TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
DƯƠNG THỊ HÀ
GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRUYỆN ĐỒNG THOẠI VÕ QUẢNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Thiếu nhi
Người hướng dẫn khoa học:
Th.S Nguyễn Ngọc Thi
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thạc sĩ Nguyễn
Ngọc Thi - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp.Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo
trong khoa Giáo dục Tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Dương Thị Hà
LỜI CAM ĐOAN
1.2.3. Bài học giáo dục ................................................................................ 17
CHƯƠNG 2......................................................................................................... 23
GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRUYỆN ĐỒNG THOẠI VÕ QUẢNG.............. 23
2.1. Nghệ thuật nhân hóa ............................................................................... 23
2.2. Nghệ thuật miêu tả .................................................................................. 25
2.3. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ ................................................................ 29
2.4. Không gian và thời gian nghệ thuật ...................................................... 32
2.4.1. Không gian nghệ thuật ..................................................................... 32
2.4.2. Thời gian nghệ thuật......................................................................... 35
2.5. Chất dân gian........................................................................................... 38
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 44
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 46
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do khách quan
Có một nhà văn đã từng quan niệm: “ Không nên dè sẻn, không nên
tính toán rằng mình sẽ véo mẩu này trong toàn bộ vốn liếng của mình ra để
viết truyện này, còn mẩu kia thì dành viết truyện khác. Mỗi khi viết một
truyện dù nhỏ nhất, nhà văn cũng phải dốc hết cả cuộc đời dành trọn cả tấm
lòng và sự hiểu biết của mình vào đó.” Đây chính là nỗi niềm, tâm sự của nhà
thơ, nhà văn Võ Quảng – một trong những cây bút hiếm hoi đã dành trọn cả
cuộc đời sáng tác của mình chỉ để viết cho thiếu nhi và ông đã thực sự nêu
gương đó trong cả cuộc đời mình.
Đến với văn học thiếu nhi khá muộn, nói như ông Nguyễn Huy Thắng,
Phó giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng: “Võ Quảng đến với văn học thiếu nhi
đậy/ Lau lách ngủ yên… (Anh Đom đóm). Những bài thơ bình dị nhưng lại rất
gần gũi với cuộc sống thường ngày. Trước những quang cảnh quen thuộc
xung quanh cuộc sống của trẻ em nông thôn, Võ Quảng đã dạy cho các em
thiếu nhi có được sự quan sát, khám phá rất riêng của tuổi thơ, truyền cho các
em thiếu nhi lòng yêu thương thế giới cỏ cây, loài vật, từ đó hướng tới yêu cái
thiện, các đẹp trong cuộc sống thường ngày.
Không chỉ nổi tiếng với những tập thơ, Võ Quảng còn được biết đến
với những truyện đồng thoại viết cho thiếu nhi nhỏ nhắn mà xinh xắn, hồn
nhiên và đậm đà sự sống vui, làm gắn bó được nhu cầu ham hiểu biết và
hướng về điều thiện của các lứa tuổi trẻ. Phong Lê có viết: “Sau Dế mèn
phiêu lưu ký của Tô Hoài, chúng ta thật sự được hưởng một niềm vui trẻ thơ
mà không hời hợt hoặc khiên cưỡng trong mỗi truyện của Võ Quảng.”
[8; 358] . Truyện đồng thoại của Võ Quảng được tập hợp trong các tập truyện:
Những chiếc áo ấm (1970), Bài học tốt (1975) và tập Vượn hú với những
2
truyện tiêu biểu như: Chuyến đi thứ hai, Bài học tốt, Trong một hồ nước, Hòn
đá, Mèo tắm, Trăng thức, Những chiếc áo ấm,...Tất cả đã tạo nên một tài sản
quý giá của Võ Quảng về truyện đồng thoại, đóng góp cho kho tàng văn học
Việt Nam.
Đến với truyện đồng thoại của Võ Quảng, với góc độ nghiên cứu về
phương diện nội dung và nghệ thuật, tác giả khóa luận mong muốn sẽ tiếp cận
với một thể loại văn học được thiếu nhi rất yêu thích.
1.2. Lý do sư phạm
Nghiên cứu “Giá trị nội dung và nghệ thuật truyện đồng thoại Võ
Quảng” có ý nghĩa lớn với tôi trong việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn
chương cũng như trong công tác giảng dạy sau này. Việc nghiên cứu giúp tôi
hiểu sâu sắc hơn về truyện đồng thoại viết cho thiếu nhi, đồng thời tôi cũng
hiểu hơn sự yêu thích của thiếu nhi khi tiếp nhận tác phẩm dành cho chính các
thanh, ý nghĩ và hành động cùng xôn xao, quẫy cựa lên để rồi sau đó tất cả lại
lặng tắt đi, trầm lắng sau cái ngụ ý, cái ngôn náu bên trong câu chữ. Phải
chăng vì thế mà một số đồng thoại của anh mang dáng dấp ngụ ngôn. Tự
nhiên tôi nghĩ cách viết truyện của Võ Quảng khác nào công phu một con trai
trong Trai và Ốc gai đã chắt lọc ánh sáng màu sắc của Mặt trời và Mặt trăng,
của sao đêm và biển cả để làm nên ngọc quý. Nếu tư tưởng và ngôn ngữ được
chắt lọc thành những tia sáng và gam màu tinh diệu – rút ra từ cuộc sống và
lao động sáng tạo – thì có thể xem đó là văn chương – ngọc quý”. [3; 5]
Trong Truyện viết cho thiếu nhi dưới chế độ mới, Vân Thanh có viết:
“Một đặc điểm đáng quý trong truyện đồng thoại Võ Quảng là anh rất nghiêm
túc trong cách viết. Ngôn ngữ của anh trong sáng, ngắn gọn, ít có những đoạn
rườm rà, kéo dài […] Truyện không những phải giáo dục các em lý tưởng,
chắp cánh cho các em bay bổng, giúp các em mở rộng tri thức, thực hiện
4
những ước mơ mà còn phải dạy các em trau dồi lời ăn tiếng nói hàng ngày”
[17; 158]
Với các tập truyện đồng thoại: Những chiếc áo ấm, Bài học tốt, Vượn
hú,... cũng có nhiều đánh giá, nhận xét khác nhau tuy nhiên còn tản mạn.
Như vậy những lời nhận xét, đánh giá mới chỉ dừng lại ở những nhận
định bao quát, chưa đi sâu nghiên cứu vai trò của truyện đồng thoại Võ Quảng
trên phương diện nội dung và nghệ thuật một cách cụ thể.
Mỗi tác giả đưa ra một nhận định ở một khía cạnh khác nhau. Qua đó
đã khẳng định được tài năng, tấm lòng và sự nhiệt huyết của Võ Quảng khi
viết các tác phẩm dành cho các em thiếu nhi. Bản thân tôi cũng muốn đóng
góp ý kiến của mình thông qua nghiên cứu “Giá trị nội dung và nghệ thuật
trong truyện đồng thoại Võ Quảng”.
3. Mục đích nghiên cứu
Giá trị nội dung và nghệ thuật không phải là vấn đề mới nhưng đây là
GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRUYỆN ĐỒNG THOẠI VÕ QUẢNG
1.1. Vài nét về truyện đồng thoại
1.1.1. Khái niệm truyện đồng thoại
1.1.1.1. Nguồn gốc khái niệm
Theo Hoàng Vân Sinh, “từ đồng thoại ở Trung văn được du nhập từ
Nhật Bản, xuất hiện ở Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. Dấu mốc đầu
tiên của nó là bộ Tùng thư đồng thoại do Tôn Dục Tu chủ biên, Thương vụ ấn
thư quán xuất bản năm 1909”. [15; 1]
Ở Nhật, truyện kể cho trẻ em được gọi là: Dowa, dịch sang Hán ngữ là:
đồng thoại.
Ban đầu, đồng thoại được hiểu theo nghĩa rộng, gồm tất cả mọi tác
phẩm có tính kể chuyện cho trẻ em. Về sau, đến thời Ngũ Tứ, người ta mới
xem “đồng thoại là văn học viễn tưởng có tính đặc thù, trở thành một thể loại
độc lập” [15; 1], có địa vị quan trọng trong văn học nhi đồng. Cách hiểu này
được duy trì từ đó cho đến nay.
Theo nghiên cứu của Lê Nhật Ký, lý thuyết Trung Hoa cho rằng, đồng
thoại nảy sinh từ trong dân gian và được tiếp nối trong thời hiện đại. Vì vậy,
kho tàng đồng thoại Trung Hoa gồm có đồng thoại dân gian và đồng thoại
hiện đại. Đồng thoại dân gian là những sáng tác của quần chúng nhân dân,
“phản ánh những yêu cầu bức thiết của nhân dân trong xã hội cũ và nguyện
vọng thoát khỏi ách áp bức bóc lột, mưu cầu tự do hạnh phúc” (Vương Kiến
Huy - Dịch Học Kim, 2004, tr.1156). Đồng thoại hiện đại là những sáng tác
của các nhà văn dựa trên cơ sở của đồng thoại dân gian, hoặc là chất liệu,
hoặc là nguyên tắc nghệ thuật. Ở Trung Hoa, đồng thoại hiện đại được bắt đầu
với vai trò của Diệp Thánh Đào. Trong hai năm 1921, 1922, Diệp Thánh Đào
7
đã sáng tác liên tiếp 23 tác phẩm, tiêu biểu có Con Bù nhìn rơm, Chiếc thuyền
trắng nhỏ... Đến 1923, ông xuất bản thành tập Con Bù nhìn rơm, gây được
Hoàn cảnh đưa đến sự ra đời của khái niệm là việc sau khi miền Bắc
được hoàn toàn giải phóng, chúng ta bắt tay xây dựng nền văn học nghệ thuật
phục vụ thiếu niên nhi đồng. Nhằm thúc đẩy phong trào chung, nhà xuất bản
Văn học đã tổ chức dịch, giới thiệu một số tài liệu nước ngoài nói về lí luận
và kinh nghiệm sáng tác cho các em. Đó là các cuốn: 1/ Kinh nghiệm viết cho
các em (Nhiều tác giả, 1960); 2/ Sáng tác đồng thoại và một số vấn đề khác
(Kim Cận, 1963); 3/ Làm thơ cho các em (Nhiều tác giả, 1961). Theo nhà
nghiên cứu Nam Mộc, những tài liệu này đã thể hiện được một số vấn đề cơ
bản của văn học thiếu nhi, nêu lên được những ý kiến cơ bản về lí luận và
thực tiễn sáng tác phục vụ lớp bạn đọc nhỏ tuổi.
Vào thời điểm này, văn học Việt Nam hãy còn xa lạ với lý thuyết về
truyện đồng thoại. Cho đến năm 1961, trên báo Văn nghệ số tháng 9, nhà văn
đồng thời là nhà phê bình văn học thiếu nhi Vũ Ngọc Bình có bài viết Những
thiếu xót cần khắc phục trong sáng tác cho thiếu nhi. Nội dung bài viết là
đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế của văn học thiếu nhi qua mấy
năm đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Trong bài có một đoạn nói về truyện
đồng thoại như sau: “Còn đồng thoại là một thể loại không xa lạ gì lắm đối
với con em chúng ta. Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài trước kia và Cái tết
của Mèo con của Nguyễn Đình Thi gần đây đã chứng tỏ truyện đồng thoại là
một loại truyện khá đặc sắc cho thiếu nhi. Với sức tưởng tượng dồi dào và
nguồn nhân vật rộng rãi từ người đến súc vật, cỏ cây... đồng thoại có khả năng
phản ánh hiện thực thông qua mọi không gian thời gian” [2; 8]. Với bài viết
này, Vũ Ngọc Bình đã trở thành cây bút đầu tiên ở Việt Nam sử dụng khái
niệm truyện đồng thoại. Qua cách diễn đạt của ông, chúng ta thấy, truyện
đồng thoại được xem là truyện về loài vật nhân cách hóa.
9
Theo thời gian, khái niệm được sử dụng theo hướng ngày càng mở
rộng. Theo một thống kê chưa đầy đủ, khái niệm xuất hiện trong hàng trăm
chủ yếu vẫn là loài vật. “Nhân vật của đồng thoại và cuộc sống trong đồng
thoại mở ra đa dạng hơn. Nhân vật của đồng thoại không chỉ là người mà còn
đủ các loài vật, loài có xương sống, hoặc không có xương sống, biết nhảy,
biết bay, biết đi, biết lội... Nhân vật đồng thoại còn là các loài cỏ cây hoa quả
mọc ở bất cứ khí hậu nào. Cả từ cây kim, sợi chỉ cho đến đoàn tàu, chiếc cầu
sắt đều có thể biến thành nhân vật của đồng thoại” [13; 7]. Đóng góp của ông
trong bài viết này là chỉ ra mối quan hệ họ hàng của truyện đồng thoại và cổ
tích, dù sự phân biệt còn dừng lại ở mức sơ lược.
Nhà văn Trần Hoài Dương đưa ra ý kiến: “Từ đồng thoại vốn là từ vay
mượn của Trung Quốc. Theo đúng nghĩa của họ để chỉ “những truyện chép
cho trẻ em”, nhất là với lứa tuổi nhỏ, cho nhi đồng. Nhưng lâu nay ở ta, đồng
thoại được hiểu là loại truyện viết mang tính nhân cách hóa loài vật, đồ vật,
mang nhiều ẩn dụ, ngụ ngôn... Tôi dùng truyện tưởng tượng là không muốn
dùng một khái niệm nước ngoài đã bị hiểu sai đi, mang một nghĩa khác nhiều
với nguyên ý ban đầu của nó”. Đoạn văn trên được trích trực tiếp từ bức thư
do nhà văn trực tiếp gửi cho Viện văn học Việt Nam, thư đề ngày 13.03.2007.
Theo ông, khái niệm truyện đồng thoại đã không được sử dụng đúng như cái
“nguyên ý ban đầu của nó”. Đúng là, đồng thoại khởi đầu được hiểu là truyện
chép cho trẻ em”, nhưng qua thời gian, nó đã được quy ước lại.
Từ những ý kiến trên đây, tôi thấy có thể kết luận về cách sử dụng
truyện đồng thoại ở Việt Nam. Cũng như ở Trung Hoa, nội hàm khái niệm có
sự thay đổi, nhưng căn bản, nó được sử dụng chủ yếu theo nghĩa hẹp. Theo
đó, truyện đồng thoại là một thể loại hiện đại dành cho trẻ em, sử dụng loài
vật, đồ vật và các vật vô tri được nhân cách hóa làm nhân vật chính, có quan
hệ gần gũi với nhiều thể loại, nhất là cổ tích và ngụ ngôn...
11
1.1.2. Đặc điểm truyện đồng thoại
1.1.2.1. Nghệ thuật truyện đồng thoại
được nới rộng, người đọc không chỉ tiếp nhận bức tranh đời sống loài vật mà
còn cảm nhận được cuộc sống con người.
Trước hết, truyện đồng thoại thường dùng để ca ngợi cuộc sống mới,
con người mới. Những thành công về loại này khá nhiều, ví dụ: Chim chích
lạc rừng, Những mẩu chuyện nhỏ của Tô Hoài, Cái mai của Võ Quảng, Hải
đảo xa xôi của Hải Hồ...
Mục đích của loại này là nhằm gây cho các em lòng yêu mến cuộc sống
mới, tự hào về con người mới, về đất nước tươi đẹp đang trên đà phát triển
không ngừng. Nói về sự đổi thay nhanh chóng của quê hương dưới hình thức
đồng thoại, Tô Hoài kể cho các em: “Thế rồi, dây điện ở đâu xô về, chằng qua
cánh đồng đan chin chít như mắc võng. Đàn chim ri tính nhút nhát cứ hoảng
hốt bay nhảo bay nhào, bay đâm cả vào dây điện, thế là cu cậu tưởng bị mắc
lưới, liền cuống cuồng bay bùng lên”.
Truyện đồng thoại còn có thể được dùng để mô tả một cách sinh động
sinh hoạt của các em như: Cái Tết của mèo con của Nguyễn Đình Thi, Chú
đất nung của Nguyễn Kiên, Con mèo rét của Lê Minh, Hoa nào đẹp nhất
(kịch thơ đồng thoại) của Minh Tâm, Văn Biển, Trăng rơi xuống giếng của
Đào Vũ, Ánh sáng trong rừng hạnh phúc của Hoàng Anh Đường, Cuộc phiêu
lưu của mèo con và chó con của Chu Hồng Hải, Có trăng khó tính của
Nguyễn Quỳnh, Bác sĩ Sơn dương (tranh truyện) của Xuân Vinh, Ngô Đình
Chương. Các truyện trên đây nói chung đều được viết bằng bút pháp dí dỏm.
Nó có thể được dùng để miêu tả một nội dung khoa học, nhằm trang bị
kiến thức mới cho các em như: Ông Than Đá của Viết Linh, Lũ Bướm đêm
của Thế Vũ, Đỗ con của Thùy Dương, Những kẻ thù nhỏ bé của Trần Quán
Anh, Cô kiến trinh sát của Vũ Kim Dũng...
13
Ngoài các đề tài kể trên, còn phải chú ý loại đề tài này mà lâu nay
người ta vẫn nghi hoặc: không biết đồng thoại có phản ánh được những con
những hình ảnh ấy, theo Cò Bạch chính là thành quả của người lao động:
“nhân dân vùng này, trong mấy năm qua đã đắp những đập cao ngăn nước,
cho nước chảy vào các ao hồ. Nước các ao hồ dâng lên. Họ lại đào những con
mương lớn nhỏ, cho nước chảy đến tưới khắp cánh đồng. Ông trời không mưa
nhưng họ vẫn có thừa nước để tưới ruộng”. Nhân dân lao động chẳng còn cần
con Cóc gọi mưa nữa. Ông Trời có mưa hay không mưa thì cũng chẳng làm
sao cả. Dưới một hình thức ngôn ngữ có phần khoa trương, câu chuyện rõ
ràng không dừng lại ở việc viết về các con vật mà hướng tới con người, ca
ngợi sức mạnh của nhân dân như câu thơ nổi tiếng của Hoàng Trung Thông
“Bàn tay ta làm nên tất cả...Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”! Qua tác
phẩm, Võ Quảng đã giới thiệu với bạn đọc một cách tự nhiên về hình ảnh
nông thôn mới, con người mới làm chủ cuộc đời.
Cảm hứng này chúng ta còn quan sát được qua Những câu chuyện. Đầu
xuân, các loài chim hội tụ về khu rừng và kể cho nhau nghe những chuyện lạ.
Chuyện lạ lùng nhất, hấp dẫn nhất không ngoài chuyện về những thay đổi do
con người tạo nên. Lời Bồ Các: “Tôi bay khắp đất nước, thấy nhiều biến đổi
lạ lùng quá, có lúc chỉ xảy ra trong một đêm [...]. Cái cầu, con đường đều do
con người làm ra cả”. Lời Bồ Chao thấy người xây hai cái trụ điện mà cứ ngỡ
là cột “chống trời”... Nhà văn Nguyễn Tuân khi đọc câu chuyện này đã tỏ ra
tâm đắc, cho rằng đó là một thứ “thơ mới” rất cần cho các em. Ông viết “Và
theo tôi nghĩ, cái câu chuyện văn xuôi có cột trụ cao thế càng cua đó, ấy mới
là thơ mới.” [8; 284].
Không dừng lại ở việc phản ánh cuộc sống lao động, truyện đồng thoại
của Võ Quảng còn mở rộng sang đề tài chiến tranh. Đó là trường hợp truyện
Hòn đá, một tác phẩm gợi lên ký ức đau thương về chiến tranh. Sự tàn khốc
15
của chiến tranh, ranh giới mong manh giữa cái sống và cái chết đã được Đá
Cuội tái hiện qua những dòng kể ngắn ngủn cho các bạn Đồng Hồ và Lịch
căn bản, ông để cho nội dung triết lý toát lên từ bản thân hình tượng. Trong
truyện Đò Ngang, một anh Đò Ngang suốt ngày đêm đưa khách qua sông. Đò
Ngang làm rất tốt công việc của mình nhưng tự đáy lòng Đò Ngang khao khát
được như Thuyền Mành đi đây, đi đó. Khao khát của Đò Ngang thật đáng trân
trọng vì nó phản ánh nhu cầu mở mang hiểu biết để được lớn lên. Thuyền
Mành đã chỉ cho Đò Ngang hiểu được thế nào là “lớn”, cái lớn không cần tìm
ở đâu xa mà ngay trong ý nghĩ công việc hiện tại của mình. “Mỗi khi Đò
Ngang cập bến, mọi người đều ùa ra reo mừng. Hỏi ở đây có người nào được
đón tiếp như vậy? Đò Ngang cũng lớn lên, cái lớn đó không đo được bằng cân
hay bằng thước...”. Triết lý tạo chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm, nới rộng đối
tượng bạn đọc.
1.2.3. Bài học giáo dục
Trước hết, truyện đồng thoại Võ Quảng giúp các em nhận biết về các
hiện tượng tự nhiên như mây, gió, nắng, mưa, sấm, chớp... cùng với những
vai trò thiết thực của các hiện tượng tự nhiên đó đối với đời sống của con
người từ đó giáo dục trí tuệ cho các em.
Giải thích về hiện tượng thiên nhiên, Trăng thức là đáp án cho câu hỏi
“vì sao vào những ngày cuối tháng thì Trăng lại phải ngủ liền trong 3 hôm”.
Đó là do trăng mải vui chơi, các em nhỏ đi ngủ đã lâu, Sao Hôm đi ngủ đã lâu
mà Trăng vẫn cứ thức, Trăng vượt sông Ngân Hà, chạy đến gạ Sao Ngưu
Lang bỏ trâu để đến đùa chọc Sao Thần Nông và chòm Đại Hùng tinh, trăng
chui xuống các ao hồ cùng bọn ếch nhái ngụp lặn suốt đêm. Vì thức quá nhiều
nên Trăng cứ gầy dần, gầy dần và yếu đi, sự sống của Trăng muốn chấm dứt.
Mặt Trời thấy rằng để đảm bảo sức khỏe cho Trăng, cần phải đề ra cho Trăng
một kỷ luật: “Mặt Trời buộc Trăng cứ ba mươi ngày đêm phải quay theo một
17
vòng nhất định. Trước tiên, đầu tháng cứ cho trăng ngủ ba ngày lấy lại sức
khỏe. Cho trăng hiện ra từ đêm mùng ba, chỉ dạo chơi một lúc rồi phải đi ngủ.
“Một hôm chợt Giếc nhìn thấy từ phía trên bụng của Nòng Nọc có hai
cục thịt lòi ra. Giếc tưởng đó là đôi vây của Nòng Nọc đang mọc. Hai cục thịt
đó mỗi ngày mỗi dài ra. Hóa ra không phải là đôi vây, mà nhìn kỹ đó là đôi
chân trước của Nòng Nọc. Tiếp theo đôi chân trước, đôi chân sau của Nòng
Nọc mọc càng dài, càng khỏe. Giếc không sao hiểu nổi một việc lạ lùng như
vậy...
Giếc rủ Nòng Nọc bơi xa dạo chơi một chuyến. Nòng Nọc lắc đầu:
- Tôi chỉ còn cái đuôi. Bốn chân lều nghều không bơi xa được !
Giếc đành dạo chơi một mình quanh hồ. Đến khi quay về chỗ cũ, Nòng
Nọc đã đi đâu mất... Giếc nhảy lên cao, thoáng thấy một anh chàng đang ngồi
chễm trệ trên một lá sen... Anh chàng này không có đuôi lại ngồi chồm hỗm,
đôi chân xếp dưới bụng. Anh chàng này kêu lên:
- Ồ Giếc! Nòng Nọc đây mà!
- Nòng Nọc sao lại không có đuôi? Nòng Nọc không biết ngồi như
anh.
- Đuôi của tôi đã rụng mất rồi. Nó rụng lúc Giếc đi vắng. Vết rụng
đây này!
Nòng Nọc vừa nói vừa chìa mông để Giếc nom thấy những dấu vết còn
lại nơi đã mất đuôi. Để càng thuyết phục được Giếc, Nòng Nọc há to mồm,
chỉ cho Giếc thấy cái lưỡi của mình. Cái lưỡi đó không dính liền với cuống
họng mà chỉ dính một tí ở đầu mồm. Nòng Nọc còn chỉ cho Giếc nhìn lại
những răng. Nói cho đúng, đó không phải là răng mà chỉ là những cục thịt li ti
dính với hàm trên của Nòng Nọc...Nòng Nọc thực sự đã trở thành một Nhái
Bén.”
19
Võ Quảng cho rằng, truyện đồng thoại có khả năng phản ánh cuộc
sống mới, con người mới. Bởi lẽ đó, những câu chuyện đồng thoại do ông viết