mm, một số tế bào dài 10cm, thì một người cao 1m75 sẽ biến
thành một người khổng lồ với chiều cao 1.750 km! May thay, điều này không
xảy ra vì nguyên tử cực nhỏ.
(Theo Con người và con số, Tạp chí kiến thức ngày nay, số 372)
Mục đích của văn bản trên đã giới thiệu cho người đọc những điều thú vị
về con con người và con số. Với những số liệu cụ thể về số lượng tế bào trong
cơ thể con người, người đọc có thể nhận thấy cấu tạo cơ thể con người thật phức
tạp, thú vị, bất ngờ.
Sách giáo khoa Ngữ văn 10 đã bổ sung thêm các phương pháp mới để làm
phong phú cho hệ thống phương pháp thuyết minh, phù hợp với những dạng bài
thuyết minh mới, đặc biệt là thuyết minh về tác giả, tác phẩm, phong cách nghệ
thuật…trong văn học.


trong đó sẽ có những phương pháp chính và các phương pháp khác được dùng
với mục đích hỗ trợ.Trong văn bản “Hoa lan Việt Nam” người viết cung cấp cho

20


người đọc những tri thức về hoa lan, văn bản thuyết minh đã sử dụng phối hợp
nhiều phương pháp thuyết minh để giúp cho bài viết của mình sinh động, hấp
dẫn: phương pháp phân loại về họ của hoa lan; phương pháp nêu ví dụ về 10 loài
lan Hài vệ nữ.
Trong muôn vàn loài hoa mà thiên nhiên đã tạo ra trên thế gian này, hiếm
có loài hoa nào mà sự đánh giá về nó lại được thống nhất như hoa lan.
Hoa lan đã được người phương Đông tôn là “Loài hoa vương giả”
(Vương giả chi hoa). Còn với người phương Tây thì lan là “Nữ hoàng của các
loài hoa”.
Họ lan thường được chia thành hai nhóm: nhóm phong lan bao gồm tất
cả các loài sống bám trên đá, trên cây, có rễ nằm trong không khí. Trong nhóm
địa lan lại gồm những loài có rễ nằm trong đất hay lớp thảm mục.
Có thể nói trong thế giới của hoa, chưa có loài nào đạt đến sự phong phú
tuyệt vời như lan, với những sự biến thái rất đa dạng về rễ, thân, lá và đặc biệt
là hoa, chỉ riêng 10 loài của chi lan Hài Vệ nữ đã cho thấy sự đa dạng tuyệt vời
của hoa và của lá về hình dáng, màu sắc. với cánh môi cong lượn như gót hài,
cánh hoa trong mảnh và mang hòa sắc tuyệt diệu của trắng, vàng, phớt tím, nâu,
khi có làn gió nhẹ, hoa Hài vệ nữ rung rinh, tưởng như cánh bướm mảnh mai
đang bay lượn.[4,Tr.51]
1.1.5. Làm bài văn thuyết minh
Làm bài văn thuyết minh cũng sử dụng phương thức tạo lập một văn bản.
Vì vậy, quá trình làm bài văn thuyết minh cũng giốngphương thức tạo lập một
văn bản nói chung.
Bƣớc một: Phân tích đề

-Bày tỏ thái độ đối với đối tượng thuyết minh.
-Nhận xét về tương lai của đối tượng thuyết minh.
Lập dàn ý bài văn thuyết minh có sự khác biệt cơ bản so với lập dàn ý các
dạng bài làm văn khác. Sau khi đã định hình được kết cấu, các ý cơ bản sẽ trình
bày theo trật tự tư duy lôgic, học sinh sẽ tiến hành chọn lọc, sắp xếp các kiến
thức thu thập được để phục vụ cho từng luận điểm. Bước lập dàn ý này rất quan
trọng cần đến tư duy logic, óc phân tích vấn đề của học sinh chứ không đơn

22


thuần chỉ dùng đến những cảm xúc và suy nghĩ. Đó cũng là thao tác của tư duy
mà văn bản thuyết minh muốn hướng đến rèn luyện cho học sinh.
Bƣớc ba: Viết bài văn thuyết minh
Bài văn thuyết minh gồm nhiều đoạn văn nối tiếp nhau, có sự liên kết chặt
chẽ về nội dung cũng như hình thức. Xét về chức năng: có đoạn mở bài, các
đoạn thân bài và đoạn kết bài. Xét về cách trình bày nội dung: có đoạn song
hành, đoạn diễn dịch, đoạn quy nạp, đoạn tổng phân hợp. Ngôn ngữ của bài văn
thuyết minh cần dung dị, gần gũi với đời sống, rõ ràng, dễ hiểu. Mặc dù không
hướng tới cái hay, cái đẹp của ngôn từ nhưng câu văn cũng cần có hình ảnh,
diễn đạt mượt mà tạo sức hấp dẫn và tăng tính thuyết phục.
1.1.6. Định hướng so sánh đối chiếu khi dạy làm văn thuyết minh
Theo sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6, tập 1:“So sánh là đối chiếu sự vật, sự
việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng”. Từ điển Tiếng Việt giải
thích: “Đối chiếu là so sánh với nhau trong đó có một cái làm chuẩn.” (dẫn theo
Từ điển Tiếng Việt, viện Ngôn Ngữ học).Có một điều dễ nhận thấy rằng làm
văn thuyết minh có những đặc điểm khác biệt so với các dạng bài làm văn khác
ở yêu cầu về tri thức khách quan, khoa học và tính hữu ích của nó với đời sống
con người. Từ đó, dạng văn này giúp học sinh làm quen với lối làm văn có tư
duy, mang tính khách quan, khoa học, chính xác.Là dạng bài làm văn mới đưa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status