BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
TRẦN ĐỨC TUẤN
QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI XÃ LỤC DẠ
HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2012 - 2020
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ SỸ VIỆT
Hà Nội, 2012
i
LỜI NÓI ĐẦU
Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo cao học lâm
nghiệp trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
Nhân dịp này cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới
Ban lãnh đạo và cán bộ UBND xã Lục Dạ; khoa Sau đại học trường Đại học
Lâm nghiệp; và đặc biệt là thầy giáo TS. Lê Sỹ Việt, người đã trực tiếp hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn.
1.1.1. Vai trò của kinh tế Nông nghiệp nông thôn .................................... 3
1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng và nội dung phát triển kinh tế nông
nghiệp ........................................................................................................ 3
1.1.3. Kinh nghiệm của Việt Nam và một số nước châu Á trong KTNN .. 5
1.2. Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp (QHNLN) ......................... 15
1.2.1. Trên thế giới ...................................................................................... 15
1.2.2. Ở Việt Nam .................................................................................... 18
Chương 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............26
2.1. Mục tiêu nghiên cứu........................................................................... 26
2.1.1. Mục tiêu chung .............................................................................. 26
2.1.2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................... 26
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................... 26
2.3.Nội dung nghiên cứu ........................................................................... 26
2.3.1. Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội xã Lục Dạ ......... 26
2.3.2 Đánh giá thực trạng nông thôn theo xã Lục Dạ bộ Tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới ............................................................................... 26
2.3.3. Đánh giá thực trạng các chương trình, dự án đang thực hiện trên
địa bàn xã ................................................................................................ 27
2.3.4 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Lục Dạ giai đoạn 2012–
2020 ......................................................................................................... 27
iii
2.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................... 27
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu ....................................................... 27
2.4.2. Tổng hợp và xử lý số liệu .............................................................. 28
Chương . KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..........................................30
Viết tắt
TT
Viết đầy đủ
1
CN
Công nghiệp
2
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
3
CN-TTCN
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
4
DV-TM
Dịch vụ - thương mại
10 THCS
Trung học cơ sở
11 UBND
Ủy ban nhân dân
12 XDCB
Xây dựng cơ bản
13 NTM
Nông thôn mới
14 TG
Thế giới
15 PTNT
Phát triển nông thôn
16 NVH
Nhà văn hóa
17 SX
3.4
Diễn biến đàn gia súc, gia cầm qua các năm
38
3.5
Cơ cấu diện tích đất lâm nghiệp
39
3.6
Diện tích đất lâm nghiệp phân theo các trạng thái rừng
40
3.7
Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 xã Lục Dạ
43
3.8
Các đường giao thông tại khu vực nghiên cứu
47
3.19 Nâng cấp đường giao thông thôn nội đồng
3.20 Tính toán lượng rác thải ra hàng ngày
83
3.21 Dự báo diện tích năng suất sản lượng một số cây trồng chính
90
3.22 Hệ thống kênh tưới các loại
3.23 Dự kiến quy mô gia súc, gia cầm đến năm 2020 tại xă Lục Dạ
91
3.24 Quy hoạch các loại đất, loại rừng tại xã Lục Dạ
3.25 Tổng hợp vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 – 2020
93
59
72
82
83
87
93
97
2
Nông thôn mới tại xã Lục Dạ là việc làm cấp bách và cần thiết nhằm thiết lập
một hình mẫu điển hình trong xây dựng nông thôn mới tại khu vực nông thôn
miền núi.
Chính vì vậy để giải quyết vấn đề trên cần phải có một kế hoạch xây
dựng phát triển nông thôn cơ bản, toàn diện và sâu sắc, đáp ứng mong muốn
của nhân dân và yêu cầu chiến lược xây dựng của đất nước cơ bản thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Do vậy, xây dựng
nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhằm góp phần vào công tác quy hoạch phát triển nông thôn mới của
huyện Con Cuông nói chung cũng như xã Lục Dạ nói riêng, tôi thực hiện đề
tài “Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Lục Dạ huyện Con Cuông
tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012 - 2020”.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những vẫn đề chung về phát triển nông thôn
Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học và
Bách khoa Việt Nam thì nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay một
đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn
cảnh kinh tế - xã hội, điều kiện sống khác biệt với đô thị và cư dân chủ yếu
làm nghề nông.
Kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong nông nghiệp,
phải có giải pháp đồng bộ để thúc đẩy phát triển vấn đề này. Cần làm tốt quy
hoạch các vùng chuyên canh; hỗ trợ nông dân mạnh hơn nữa; phát triển các
ngành công nghiệp phục vụ sản suất; chế biến; tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu
những mặt hàng chủ lực.
Vấn đề vốn cũng là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với sự phát
triển kinh tế của khu vực này. Đại diện các ngân hàng cho rằng, trước mắt nên
tập trung đưa ra các giải pháp để vốn tín dụng trở thành “bà đỡ” làm “đòn
bẩy” cho kinh tế khu vực này. Trong thời gian qua, vấn đề quy hoạch, tiêu thụ
nông sản cho nông dân, thông tin thị trường và chính sách hỗ trợ để người
nông dân giảm thiểu rủi ro và có lãi ổn định vững chắc là vấn đề bất cập. đầu
tư tín dụng cho khu vực này cần phải được đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian
tới. Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển
khai đồng bộ các chính sách, phấn đấu đưa tăng trưởng tín dụng cho lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn cao hơn mức tăng trưởng bình quân chung của nền
kinh tế.
Cụ thể, các ngân hàng sẽ ưu tiên nguồn vốn cho kinh tế nông nghiệp;
tăng cường hợp tác với các tập đoàn, tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực
5
nông nghiệp để cung ứng vốn; các dịch vụ ngân hàng khép kín đồng bộ từ
khâu sản xuất, gieo trồng đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm…
1.1.2.2. Các nội dung cơ bản phát triển kinh tế nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp cần gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
nông thôn, đưa tỷ trọng thu nhập từ công nghiệp, dịch vụ trong lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn tăng lên. Bên cạnh đó ngành nông nghiệp cần tiếp tục thực
hiện các giải pháp tăng năng suất, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, đưa
hàng hoá, nông sản có sức cạnh tranh cao.
Để giải quyết những vấn đề này, phát triển khoa học công nghệ phải
được coi là khâu quyết định trong việc tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả
nhằm giảm hao hụt, bảo đảm chất lượng sau thu hoạch. Coi trọng hơn công
tác khuyến nông, công tác thú y, bảo vệ thực vật... đã tích cực và thiết thực
giúp nông dân áp dụng nhanh tiến bộ khoa học, công nghệ và bảo đảm vệ
sinh, an toàn thực phẩm.
Một vấn đề lớn trong các chính sách và đầu tư cho lĩnh vực tam nông là
Nhà nước đã ban hành và thực thi các chương trình hỗ trợ các huyện và các
xã nghèo, tập trung ở các vùng nông thôn ở miền núi, biển đảo, vùng đồng
bào các dân tộc thiểu số, giảm bớt sự đóng góp của nông dân và tạo điều kiện
cho người nghèo, vùng nghèo cùng được thụ hưởng những thành quả của
công cuộc đổi mới.
Tuy vậy, việc triển khai thực hiện các chính sách tam nông trong những
năm qua vẫn còn một số bất cập và hạn chế. Nổi lên là việc phát triển nông
nghiệp theo hướng hiện đại còn chậm và chưa thật gắn kết với xây dựng nông
thôn mới. Những số liệu điều tra của ngành thống kê cho thấy một nghịch lý.
Các vùng đất nông nghiệp rộng lớn thì có tỷ lệ lao động thấp, phân bố lao
động lại chưa phát huy được lợi thế về đất đai tạo ra sự dịch chuyển lao động
rất lớn từ nông thôn ra thành thị. Ví như vùng trung du và miền núi phía bắc
7
chỉ chiếm 13,8% lực lượng lao động, còn khu vực Tây Nguyên rộng lớn chỉ
chiếm 5,8% lao động. Ðáng chú ý là sự chuyển dịch lao động trong nông
nghiệp ba năm gần đây có những biến động tiêu cực do tác động của khủng
hoảng kinh tế, tài chính thế giới. Nếu trước năm 2008 lao động nông nghiệp
đã giảm từ 54,7% vào năm 2006 xuống 47,7% vào năm 2008 thì năm 2009 tỷ
lệ lao động nông nghiệp lên đến 53,9% và năm 2010 là 59,1% do việc cắt
giảm mạnh lao động khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Xây dựng nông thôn mới là chương trình quốc gia với những quyết
sách lớn và tầm nhìn xa của Ðảng và Nhà nước. Trong đó nội dung lớn xuyên
suốt là xây dựng nền nông nghiệp hiện đại gắn kết chặt chẽ với phát triển
Trong hoàn cảnh đất chật người đông, chiến lược phát triển khôn khéo
và hiệu quả đã được Nhật Bản thực hiện thành công để đạt được mục tiêu khó
khăn, đưa nông nghiệp đi vào phát triển theo chiều sâu từ giai đoạn tăng
trưởng ban đầu (chiến lược này gần gũi với quan điểm “CNH – HĐH nông
nghiệp” của chúng ta ngày nay). Từ năm 1878 đến năm 1912 là thời kỳ công
nghiệp Nhật Bản tăng trưởng nhảy vọt nhưng tổng số lao động nông nghiệp
chỉ giảm rất ít từ 15,5 triệu xuống 14,5 triệu người, công nghiệp tăng trưởng
gần như chỉ thu hút phần lao động thêm ra do tăng dân số tự nhiên.
- Thứ hai là: dưỡng sức dân, tạo khả năng tích lũy và phát triển nội lực.
Nhật Bản là một ví dụ điển hình cho vai trò quan trọng của lĩnh vực
nông nghiệp đóng góp cho quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất
nước. Trong suốt nửa thế kỷ, nền kinh tế tăng tốc, nông nghiệp cung cấp đầy
đủ lương thực thực phẩm cho nhu cầu ngày càng tăng của tầng lớp thị dân và
công nhân công nghiệp có nhu cầu ngày càng tăng, nhờ đó dập tắt nguy cơ
lạm phát do thiếu lương thực gây ra (như đã từng xảy ra ở nhiều nước phải
nhập khẩu lương thực); thông qua xuất khẩu nông, lâm sản (chè và lụa là hai
mặt hàng xuất khẩu chính), đóng góp nguồn ngoại tệ quan trọng để xuất khẩu
9
máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hàng hóa; cung cấp nguyên liệu cho
các nghành công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dung.
Sau chiến tranh, nước Nhật bị tàn phá rơi vào tình trạng đói kém, ngoại
tệ thiếu hụt, khó nhập khẩu lương thực. Bị dồn vào chân tương, vẫn như
trước, Nhật Bản áp dụng phương châm “dưỡng dân, để dân tự tích lũy, tự khai
thác nội lực tạo phát triển”. tuy còn thiếu lương thực nhưng chính phủ chấp
nhận sức ép của nhu cầu khôi phục công nghiệp và thành phố cần lương thực,
kiên trì chính sách giữ giá nông sản cao để khuyến khích nông dân. Giá lương
thực cao đã nhanh chóng thúc đẩy nông dân tăng sản lượng, mở rộng sản xuất
vượt qua khủng hoảng .
Một biện pháp khác là phân bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về
nông thôn. Nhờ kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và liên lạc hoàn chỉnh,
giá thấp, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến dung nguyên liệu nông
nghiệp như tơ tằm, dệt may mà cả các ngành cơ khí, hóa chất cũng phân bố
trên địa bàn nông thôn toàn quốc.
1.1.3.3. Kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp ở Trung quốc
Hơn 50 năm qua, khoa học và công nghệ (KH&CN) nông nghiệp của
Trung Quốc đã có sự phát triển mạnh mẽ, đóng góp to lớn trong phát triển
kinh tế - xã hội của Trung Quốc mà bao trùm lên có thể thấy là đã giải quyết
vấn đề no ấm cho hơn 1 tỷ dân, phát triển mạnh mẽ công nghiệp hương trấn,
đưa hàng trăm triệu nông dân Trung Quốc đến cuộc sống khá giả. Có được
những thành tựu ấy là do Chính phủ cũng như các cấp chính quyền địa
phương ở Trung Quốc rất coi trọng KH&CN nông nghiệp, thể hiện ở sự đầu
tư cho nó; có cơ chế khuyến khích mạnh mẽ cán bộ khoa học lao động và
sáng tạo, bám sát mặt trận nông nghiệp, nông dân và nông thôn; chú trọng xây
dựng hệ thống các tổ chức KH&CN trong nông nghiệp; quan tâm thích đáng
11
tới việc nâng cao ý thức và năng lực KH&CN cho nông dân... Thiết nghĩ
những kinh nghiệm đó của họ rất đáng để chúng ta tham khảo và học tập.
Trong hơn 50 năm qua khoa học và công nghệ (KH&CN) nông nghiệp
của Trung Quốc được đánh giá là có bước tiến mạnh mẽ, cống hiến to lớn cho
phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc. Tiến bộ rõ nét nhất trong ngành
trồng trọt là đã mang lại đời sống no ấm cho 1,2 tỷ dân, đặt nền móng tốt cho
việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Trong công tác di truyền chọn
tạo giống đã có hàng loạt các kết quả đột phá trong tạo giống lúa thấp cây, cao
sản, sử dụng ưu thế lai... Theo thống kê, từ năm 1949 đến năm 1998, các nhà
khoa học Trung Quốc đã tạo ra được hơn 5 000 tổ hợp các giống mới có năng
suất cao, phẩm chất tốt, tính chống chịu cao... Các loại giống này đã làm cho
những năm 80 của thế kỷ 20, đến cuối những năm 80 bước vào giai đoạn tăng
trưởng nhanh, đầu những năm 90 thực hiện điều chỉnh tối ưu hoá, đến giữa
những năm 90 lại có bước tăng trưởng nhanh, tạo ra nhiều kỳ tích. Công
nghiệp hương trấn đã trở thành trụ cột và là nguồn tăng trưởng chính của kinh
tế nông thôn Trung Quốc. Đến cuối năm 1999 Trung Quốc đã có hơn 20 triệu
xí nghiệp công nghiệp hương trấn với hơn 125 triệu công nhân, tạo ra giá trị
gia tăng là 2500 tỷ nhân dân tệ, chiếm 60% giá trị tổng sản lượng kinh tế
nông thôn và trên 27% GDP cả nước.
Việc sáng tạo thể chế, sáng tạo công nghệ đã mang lại sức sống cho
công nghiệp hương trấn phát triển, trong đó phải kể đến tầm quan trọng của
việc đổi mới công nghệ và nâng cấp thiết bị - động lực để phát triển công
nghiệp hương trấn. Trung Quốc đã áp dụng hàng loạt các biện pháp rất linh
hoạt, sáng tạo như nới rộng phạm vi hoạt động của cán bộ khoa học, đặc biệt
là thực thi kế hoạch đốm lửa để gia tăng sức đóng góp của KH&CN...
Nhờ áp dụng phương châm: “Các cấp lãnh đạo quan tâm, nông dân
đòi hỏi, cán bộ KH&CN cố gắng”, đã tạo nên khí thế khoa học hưng nông sôi
13
nổi trong toàn xã hội. Người nông dân luôn nhận được các thông tin về kỹ
thuật mới từ các phương tiện báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình... và tích
cực tham gia các lớp tập huấn. Theo thống kê chưa đầy đủ, nông dân các nơi
đã tự thành lập hơn 10 vạn tổ chức KH&CN gồm nhiều loại hình khác nhau,
với hơn 3 triệu thành viên. Các cấp chính quyền hết sức ủng hộ và coi trọng
triển khai các hình thức khuyến nông, phổ biến kiến thức. Nhiều tỉnh và thành
phố đã đầu tư mạnh mẽ về kinh phí để cải tạo công nghệ và nghiên cứu áp
dụng KH&CN.
Đội ngũ cán bộ KH&CN vừa được nâng cao về ý thức và trình độ năng
lực, vừa bám sát thực tế, tìm tòi sáng tạo và triển khai các hoạt động một cách
thiết thực nên tác dụng ngày càng to lớn.
KH&CN trong nông nghiệp: Trong thời kỳ “9-5” (kế hoạch 5 năm lần thứ 9),
KH&CN đã đương đầu trực tiếp với các vấn đề hiện tại và tương lai, những
điểm nóng và điểm khó trong việc tạo ra năng suất và chất lượng cao của “5
cây trồng lớn”. Nhờ tổ chức và phối hợp tốt các lực lượng của nhà nước,
ngành, địa phương và các lĩnh vực, họ đã giành được những kết quả có tính
đột phá, tạo được những công nghệ chuẩn bị cho các yêu cầu lớn về sản xuất
các giống cây trồng chủ yếu trong thế kỷ 21.
Kết hợp chặt chẽ giữa cán bộ KH&CN và nông dân, phát huy cao độ
tính sáng tạo của đội ngũ những người lao động nông nghiệp. Coi trọng việc
đào tạo nhân tài KH&CN nông nghiệp và bồi dưỡng nâng cao trình độ của
nông dân. Người nông dân cần được nâng cao tố chất văn hóa, KH&CN để có
đủ khả năng áp dụng các thành tựu KH&CN vào sản xuất. Cán bộ KH&CN
phải biết kết hợp chặt công tác nghiên cứu với thực tiễn sản xuất và đời sống,
phải bám đồng ruộng, nâng cao năng lực giải quyết các vấn đề khó khăn của
thực tế sản xuất nông nghiệp.
15
Kết hợp giữa sáng tạo và du nhập công nghệ: Cùng với việc tự chủ
sáng tạo công nghệ, cần tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài thông qua hoạt
động hợp tác quốc tế, đẩy mạnh việc nhập các công nghệ tốt và thích hợp của
nước ngoài.
1.2. Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp (QHNLN)
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1 Lược sử QHNLN
Ngay từ thế kỳ XVII, QHNLN đã được xác nhận như một chuyên
ngành bắt đầu từ các quy hoạch vùng. Vào thời gian này, quy hoạch quản lý
rừng và lâm sinh ở Châu Âu được xem như một lĩnh vực phát triển ở mức cao
trên cơ sở QHSDĐ (Olschowy, 1975).
cận từ dưới lên (Botton-up Approach). Cách tiếp cận thứ nhất được hình
thành từ khi có quy hoạch ra đời cho đến nay. Cách tiếp cận thứ hai được hình
thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng cộng đồng nông thôn có vai trò
không thể thiếu trong lập kế hoạch và quản lý tài nguyên của cộng đồng. Từ
đây, thuật ngữ “Quy hoạch dựa vào cộng đồng” (community-based planning)
bắt đầu xuất hiện.
Gilmour (1997) đã phân biệt hai loại tiếp cận, đó là tiếp cận kinh điển
(classical approach) và tiếp cận lấy người dân làm trung tâm (people’s
centered approach) Những nghiên cứu của ông về quy hoạch và quản lý rừng
cộng đồng ở Nepal chứng tỏ những ưu thế về tiếp cận mới trong xây dựng và
thực hiện kế hoạch phát triển cộng đồng .
Từ cuối những năm 1970, các phương pháp điều tra đánh giá cùng
tham gia được nghiên cứu rộng rãi như: Đánh giá nhanh nông thôn (RRA),
phương pháp quá trình sáng tạo, phân tích HTCT cho QHSDĐ vi mô. vào
những năm 1980 và đầu những năm 1990 của thế kỷ XX, những thử nghiệm
các phương pháp RRA trong phát triển nông thôn và lập kế hoạch SDĐ được
17
thực hiện trên 30 nước phát triển cho thấy ưu thế của các phương pháp này
trong lập kế hoạch lâm nông nghiệp cấp thôn bản.
Luning (1990) lần đầu tiên nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với
phân tích HTCT cho QHSDĐ. Năm 1994, FAO đã công bố quy trình kết hợp
đánh giá đất đai với phân tích HTCT cho QHSDĐ (LEFA), hạn chế là đòi hỏi
hệ thống thông tin phân tích lớn, khó áp dụng cho quy hoạch địa phương.
Theo Erwin (1999), phân tích HTCT là công cụ cho phân tích các trở ngại
trong hệ thống nông trại hộ gia đình để xác định mục tiêu quy hoạch, xác định
các kiểu SDĐ hiện tại và phương pháp SDĐ mới, đánh giá phương án SDĐ
khác nhau nhằm mục đích lựa chọn phương án một cách tốt nhất.
1.2.1.3. Các nghiên cứu xây dựng quy trình QHSDĐ
dựa trên quá trình phân tích tình hình, chuẩn đoán hiện trạng và phân tích mục
tiêu (ZOPP) được sử dụng. Năm 1987, Spitzer đề xuất các bước QHSDĐ đa
mục tiêu, trong đó nhấn mạnh xác định mục tiêu và chọn phương pháp lập kế
hoạch như sau: Chuẩn đoán trong thu thập thông tin và dự đoán cơ hội, tư vấn
trong đánh giá, lập kế hoạch và điều phối, thực hiện trong điều phối và giám
sát.
1.2.2. Ở Việt Nam
1.2.2.1. Một số nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ
Ở Việt Nam, các vấn đề về nghiên cứu đất đai, QHSDĐ đã được bắt
đầu từ năm 1930, sau đó được hoàn thiện dần theo thời gian.
Trong giai đoạn 1955 - 1975, công tác điều tra, phân loại đất đã được
tổng hợp một cách có hệ thống trên toàn miền Bắc. Nhưng đến sau năm 1975,
các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản.
Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác nhau
triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986, Đỗ Đình
19
Sâm, 1994…). Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại
ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu những để xuất cần thiết cho việc SDĐ.
Công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác SDĐ.
Nhiều tác giả như Phạm Văn Chiểu (1964), Lê Trọng Cóc (1971), Bùi
Huy Đáp (1977), Vũ Tuyên Hoàng (1987), Nguyễn Ngọc Bình (1987), Bùi
Quang Toản (1991) đã đề cập tới vấn đề luân canh tăng vụ trồng xen, trồng
gối vụ để sử dụng hợp lý đất đai. Theo các tác giả trên thì việc lựa chọn hệ
thống cây trồng trên đất dốc là rất thiết thực với vùng đồi núi Việt Nam.
Trong giai đoạn trước năm 1993, QHSDĐ được thực hiện bởi tổ
chuyên môn trong từng ngành. Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế của
nhà nước, nhiệm vụ phát triển kinh tế của từng địa phương mà có các quy
hoạch tầm vĩ mô.