TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
```````````````````````````````````
KHOA SINH - KTNN
--------------
-------------
HOÀNG THỊ THÙY NHƯ
THÀNH PHẦN THIÊN ĐỊCH BẮT MỒI TRÊN CÂY
CHÈ TẠI NGỌC THANH – PHÚC YÊN – VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh học ứng dụng
Người hướng dẫn khoa học
ThS. VŨ THỊ THƯƠNG
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc
nhất đến cô giáo – người hướng dẫn khoa học: Th.S Vũ Thị Thương đã tận
tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện.
Em xin trân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN tạo điều kiện tốt nhất trong suốt
quá trình em thực hiện đề tài.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu nghiên cứu khoa học nên không tránh
Bảng 3.4. Mối quan hệ giữa bọ xít Coranus spniscutis với sâu non bộ cánh
vẩy hại chè 3 tháng đầu năm 2017 tại Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc. 30
Bảng 3.5. Diễn biến mật độ bọ rùa đỏ Micrapis discolor Fabr trên chè 3
tháng đầu năm 2017 tại Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc ....................... 33
Bảng 3.6. Mối tương quan giữa bọ rùa đỏ Micrapis discolor Fabr và rệp hại
trên cây chè 3 tháng đầu năm 2017 tại Ngọc Thanh – Phúc Yên – Vĩnh Phúc
......................................................................................................................... 35
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Sơ đồ thể hiện diễn biến mật độ bọ xít Coranus spniscutis trên chè
trong 3 tháng đầu năm 2017 tại Ngọc Thanh – Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
Hình 2: Sơ đồ thể hiện diễn biến mật độ bọ rùa đỏ Micrapis discolor Fabr
trên chè trong 3 tháng đầu năm 2017 tại Ngọc Thanh – Phúc Yên – Vĩnh
Phúc.
Hình 3: Sơ đồ thể hiện mối tương quan giữa bọ xít Coranus spniscutis và sâu
non bộ cánh vẩy trên cây chè trong 3 tháng đầu năm 2017 tại Ngọc Thanh –
Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
Hình 4: Sơ đồ thể hiện mối tương quan giữa bọ rùa đỏ Micrapis discolor Fabr
và rệp hại chè trên cây chè trong 3 tháng đầu năm 2017 tại Ngọc Thanh –
Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV:
Bảo vệ thực vật
2.1.1. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 15
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 15
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 15
2.1.4. Dụng cụ nghiên cứu .............................................................................. 15
2.1.5. Vật liệu nghiên cứu ............................................................................... 16
2.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 16
2.3. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 16
2.3.1. Phương pháp điều tra thành phần các loài thiên địch của chúng trên chè
......................................................................................................................... 16
2.3.2. Phương pháp điều tra biến động số lượng của các loài thiên địch trên
cây chè ............................................................................................................. 17
2.3.3. Phương pháp đánh giá mối quan hệ giữa thiên địch bắt mồi và sâu hại
trên chè……………………………………………………………………….
2.3.4. Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu vật .............................................. 18
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 19
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 21
3.1. Đặc điểm sản xuất chè Ngọc Thanh - Tx Phúc Yên - Vĩnh Phúc............ 21
3.2. Thành phần thiên địch trên cây chè vụ Xuân tại Ngọc Thanh - Phúc Yên Vĩnh Phúc ........................................................................................................ 22
3.3. Phổ vật mồi của một số thiên địch bắt mồi trên cây chè vụ Xuân tại Ngọc
Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc ....................................................................... 25
3.4. Diễn biến mật độ bọ xít Coranus spniscutis Reuter trên chè vụ Xuân năm
2017 tại Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc ............................................... 27
3.5. Mối tương quan giữa bọ xít Coranus spniscutis Reuter và sâu non cánh
vẩy .................................................................................................................. 29
3.6. Diễn biến mật độ bọ rùa đỏ Micrapis discolor Fabr trên chè 3 tháng đầu
năm 2017 tại Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc ....................................... 31
3.7. Mối tương quan giữa bọ rùa đỏ Micrapis discolor Fabr và rệp hại chè . 35
3.8. Thực trạng sử dụng khích lệ thiên địch bắt mồi trên cây chè tại địa điểm
thiết đặt ra cho ngành chè Việt Nam. Để góp phần giải quyết những tồn tại về
phương diện Bảo vệ thực vật cho ngành chè và là cơ sở của những nghiên cứu
tiếp theo, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thiên địch bắt mồi trên cây chè tại Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh
Phúc”.
1
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thành phần thiên địch bắt mồi trên cây chè tại Ngọc ThanhPhúc Yên-Vĩnh Phúc, sự phát sinh, phát triển, phổ vật mồi của một số loài
thiên địch phổ biến trên cây chè. Làm cơ sở để đề xuất các biện pháp sử dụng
các loài bắt mồi trong kiểm soát số lượng sâu hại chè nhằm giảm thiểu việc sử
dụng thuốc hoá học và các dư lượng độc hại trên sản phẩm chè, thúc đẩy sự
nhân nuôi các loài bắt mồi sử dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp biền vững.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định thành phần, mức độ phổ biến của côn trùng bắt mồi trên chè
tại địa điểm nghiên cứu.
- Xác định được phổ vật mồi, sự phát sinh, phát triển theo thời gian trong
thời gian nghiên cứu của một số loài thiên địch trên cây chè tại địa điểm
nghiên cứu.
- Xác định được thực trạng sử dụng khích lệ các loài bắt mồi trên cây
chè tại địa điểm nghiên cứu.
4. Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của đề tài
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để bảo tồn và sử dụng các loài thiên địch
bắt mồi một cách hiệu quả để giảm thiếu sâu hại cũng như việc giảm thiếu
việc sử thuốc trừ sâu hóa học. Qua đó, làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và
tạo cơ sơ để phát triển giống chè mang lại kinh tế cho người dân.
2
các loài sâu hại cho thấy công thức phun thuốc 3 lần làm giảm số lượng cuả
loài côn trùng bắt mồi này và phá vỡ mối tuơng quan số lượng với vật mồi
(Geetha et.al., 1992) [24].
Việc nhân nuôi và sử dụng các loài côn trùng ký sinh, bắt mồi trong
phòng trừ sinh học sâu hại chè để giảm bớt hay loại trừ côn trùng hại chè
cũng đã được áp dụng ở nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia,
Thái Lan (DeBach, 1974) [23].
Tại Châu Âu, thành công trong nhân nuôi thiên địch là rất rõ ràng. Trong
thế kỷ XX có 150 loài thiên địch đã được nhập để phòng chống 50 loài côn
trùng và nhện hại. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là cho đến năm 1970
người ta chỉ chú trọng đến biện pháp sinh học cổ điển. Sau năm 1970, Biện
pháp sinh học được áp dụng rộng rãi hơn cả trong nhà kính và trên đồng
ruộng. Đã sử dụng 60 loài thien địch nhập nội và 40 loài thiên địch địa
phương để phòng chống 50 loài sâu hại.
Trên thế giới rất nhiều nước như Mỹ, Hà Lan, Trung Quốc…đã có kinh
nghiệm sản xuất và sử dụng những thiên địch sống. Rất nhiều công ty sinh
học như Biomist Technology, Planet Natural (Mỹ), Koppert (Hà Lan)… đã
tung ra thị trường nhiều loại thiên địch, giúp nông dân sử dụng trên ruộng
đồng, đặc biệt trong các nhà kiếng trồng hoa kiểng và các loại cây ăn trái như
dưa chuột, bầu bí, cam chanh…
Ở Thái Lan, nhân nuôi loài bọ rùa đỏ Micraspis discolor (F.) và sử dụng
loài bọ rùa đỏ này ở pha ấu trùng (tuổi 1- 4) và trưởng thành đã đem lại hiệu
quả cao trong phòng trừ rệp đậu trong nhà kính (Jamie McIntosh, 2008). Nuôi
trưởng thành và ấu trùng của một số loài bọ rùa (Propylaea japonica,
Harmonia axyridis, Scymnus hoffmanni) và loài bọ mắt vàng (Chrysopa
pallens, Chrysopa formosa) nhằm sử dụng để phòng trừ một số loài rầy trắng
(Homoptera: Aleyrodidae) ở Trung Quốc đã thu được một số kết quả khả
5
sâu hại phổ biến hoặc là thiên địch trên cây chè nhưng chưa phát hiện thấy
trong những năm 2006 - 2011 do thâm canh cây chè. Hầu hết các loài sâu hại
có mức độ hiện diện rất thấp và thấp trên cây chè. Riêng rầy xanh, bọ xít
muỗi, bọ trĩ, nhện đỏ nâu có mức độ hiện diện cao đến rất cao và là sâu hại
quan trọng, phải phòng trừ. Tất cả các loài thiên địch đều mức độ hiện diện
rất thấp, trừ loài nhện lớn bắt mồi Argyrodes sp. có mức độ hiện diện từ thấp
đến trung bình. Vì vậy, thiên địch không biểu hiện được vai trò hạn chế sâu
hại chè.
Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam năm 1981 đã ghi
nhận 26 loài côn trùng bắt mồi thuộc 3 bộ, 6 họ trên cây chè, trong đó đã xác
định được tên 12 loài còn 14 loài chưa xác định được tên (Ủy ban khoa học
Nhà nước, 1981) [19]. Tại Vĩnh Phúc trong 12 loài bắt mồi trên một số cây
trồng trong đó có cây chè thuộc 5 bộ bao gồm bộ cánh cứng (Coleoptera)
chiếm số lượng loài lớn nhất (37,8%). Loài bọ xít bắt mồi Orius sauteri và
Campylomma chinensis mà vật mồi là loài bọ trĩ trên chè đã được nghiên cứu
đặc điểm hình thái cũng như diễn biến mật độ của loài bọ xít bắt mồi cũng đã
được nghiên cứu (Bùi Tuấn Việt, 1993) [20]. Nhóm bọ xít bắt mồi (loài
Sycanus falleni, Sycanus croceovittatus (họ Reduviidae), Nabis punctatus (họ
Nabidae), Andrallus spinidens, Cantheconidae furcellata (họ Pentatomidae),
Orius sauteri (họ Anthocoridae) và Cyrtorhinus livipennis (họ Miridae) là
thiên địch của nhiều loài côn trùng gây hại trên bông, đậu tương, ngô, cà tím,
bầu, bí xanh, đậu đỗ, dưa chuột, khoai tây và cây chè.
Nhện bắt mồi có tên khoa học là Amblyseius. sp có sẵn trong môi trường
tự nhiên ở nước ta có vòng đời ngắn, sức sinh sản cao, thường phát triển
mạnh từ tháng 2 đến tháng 11 hàng năm. Thức ăn chủ yếu của loài nhện này
là các con nhện đỏ son thường cư trú trên cây chè và các loài cây trồng khác.
sức khỏe cho mọi người mà chất lượng chè vẫn đảm bảo nên mọi nhà muốn
làm theo. Tuy vậy đối với chè, những nghiên cứu về thiên địch bắt mồi này,
7
được biết còn rất hạn chế và mới chỉ là bước đầu.
Nghiên cứu đặc điểm sinh học một số loài côn trùng bắt mồi, mối quan
hệ giữa vật bắt mồi - vật mồi và biến động số lượng của một số loài bắt mồi
cũng đã được nghiên cứu. Các nghiên cứu về sinh học của các loài thuộc
nhóm côn trùng bắt mồi đã tập trung ở một số loài như: bọ rùa sáu vằn
Menochilus sexmaculatus, bọ rùa đỏ Micraspis discolor (họ Coccinelllidae),
bọ xít Cantheconidae furcellata (họ Pentatomidae), bọ xít Orius sauteri và
Xylocoris flavipes (họ Anthocoridae), bọ xít Cyrtorhinus livipennis (họ
Miridae) và ruồi ăn rệp Ischiodon scutellaris (họ Syrphidae). Các kết quả
nghiên cứu về sinh học một số loài côn trùng bắt mồi về các đặc điểm sinh
học của một số loài bọ xít bắt mồi (bọ xít cổ ngỗng đỏ Sycanus falleni, bọ xít
cổ ngỗng đen Sycanus croceovittatus, bọ xít nâu Coranus spiniscutis Reuter
thuộc họ Reduviidae, bọ xít nâu viền trắng Andrallus spinidens thuộc họ
Pentatomidae) ở các điều kiện khác nhau trong phòng thí nghiệm (Trương
Xuân Lam và ctv, 2000, 2002, 2004) [6, 7, 8].
Các mối quan hệ khác loài là những yếu tố quan trọng đối với đời
sống của các loài côn trùng bắt mồi. Tổ hợp các quan hệ tương hỗ đó thường
mang tính chất ảnh hưởng hai chiều và được gọi là sự ảnh hưởng của các yếu
tố hữu sinh (Phạm Bình Quyền, 1994) [15]. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa
vật bắt mồi - vật mồi của một số loài bắt mồi với con mồi thì mới được
nghiên cứu với loài bọ xít cổ ngỗng đen bắt mồi Sycanus croceovittatus và
Sycanus croceovittatus (vật bắt mồi) với loài sâu hại (vật mồi) và tương quan
của chúng, mối quan hệ với sâu hại của loài bọ xít bắt mồi Coranus
spiniscutis Reuter (Heteroptera: Reduviidae) ở vùng Hà Nội (Trương Xuân
Coccinellidae, Ngành: Chân khớp (Arthropoda), Lớp: Sâu bọ (Insecta), Bộ:
Cánh cứng ( Coleoptera), Họ: Bọ rùa (Coccinellidae).
Nhiều chuyên khảo về thành phần khu họ rùa ở các khu vực khác nhau ở
trên thế giới đã được lần lượt công bố. Ở Bắc Mỹ Họ bọ rùa Coccinellidae đã
9
được Latreille nghiên cứu vào năm 1807. Chúng được gọi bằng tên tiếng Anh
như: Ladybird beetles, Lady Beetles, Ladybirds. Họ bọ rùa thuộc tổng họ
Cucujoidea của bộ cánh cứng Coleoptera. Tại Bắc Mỹ, họ bọ rùa có 4 phân
họ. Phân họ Chilocorinae có 1 giống Chilocoris phân họ thứ 2: Coccinellinae
có 13 giống: Adalia, Anatis, Anisosticta, Calvia, Coccinella, Coccinellinae,
Coleomagilla, Cycloneda, Harmonia, Hippodamia, Mulsantia, Neoharmonia,
Propylea, Psyllobora; phân họ thứ 3: Epilachninae có 1 giống Epilachna; phân
họ thứ 4: Scymninae có 3 giống: Brachiacantha,Cryptolaemus, Hyperaspis.
Với 4 phân họ kể trên , người ta xác định có hơn 450loài. Phần lớn các loài bọ
rùa này dược phát hiện trên các cây trồng ở ruộng và vườn. Chúng được biết
đến như các loài côn trùng ăn thịt có ích. Vật mồi củachúng chủ yếu là rệp.
Có loài ăn ve, bét, có loài ăn trứng của bọ cánh phấn và ăn những côn trùng
nhỏ khác. Bọ rùa ăn rệp ở 2 giai đoạn trưởng thành và ấu trùng. Ở Nam Phi đã
xác định họ bọ rùa Coccinellidae gồm 8 phân họ: Sticholotidinae, Scymninae,
Hyperaspinae,
Chilocorinae,
Coccinellinae,
Coccidulinae,
chạy
(Carabidae), 20 loài thuộc họ Hổ trùng (Cicindelidae), Họ Chuồn
chuồn
cỏ
(Chrysopidae),
họ
Ruồi
ăn
rệp (Syrphidae), họ Bọ ngựa
(Mantodae), Họ Kiến (Formicidae). Riêng Bọ rùa được nghiên cứu chi tiết,
trong số 63 loài được ghi nhận ở Việt Nam thì có 48 loài có ích. Hệ Bọ rùa ở
Việt Nam được đánh giá đa dạng và có tỉ lệ đặc hữu cao. Theo Phạm Văn
Lầm (2005), thành phần thiên địch rệp muội được ghi nhận trên các cây trồng
(1981- 2004) là 52 loài thuộc 4 họ. Trong đó số loài thiên dịch tập trung chủ
yếu ở bộ Cánh cứng Coleoptera 23 loài tiếp theo là bộ Hai cánh Diptera 14
loài, bộ Cánh màng Hymenoptera 11 loài. Trong những nghiên cứu của mình
Phạm Văn Lầm đánh giá cao vai trò của côn trùng bắt mồi, đặc biệt là bọ rùa
ăn thịt khống chế quần thể rệp. Thành phần ruồi bắt mồi họ Syrphidae trên
một số loại rau cải xanh, cải ngọt, su hào vụ thu đông ở Đặng Xá- Gia Lâm –
Hà Nội được xác định là có 7 loài. Trong đó loài Ischiodon scutellaris phù
hợp với kết quả nghiên cứu của Qúach Thị Ngọ (2002). Ngoài ra còn có thêm
hại thực vật.
Nghiên cứu về vòng đời, đặc điểm sinh vật học của các loài bọ rùa tuy
chưa nhiều nhưng cũng đã có những công trình nghiên cứu khá nhiều chi tiết
về một số loài bọ rùa phổ biến. Nghiên cứu của Hồ Thị Thu Giang (1996) [4]
về loài bọ rùa 6 vằn Menochilus sexmaculatus khi nuôi bằng rệp cải có vòng
đời trung bình là 28,8 ± 0,9 ngày ở điều kiện nhiệt độ trung bình là 18,9◦C,
ẩm độ trung bình là 81,6%. Khả năng đẻ trứng của bọ rùa dao động 272,5 328 quả. Sâu non bọ rùa có 4 tuổi, sức ăn rệp cải của bọ rùa tăng dần từ tuổi 1
đến trưởng thành. Sức ăn của sâu non tuổi 1 cao nhất đạt 9,8 ± 0,99 con/ngày
ở điều kiện nhiệt độ trung bình 75,6%, còn trưởng thành đạt 81,1 ± 0,99 con/
ngày ở điều kiện nhiệt độ trung bình ở 20,1◦C, ẩm độ trung bình 93,1% (Đặng
Thị Khánh Phương) [13].
12
Trần Đình Chiến (2002) [1], cho biết vòng đời của loài bọ rùa 6 vằn
Menochilus sexmacculatus trung bình 25,31 ± 2,61 ngày ở 25,9 - 29,0◦C và
ẩm độ 81,7 - 90,3%. Trưởng thành cái đẻ trung bình 219,4 quả trứng, ăn 87,6
con rệp đậu tượng trên ngày. Chúng có khả năng ăn nhiều loài rệp khác nhau
(rệp đậu tương, rệp ngô, rệp cây chè) nhưng thích ăn nhất là rệp cây chè.
Bọ rùa chữ nhân Coccinella transversalis có vòng đời kéo dài từ 20 - 27
ngày. Trong đó pha trứng 3 - 4 ngày, pha ấu trùng 14 - 17 ngày, pha nhộng 3 6 ngày. Khả năng ăn rệp Aphis gossypii của bọ rùa trưởng thành trung bình là
29 ± 3 rệp/ngày. Nếu thiếu thức ăn, cả ấu trùng và trưởng thành đều ăn trứng
hoặc các ấu trùng tuổi nhỏ hơn. (Mai Phú Quý 2005) [14].
Vòng đời của bọ rùa đỏ khi ăn rệp đậu tượng (Aphis glycines) là 26,54 ±
1,25 ngày ở điều kiện nhiệt độ trung bình 29,8◦C và ẩm độ trung bình là
83,5%. Vòng đời của bọ rùa đỏ là 36,56 ± 1,7 ngày ở nhiệt độ trung bình là
25,6◦C. Sức ăn của bọ rùa đỏ trong một ngày tăng dần từ tuổi 1 đến trưởng
thành. Pha trưởng thành ăn hết 808,56 ± 23,39 rệp. Loài rệp thích hợp nhất
cho bọ rùa đỏ là rệp đậu, rệp chè, rệp cải. Tổng số trứng đẻ trung bình của
môn Côn trùng, Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội đã thành công trong việc
nhân nuôi và sử dụng một số thiên địch trong việc phòng trừ dịch hại bảo vệ
cây trồng, hạn chế sử dụng thuốc hóa học theo hướng đấu tranh sinh học,
nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng nông sản, góp phần xây dựng một
nền nông nghiệp sạch và ổn định.Vì vậy nông dân cần bảo vệ “người bạn”
của mình bằng biện pháp canh tác thích hợp, sử dụng thuốc BVTV một cách
hợp lý, không cần thiết phun thuốc quá nhiều lần và qua liều lượng hoặc nồng
độ, nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác, bảo vệ sức
khỏe và môi trường sinh thái.
14
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian, địa điểm, đối tượng và dụng cụ nghiên cứu
2.1.1. Thời gian nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên cây chè trong thời gian : Từ tháng
01/2017 đến tháng 04/2017.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
- Ngọc Thanh - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
- Phòng thí nghiệm khoa Sinh - Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2.
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Cây trồng : cây chè.
- Thiên địch bắt mồi : Bọ rùa đỏ (Micraspis dicolor Fabr ), Bọ Ngựa
(Enipusa unicornis (L)), Ong đen kí sinh (Telennomus cyrus), chuồn chuồn
đỏ (Neurothenris fulvia)...
2.1.4. Dụng cụ nghiên cứu
- Dụng cụ thu bắt mẫu trong điều tra các loại bẫy côn trùng như:
+ Khay điều tra
mồi trên cây chè. Tại mỗi địa điểm nghiên cứu, chọn 3 khu ruộng/vườn chè
đại diện cho các yếu tố canh tác và sinh thái. Trên các ruộng/vườn trồng chè
điều tra, tiến hành điều tra ngẫu nhiên theo hàng chè bằng vợt côn trùng (D =
45cm), vợt ngẫu nhiên dọc theo chiều dọc của hàng chè cứ 10 hàng vợt ngẫu
nhiên 1 hàng, sao cho hàng chè chọn sau không trùng với hàng chè chọn trước
và thu tất cả các mẫu sâu hại và côn trùng bắt mồi có trong vợt. Ghi chép vật
mồi để xã định phổ vật mồi và chụp ảnh quá trình bắt mồi của các loài côn
trùng bắt mồi trên chè. Mẫu vật thu được đem về phòng thí nghiệm để làm
mẫu. Đồng thời thu tất cả các pha phát triển (trứng, ấu trùng...) của sâu hại và
vật bắt mồi trên chè đem về phòng nuôi theo dõi ký sinh của chúng.
16