TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
------ ------
NGUYỄN VIỆT HỒNG
VẬN DỤNG ĐIỀU LỆNH QUẢN LÝ BỘ ĐỘI
GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
CHẤP HÀNH RÈN LUYỆN KỶ LUẬT CỦA
SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC
PHÒNG VÀ AN NINH Ở TRUNG TÂM
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng & An ninh
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Trung tá. ThS. VŨ MẠNH HÀ
DANH MỤC
LIỆU
HÀTÀI
NỘI,
2017VIẾT TẮT
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, em còn
nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của thầy giáo Trung tá. Thạc sĩ Vũ
Mạnh Hà - Giảng viên khoa kỹ thuật chiến thuật Trung tâm giáo dục quốc
phòng và an ninh trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Đồng thời, em còn nhận
được sự giúp đỡ của các thầy giáo trong Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà
Kí túc xá
KTX
Trung học phổ thông
THPT
Điều lệnh quản lý bộ đội
ĐLQLBĐ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 3
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 3
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 3
7. Cấu trúc của khóa luận .................................................................................. 4
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CHẤP
HÀNH RÈN LUYỆN KỶ LUẬT CỦA SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH ...................................................................... 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 5
1.2. Khái quát về Điều lệnh quản lý bộ đội....................................................... 7
1.3. Một số khái niệm ........................................................................................ 8
1.3.1. Kỷ luật ..................................................................................................... 8
1.3.2. Kỷ luật quân đội ...................................................................................... 9
an ninh đã và đang thực hiện ............................................................................. 32
2.3.3. Tác động từ đặc điểm của sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an
ninh ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 ................................................................. 33
2.4. Đánh giá chung về thực trạng rèn luyện kỷ luật của sinh viên ngành
GDQP & AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 .................................................. 34
2.4.1. Đánh giá mặt mạnh ............................................................................... 34
2.4.2. Đánh giá mặt hạn chế ............................................................................ 35
2.4.3. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế ................................................................ 35
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 37
Chƣơng 3. VẬN DỤNG ĐIỀU LỆNH QUẢN LÝ BỘ ĐỘI GÓP PHẦN
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CHẤP HÀNH RÈN LUYỆN KỶ LUẬT
CỦA SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH Ở
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2 ........................... 38
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp ............................................................ 38
3.1.1. Nguyên tắc đề xuất phải đảm bảo tính kế thừa ..................................... 38
3.1.2. Nguyên tắc đề xuất phải đảm bảo tính hệ thống ................................... 38
3.1.3. Nguyên tắc đề xuất phải đảm bảo tính đồng bộ .................................... 38
3.1.4. Nguyên tắc đề xuất phải đảm bảo tính thực tiễn ................................... 38
3.2. Một số biện pháp vận dụng ĐLQLBĐ nâng cao chất lượng rèn luyện kỷ
luật cho sinh viên ngành GDQP & AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 .......... 39
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho sinh viên về sự cần thiết phải vận dụng
ĐLQLBĐ nâng cao chất lượng rèn luyện kỷ luật cho sinh viên .................... 39
3.2.2. Cụ thể hoá nội dung ĐLQLBĐ vận dụng để rèn luyện kỷ luật cho sinh
viên trong các hoạt động của đại đội sinh viên ngành GDQP & AN ............. 40
3.2.3. Phối hợp với các tổ chức đoàn thể và gia đình để nâng cao chất lượng
chấp hành rèn luyện kỷ luật cho sinh viên ...................................................... 45
3.3. Đánh giá tính thực tiễn và khả thi của các biện pháp .............................. 47
3.3.1. Tính khả thi của các biện pháp.............................................................. 47
ngành liên quan, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, nhằm thực hiện tốt nhiệm
vụ GDQP & AN cho học sinh, sinh viên. Công tác GDQP & AN cho sinh
viên tại Trung tâm đã được triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ và ngày
càng đi vào nền nếp, chất lượng từng bước được nâng cao; nội dung, chương
1
trình và giáo trình, giáo khoa, tài liệu cũng như các điều kiện đảm bảo cho
môn học đã được quan tâm đầu tư, từng bước đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện, vẫn còn một số hạn chế, bất cập. Một số sinh viên
chuyên ngành nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò của ngành học.
Đặc biệt, việc chấp hành rèn luyện kỷ luật và chất lượng rèn luyện kỷ luật của
sinh viên vẫn có những mặt hạn chế, chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đặt ra,
vẫn còn có sinh viên vi phạm các chế độ như: nội vụ vệ sinh, đi lại tự do, phát
ngôn thiếu văn minh. Đặc biệt, còn có những sinh viên vi phạm qui chế, qui
định nội qui của đơn vị buộc phải xử lý kỷ luật, đình chỉ học tập. Vì vậy,
nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng rèn luyện kỷ luật quân
đội cho sinh viên tại trung tâm GDQP Hà Nội 2 là yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi
phải nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng hoạt động rèn
luyện kỷ luật quân sự để từ đó đề ra những biện pháp quản lí phù hợp với yêu
cầu thiết thực trong tình hình hiện nay. Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi
lựa chọn đề tài “Vận dụng Điều lệnh quản lý bộ đội góp phần nâng cao chất
lượng chấp hành rèn luyện kỷ luật của sinh viên ngành Giáo dục quốc
phòng và an ninh ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2” làm khóa luận tốt nghiệp
đại học.
2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng rèn luyện kỷ luật của
sinh viên góp phần nâng cao chất lượng chấp hành kỷ luật của sinh viên
ngành GDQP & AN ở Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội 2.
trạng, biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động rèn luyện kỷ luật của sinh
viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
Phương pháp thống kê toán học: Phương pháp này được sử dụng để xử
lí số liệu khảo sát.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Về mặt lí luận
Tổng kết công tác quản lý và chất lượng rèn luyện kỷ luật của sinh viên
ngành giáo dục quốc phòng và an ninh tại Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà
3
Nội 2, chỉ ra những bài học thành công và hạn chế, trên cơ sở đó đề xuất các
biện pháp quản lý và rèn luyện kỷ luật cho sinh viên ngày càng tốt hơn.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp Trung tâm có những biện pháp quản lí duy
trì các hoạt động rèn luyện kỷ luật của sinh viên ngành giáo dục quốc phòng
và an ninh có hiệu quả hơn.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề về nâng cao chất lượng rèn luyện kỷ luật của
sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh
Chƣơng 2: Thực trạng về rèn luyện kỷ luật của sinh viên ngành giáo
dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
Chƣơng 3: Biện pháp nâng cao chất lượng rèn luyện kỷ luật của sinh
viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
5
trọng, tạo nên sức mạnh trong quân đội, nền nếp tác phong, đặc biệt là sự thống
nhất từ cấp trên đến cấp dưới. Do vậy mới có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ
được giao. Kỷ luật quân sự ở các nước XHCN là kỷ luật công bằng và nghiêm
minh giữa tất cả quân nhân với nhau, từ người có chức vụ cao nhất đến người
có quân hàm thâp nhất đều phải thực hiện các trức trách nhiệm vụ của mình
được khen thưởng và xử phạt theo đúng điều lệnh và pháp luật quy định.
Sinh viên chuyên ngành GDQP & AN tại các cơ sở đào tạo, ngoài
nhiệm vụ trau dồi kiến thức kĩ năng chuyên môn theo chuyên ngành mà còn
phải làm quen, và rèn luyện trong môi trường quân đội, có ý thức chấp hành
kỷ luật quân sự theo điều lệnh quản lý bộ đội, quy định của đơn vị. Vì vậy
quá trình rèn luyện kỷ luật, điều lệnh phải nghiêm túc, chu đáo nội dung phải
bám sát vào điều lệnh quản lý bộ đội và chủ trương của Đảng. Nhằm hoàn
thiện phẩm chất nhân cách, có tính tự chủ trong công việc, để có kỷ luật tự
giác nghiêm minh thì mỗi sinh viên phải tích cực, tự giác tự học tập, rèn luyện
bản thân.
Thực tiễn hoạt động rèn luyện kỷ luật của sinh viên chuyên ngành giáo
dục quốc phòng và an ninh tại các cơ sở đào tạo đã cho thấy, sinh viên chưa
đặt ra được mục đích cụ thể về việc chấp hành kỷ luật, chưa có ý thức thực
hiện một cách nghiêm túc, thì cán bộ chỉ huy cần thực hiện nghiêm túc các
quy định đó chính là hình ảnh sống tác động trực tiếp vào cấp dưới của mình
thông qua những hình ảnh thực tiễn, điều đó có tác dụng rất tốt với sinh viên,
giúp họ hình thành thái độ hành vi mẫu mực, kiên quyết thực hiện nhiệm vụ
người chỉ huy giao cho mọi lúc mọi nơi.
Trên thực tế đã có nhiều đề tài nghiên cứu rèn luyện kỷ luật của quân
đội cho cán bộ, chiến sĩ nhưng số lượng đề tài nghiên cứu về áp dụng điều
lệnh quản lý bộ đội vào sinh viên chuyên ngành GDQP & AN còn rất ít. Đối
tượng được rèn luyện kỷ luật là sinh viên, không phải là các chiến sĩ đang
lý, duy trì kỷ luật trong quân đội, bảo đảm sự tập trung thống nhất, xây dựng
7
Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại, luôn sẵn sàng chiến đấu và hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Theo Điều lệnh Quản lý bộ đội QĐNDVN do Nxb Quân đội nhân dân,
xuất bản năm 2011 bao gồm 10 chương, 224 điều:
Chương I: Những quy định chung.
Chương II: Chức trách và mối quan hệ
Chương III: Lễ tiết tác phong quân nhân
Chương IV: Chế độ làm việc, sinh hoạt, học tập và công tác
Chương V: Đóng quân
Chương VI: Quản lý quân nhân
Chương VII: Quản lý tài sản của quân đội
Chương VIII: Khen thưởng và xử phạt
Chương IX: Mười lời thề danh dự, mười hai điều kỷ luật khi quan hệ
với nhân dân của quân nhân; Quân kỳ và tổ chức nghi lễ quân đội
1.3. Một số khái niệm
1.3.1. Kỷ luật
Theo Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 2012
của tác giả Nguyễn Như Ý định nghĩa về kỷ luật là: “Quy tắc phép tắc do tổ
chức đề ra đòi hỏi thành viên của tổ chức phải thực hiện để tổ chức ổn định và
phát triển”.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Kỷ luật trật tự nhất định trong hành vi
của con người theo những chuẩn mực do pháp luật, đạo đức quy định trong
thời kì lịch sử, vì lợi ích của toàn xã hội hay của giai cấp quy định trong thời
kỳ lịch sử, vì lợi ích của toàn xã hội hay giai cấp, tập đoàn xã hội riêng rẽ hay
của một cộng đồng. Kỷ luật là phương tiện để thống nhất hành động trong
thưởng phạt phải công minh, chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai thân
với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ; là cá nhân phải tuyệt đối phục
tùng tổ chức, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa
9
phương phục tùng Trung ương…. Nói tóm lại, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,
kỷ luật trong quân đội là từ việc lớn đến việc nhỏ, từ đánh trận đến luyện
quân, từ giúp dân đến xây dựng đất nước, mọi việc cán bộ, chiến sĩ đều phải
tuân theo và triệt để thi hành mệnh lệnh của cấp trên, kỷ luật được thi hành
bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.
Lịch sử hơn 70 năm xây dựng quân đội cho thấy, tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân chủ và kỷ luật trong quân đội đã trở thành di sản tư tưởng, lý
luận quý báu, là một trong những nguyên tắc căn bản xây dựng lực lượng vũ
trang cách mạng, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất của
Đảng, của cấp trên; phát huy tinh thần dân chủ sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ
trong quân đội, đồng thời giúp cho toàn quân nâng cao ý chí chiến đấu, đề
cao tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, nâng cao ý thức tổ chức kỷ
luật, đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đánh thắng mọi kẻ thù xâm
lược, xây dựng đất nước, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ
và từng bước hiện đại.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng các vấn đề “dân
chủ”, “nhân quyền”, “pháp quyền” để chống phá sự nghiệp xây dựng đất
nước, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa; đòi “phi chính trị hoá quân đội”, kêu gọi “quân đội đứng ngoài chính
trị”, hay đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống tự do chủ nghĩa, ăn chơi hưởng
lạc, chạy theo danh lợi, vật chất tầm thường… là những mũi nhọn của chiến
lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch sử dụng hòng phá hoại về
chính trị, tư tưởng, dân chủ và kỷ luật của quân đội ta. Để thực hiện tốt hơn
Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên là một bộ phận
của nền giáo dục quốc dân, có tầm quan trọng đặc biệt trọng trong xây dựng
nền Quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân góp phần quan trọng vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN giai đoạn hiện nay.
Như đã nêu ở phần đầu, ngày 28/4/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ
11
thị số 107-CT/TW về “Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân,
chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng nhận nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”. [1]. Ngày
30/7/1987, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết
02/NQ-TW quy định giáo dục quốc phòng thuộc chương trình chính khóa
trong các Trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng,
đại học. Thực hiện chỉ thị 12- CT/TW ngày 03/5/2007 của Bộ chính trị và
nghị định 116/2007/NĐ-CT của thủ tướng chính phủ về giáo dục quốc phòng
và an ninh, sự cần thiết của giáo dục quốc phòng và an ninh phải toàn diện,
coi trọng giáo dục tình yêu quê hương đất nước, yêu chế độ XHCN, nghĩa vụ
công dân đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, âm mưu, thủ
đoạn của các thế lực thù địch, đường lối quan điểm, chủ trương chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng và an ninh. Từ vị trí vai trò
và yêu cầu cần thiết công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, ngày
19/6/2013, tại kỳ họp thứ V của Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật giáo
dục quốc phòng và an ninh số 30/2013 QH13, ngày 28/8/2013, Chủ tịch nước
ký lệnh số 04/2013/L-CTN công bố Luật giáo dục quốc phòng và an ninh.
Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 luôn coi trọng việc nâng cao chất lượng
giáo dục kiến thức quốc phòng và an ninh cho sinh viên, đây là nhiệm vụ
quan trọng hành đầu. Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng giáo dục, rèn
luyện sinh viên; nâng cao ý thức học môn GDQP & AN ý thức chấp hành kỷ
giữ đúng lời hứa, làm việc, học tập, vui chơi đúng kế hoạch; tích cực tham gia
các hoạt động Đoàn, Hội; nghiêm khắc với các hành vi sai trái, các vi phạm
chuẩn mực đạo đức, các quy định về nếp sống văn hóa.
Từ góc độ lý luận, nhận thấy việc duy trì nghiêm túc các quy định của
Trung tâm, kỷ luật của quân đội giúp sinh viên có định hướng đúng đắn về
bản thân. Nói cách khác khi giáo dục kỷ luật cho sinh viên, vừa mang tính bắt
buộc, vừa phải tuyên truyền giáo dục, động viên để sinh viên chấp hành một
cách tự giác, nghiêm minh, từ đó sinh viên phải tự nhận được những hành vi
chuẩn theo các giá trị giáo dục như:
13
- Chăm chỉ học tập, rèn luyện bản thân, xây dựng tính tự lập; giúp đỡ
lẫn nhau trong học tập; tự giác trong kiểm tra, không quay cóp, không mở tài
liệu; tìm tòi vận dụng các phương pháp học tập tốt; xây dựng nền nếp học tập,
thói quen đọc tài liệu và nghiên cứu tài liệu.
- Ngăn nắp, gọn gàng, ăn ở vệ sinh, tiết kiệm, bảo vệ của chung; chấp
hành tốt quy định phòng ở; tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục
thể thao; chống lại các hành vi như: Cờ bạc, bia rượu, lưu trữ văn hóa phẩm
đồi trụy, tuyên truyền mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội khác; sử dụng thời
gian hợp lý hơn vào các hoạt động học tập; xây dựng hành vi thói quen tự
quản, tự rèn luyện.
- Thể hiện tình cảm với thầy cô, cán bộ công nhân viên bằng lòng kính
trọng; với bạn bè bằng tình cảm thân thiện, đúng mực; quan tâm giúp đỡ mọi
người; xây dựng mối quan hệ tình bạn, tình yêu trong sáng; sống hồn nhiên,
vui tươi, yêu đời.
Để cụ thể hóa các điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội cũng như các chế
độ trong ngày, trong tuần. Trung tâm đã soạn thảo ban hành các điều quy định
mà sinh viên chuyên ngành GDQP & AN tại Trung tâm phải cam kết thực
thời gian học tập. Trước khi học tập, người phụ trách hoặc trực ban lớp học
phải tập hợp sinh viên, kiểm tra sĩ số, trang phục, vũ khí, học cụ, khám súng,
sau đó báo cáo với giảng viên. Sinh viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật thao
trường. Súng, đạn (nếu có), trang bị chưa dùng trong luyện tập phải có người
canh gác. Hết giờ luyện tập người phụ trách hoặc trực ban lớp học phải tập
hợp sinh viên, khám súng, kiểm tra sĩ số, vũ khí, học cụ và các trang bị khác,
chỉnh đốn hàng ngũ, báo cáo giảng viên cho sinh viên nghỉ, sau đó chỉ huy
sinh viên về đơn vị, hoặc nghỉ tại thao trường. Trường hợp có cấp trên của
giảng viên ở đó thì giảng viên phải báo cáo cấp trên trước khi lên, xuống lớp.
Ngoài giờ lên lớp, thời gian tự học sinh viên sử dụng thời gian vào các
hoạt động lao động, sinh hoạt giải trí văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao. Đây
là những hoạt động không thể thiếu và có tác dụng tích cực trong việc giúp
15
sinh viên bổ sung, ứng dụng kiến thức học được qua sách vở vào thực tiễn
cuộc sống nếu như những hoạt động đó nằm trong kế hoạch và có tổ chức, có
định hướng giáo dục rõ ràng của các cơ quan, đơn vị. Đối với những hoạt
động này cần tạo điều kiện tốt để sinh viên thể hiện năng lực của mình trong
hoạt động thực tiễn, đồng thời phát hiện những thiếu sót, yếu điểm để kịp thời
bổ xung, sửa chữa nhằm hoàn thiện các nội dung đào tạo. Kịp thời ngăn chặn
và nghiêm khắc xử lí đối với các hoạt động dưới hình thức tổ chức nhóm, cục
bộ, vùng miền, địa phương, mang tính tự phát mà nội dung không lành mạnh
ảnh hưởng tới môi trường đào tạo của Trung tâm. Đó là những hoạt động vừa
mất thời gian và ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên.
1.5.2. Rèn luyện kỷ luật cho sinh viên trong việc thực hiện các chế độ trong
ngày, trong tuần
Các chế độ quy định của quân đội được xây dựng trên cơ sở thực tiễn
trong hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta, nó
môi trường.... Đây là những hoạt động không thể thiếu trong hoạt động hàng
ngày tại trung tâm GDQP & AN nó có tác dụng rất tích cực trong việc giúp
sinh viên bổ sung, ứng dụng kiến thức học được qua sách vở vào thực tiễn
cuộc sống, được trải nghiệm cuộc sống. Đặc biệt những hoạt động đó nằm
trong kế hoạch và có tổ chức, có định hướng giáo dục rõ ràng, tổ chức phân
công cụ thể, có người phụ trách. Những thời gian ngoài giờ là thời điểm rất dễ
để sinh viên vi phạm các quy định, vi phạm kỷ luật, do vậy việc duy trì
nghiêm túc kỷ luật quân đội trong các hoạt động này là hết sức quan trọng với
quan điểm là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Đồng thời ngăn chặn và nghiêm
khắc xử lý các sinh viên, đối với các hành động sai trái vi phạm kỷ luật, vi
phạm nội quy của Trung tâm.
Sinh viên chuyên ngành GDQP & AN là sinh viên học giáo dục nhưng
lại mang đặc thù quân sự, nên hoạt động tập thể vừa mang tính quân sự và
mang tính dân sự. Sinh viên tham gia hoạt động tập thể sẽ góp phần nâng cao
những kỹ năng của bản thân, tạo lối sống hòa đồng thân thiện, bên cạnh đó
17
giúp sinh viên có ý thức hơn về tinh thần tập thể, biết loại bỏ cái tôi để đạt
mục đích cao nhất cho tập thể.
1.5.4. Rèn luyện kỷ luật cho sinh viên trong quan hệ giao tiếp và ứng xử
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, mở cửa, đã đem lại những thành tựu
không nhỏ về kinh tế giúp cho đời sống của nhân dân được nâng cao, cơ hội
đi học đại học, cao đẳng cho thanh niên được nhiều hơn và thuận lợi hơn.
Nhưng bên cạnh những thuận lợi đó thì cũng kéo theo những mặt hạn chế
không nhỏ đặc biệt cho thanh niên ở độ tuổi học cao đẳng, đại học trong đó có
quan hệ ứng xử. Đặc biệt là quan hệ giữa sinh viên với sinh viên, giữa sinh
viên với cán bộ, giảng viên không chuẩn mực, quan hệ nam nữ không phù
hợp, không trong sáng, lối sống thực dụng.