Đánh giá một số mô hình rừng trồng dự án kfw4 tại huyện thạch thành tỉnh thanh hóa làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật phát triển bền vững - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-------------------------

VŨ QUANG VINH

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ MÔ HÌ NH RỪNG TRỒNG DỰ ÁN
KfW4 TẠI HUYỆN THẠCH THÀ NH TỈ NH THANH HÓA
LÀ M CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
PHÁT TRIỂN BỀN VỮ NG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nô ̣i, 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------

VŨ QUANG VINH

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ MÔ HÌ NH RỪNG TRỒNG DỰ ÁN
KfW4 TẠI HUYỆN THẠCH THÀ NH TỈ NH THANH HÓA
LÀ M CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

dự án đầu tiên của Nhà tài trợ KfW trồng trên 60% diện tích cây bản địa lá
rộng trên tổng số 19.000 ha đất trống, đồi trọc đang bị đe doạ về sinh thái ở
53 xã thuộc 10 huyện của 2 tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An. Mục tiêu lâu dài
của dự án là cải thiện và ngăn chặn suy thoái môi trường thông qua thiết lập
những lâm phần rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh bền vững nhằm phát
triển kinh tế - xã hội và môi trường của các địa phương. Kết quả dự án KfW4
từ năm 2002 cho đến nay đã thiết lập được trên 17.000 ha rừng trồng cho
hơn 12.000 hộ gia đình với hàng chục loài cây bản địa lá rộng, cây mọc
nhanh và hàng chục mô hình rừng trồng đã được thiết lập. Bước đầu cho thấy
dự án KfW4 đã tiếp cận và giải quyết được một số vấn đề cơ bản về môi
trường sinh thái, kinh tế, xã hội của địa phương.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu, đánh giá cụ thể


2

nào về vấn đề này, vì vậy còn thiếu thông tin và cơ sở khoa học cho việc xây
dựng các giải pháp kinh tế - kỹ thuật trong giai đoạn tiếp theo cho các dự án
tương tự, đặc biệt là kỹ thuật xây dựng và chăm sóc các mô hình trồng rừng
cây bản địa. Do vậy việc nghiên cứu đánh giá kết quả một số mô hình trồng
rừng tại dự án KfW4 gắn với các biện pháp kỹ thuật cụ thể quy hoạch sử
dụng đất, điều tra lập địa và lựa chọn loài cây trồng đến các phương thức,
biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, cơ
chế chính sách thực hiện để xem xét mức độ thành công của các mô hình làm
cơ sở đề xuất lựa chọn các mô hình trồng rừng có triển vọng, các biện pháp
kỹ thuật lâm sinh phù hợp áp dụng cho giai đoạn tiếp theo của dự án KfW4
và các dự án mới của KfW cũng như các chương trình trồng rừng khác là rất
cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá
một số mô hình rừng trồng dự án KfW4 tại huyện Thạch Thành tỉnh
Thanh Hóa làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật phát triển bền vững”.

Riêng Thái Lan [38], ở Huay Sompoi đã khảo nghiệm 8 xuất xứ của


4

Tếch và lựa chọn được 2 xuất xứ sinh trưởng tốt nhất là:
- Xuất xứ Huay Sompoi (tọa độ địa lý 180 vĩ độ Bắc, 99055’ kinh độ
Đông)
- Xuất xứ Phayao (tọa độ địa lý 19003’ vĩ độ Bắc, 99055’ kinh độ
Đông).
Liễu sam (Crytomeria japonica) là một trong những loài cây bản địa
của Nhật Bản, nó được trồng bằng cây hom từ thế kỷ XV. Vào năm 1987
[37], Nhật Bản đã sản xuất được 49 triệu cây hom loài này phục vụ trồng
rừng. Bằng các vòng chọn lọc liên tục lặp lại từ khâu khảo nghiệm, đến chọn
lọc, kết quả gây trồng và tiếp tục chọn lọc, cho đến nay Nhật Bản đã chọn
được 32 dòng vô tính khác nhau phù hợp với yêu cầu cơ bản là: khả năng ra
rễ cao của hom, phạm vi gây trồng rộng, khả năng thích nghi cao...
Tại Malaysia, năm 1999 [40], trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã
giới thiệu cách thiết lập mô hình rừng hỗn loài trên 3 đối tượng: Rừng tự
nhiên, rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) 10 - 15 tuổi và 2 - 3 tuổi.
Dự án đã sử dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo băng 30m trong
rừng tự nhiên. Trên băng trồng 6 hàng cây bản địa. Trồng 14 loài cây bản địa
dưới tán rừng Keo tai tượng theo 2 khối thí nghiệm:
Khối A: Mở băng 10m trồng 3 hàng cây bản địa;
Mở băng 20m trồng 7 hàng cây bản địa;
Mở băng 40m trồng 15 hàng cây bản địa.
Khối B: Chặt 1 hàng keo trồng 1 hàng cây bản địa;
Chặt 2 hàng keo trồng 2 hàng cây bản địa;
Chặt 4 hàng keo trồng 4 hàng cây bản địa...
Kết quả cho thấy, trong 14 loài cây trồng trong khối A, có 3 loài:

bớt sự cạnh tranh giữa các loài cây. Kết quả cho thấy sau khi được tác động
các biện pháp tỉa cành, tỉa thưa các loài cây mục đích đã tạo điều kiện thuận
lợi để sinh trưởng phát triển tốt hơn [39].


6

Một số nước trên thế giới đã có những nghiên cứu trồng cây bản địa
dưới tán rừng cây lá kim hoặc cây lá rộng thuần loài và có những kết luận về
khả năng sinh trưởng cũng như giá trị kinh tế của những loại rừng này.
Tại Đài Loan và một số nước Châu Á sau khi đã trồng phủ xanh đất
trống đồi núi trọc bằng cây lá kim đã tiến hành gây trồng cây bản địa dưới tán
rừng này. Kết quả đã tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng
suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ chống xói mòn đất.
Qua những nghiên cứu trên cho thấy, cây bản địa đã được rất nhiều
tác giả quan tâm. Rất nhiều loài có giá trị như: Tếch, Liễu sam...các mô hình
trồng rừng thuần loài, hỗn loài đã được chọn để phục vụ trồng rừng, về
phương thức trồng cây bản địa được áp dụng là trồng theo băng hoặc theo
đám, các nghiên cứu về sự ảnh hưởng lẫn nhau khi trồng hỗn giao. Mỗi loại
mô hình, biện pháp kỹ thuật đều có những ảnh hưởng nhất định đến sinh
trưởng và năng suất cây rừng. Trên cơ sở đó lựa chọn biện pháp kỹ thuật nào
phù hợp để áp dụng trong giới hạn lập địa cho phép để loài cây trồng đem lại
hiệu quả cao về kinh tế, môi trường, mới là biện pháp khả thi hữu hiệu nhất.
1.2. Ở Việt Nam
Trong thời gian qua ở nước ta đã xây dựng được khá nhiều mô hình
rừng trồng, đặc biệt là trong dự án 661.
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trong thời kỳ 1998-2010 đã được
Quốc hội khoá X thông qua tại kỳ họp lần thứ 2 vào tháng 12/1997. Tiếp đó
Thủ Tướng chính phủ đã có quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29-7-1998 về
mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu

- Về diện tích từ năm 1999 - 2004 cả nước đã trồng được 135.702,9 ha
rừng phòng hộ đầu nguồn theo phương thức hỗn giao cây bản địa và cây phù
trợ, diện tích rừng đã trồng trên chiếm tỷ lệ 22,52 % trong tổng số diện tích
rừng phòng hộ đầu nguồn.
- Về tập đoàn cây trồng: Hầu hết các loài cây bản địa sử dụng trồng


8

rừng phòng hộ đều phân bố ở các tỉnh, đã có 36 loài cây bản địa được sử
dụng và 5 loài cây phụ trợ trồng theo phương thức hỗn giao cây bản địa và
cây phù trợ. Trong đó có 12 loài đã có quy trình kỹ thuật.
- Về các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhìn chung đã thực hiện đúng yêu
cầu của Ban quản lý 661 các cấp, đảm bảo được thiết kế kỹ thuật theo từng
dự án cơ sở. Tuy nhiên, việc xác định phương thức hỗn giao, mật độ và cự ly
trồng chưa thích hợp nên dẫn đến sinh trưởng của tán cây Keo chèn ép cây
bản địa làm ảnh hưởng đến sinh trưởng; tiêu chuẩn cây con đề ra hầu hết là
thấp; vấn đề tỉa thưa xử lý tán Keo để tạo ánh sáng cho cây bản địa không
được thực hiện.
- Chất lượng của các mô hình nhìn chung chưa cao, tỷ lệ sống hầu hết
đạt trên 85%, nhưng tỷ lệ tồn tại sau 3 - 4 năm là thấp. Sinh trưởng đường
kính chiều cao các mô hình đạt các tiêu chuẩn để bàn giao quản lý so với các
dự án khác và phương thức trồng khác đều thấp hơn.
- Nghiên cứu cũng đã chọn được 55 mô hình tại 22 tỉnh có triển vọng
phát triển và nhân rộng.
Theo Trần Thị Nga (2009) [23] khi nghiên cứu các mô hình trồng rừng
phòng hộ tại tỉnh Hòa Bình cho thấy 3 loài cây Luồng, Lim xanh và Keo tai
tượng là loài cây trồng rừng phòng hộ khá thích hợp. Các mô hình bước đầu
được đánh giá là thành công do đã chọn cây trồng phù hợp với lập địa nên cây
có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt, các mô hình hỗn giao sau:

về đất và các yếu tố khác. Không thể đưa trồng ngay cây bản địa trên đất
trống, đồi núi trọc khô cằn, trồng thuần loài tràn lan trên diện rộng. Do đó
muốn gây trồng thành công cây bản địa cần phải tạo được những hoàn cảnh
tương đối thích hợp với từng loài cây bản địa.
Trong nghiên cứu phục hồi rừng tự nhiên, Trần Xuân Thiệp (1997) [29]
cho rằng trồng cây bản địa là một quá trình rút ngắn chu trình phát triển rừng
mà theo nhà sinh thái người Đức Lalle (1980) nếu để tự nhiên có khi đến hàng


10

trăm năm. Nếu rừng bị phá nhưng còn một độ tàn che nào đó, đem trồng các
cây gỗ bản địa dưới tán rừng và làm như vậy đã vượt qua được rất nhiều giai
đoạn diễn thế đi lên mà để tự nhiên phải mất 50 - 70 thậm chí tới 100 năm.
Năm 1994 [32], trong Hội thảo về: “Tăng cường các chương trình trồng
rừng ở Việt Nam với sự phối hợp giữa Bộ Lâm nghiệp, Dự án tăng cường
chương trình trồng rừng ở Việt Nam (STRAP) và cơ quan hợp tác quốc tế
Nhật Bản (JICA)” đã đưa ra khuyến nghị quan trọng là cần có nhiều thông tin
hơn về loài cây bản địa để giúp cho các địa phương tham khảo và chọn loài
cây phục vụ cho trồng rừng. Nhằm đáp ứng được phần nào yêu cầu trên, dự
án STRAP đã cùng với Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện dự án
“Xác định các loài cây bản địa chất lượng cao để trồng rừng ở Việt nam”. Kết
quả đã đưa ra những thông tin có hệ thống và tổng hợp về 210 loài cây cho gỗ
chất lượng cao dùng để làm nhà ở và đồ mộc cao cấp. Qua đó cũng cho thấy
tiềm năng của cây bản địa ở từng vùng cũng như trong cả nước rất phong phú
nhưng số loài cây bản địa đã có kỹ thuật, có mô hình, có khả năng trồng rừng
còn quá ít. Do vậy cần phải đẩy mạnh nghiên cứu thử nghiệm những loài cây
còn lại mới có thể biến tiềm năng thành hiện thực. Ngoài ra cần tập trung
nghiên cứu và phát triển những cây có giá trị cao để tạo nguồn cây chủ lực
cho từng vùng và cho cả nước.

chân núi nơi dốc tụ. Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc đưa loài Lim
xanh vào gây trồng ở các vùng sinh thái lâm nghiệp trên đất nước ta
Với đặc tính của hầu hết các loài cây lá rộng bản địa là thường ưa bóng
trong giai đoạn còn nhỏ, do vậy việc tạo được lớp “áo che” cho các loài cây
bản địa trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng là việc làm đầu tiên và
rất cần thiết khi muốn tạo lập lâm phần hỗn loài, đặc biệt là trên đối tượng đất
trống, đồi trọc. Nghiên cứu lựa chọn cây phù trợ để xây dựng rừng trồng hỗn
loài đã được nhiều tác giả quan tâm. Điển hình là một số công trình sau:
Năm 1931 tác giả Maurand đã sử dụng lớp cây bụi thảm tươi trong rạch


12

làm cây phù trợ để tạo rừng hỗn loài giữa Sao đen, Dầu rái và Vên vên ở
Trảng Bom Đồng Nai. Ban đầu tác giả đã áp dụng phương thức “trồng rừng
dưới tán che dày và thấp” sau 2 năm phương thức này đã được cải tiến thành
phương thức "trồng dưới tàn che cao và nhẹ". Sau khi được cải tiến phương
thức trồng, các loài cây trồng chính vẫn sinh trưởng phát triển kém nên tác giả
tiếp tục dùng thảm che nhân tạo với các loài cây họ đậu là Muồng đen và Đậu
tràm. Kết quả cho thấy rằng dùng cây che phủ ban đầu kết hợp cây che trung
gian là có hiệu quả theo Nguyễn Bá Chất, 1976 [8]. Như vậy, trong công trình
này tác giả đã sử dụng cả 2 loại thảm che tự nhiên và thảm che nhân tạo để
làm cây phù trợ. Tuy nhiên, sự kết hợp hai loại thảm che này không được tính
đến từ đầu khi thiết kế rừng trồng, do đó chưa đánh giá được tác dụng riêng rẽ
của từng loại thảm che.
Giai đoạn 1994-1998 Trần Nguyên Giảng đã nghiên cứu tạo rừng trồng
hỗn loài ở Vườn Quốc gia Cát Bà - Hải Phòng. Trên đối tượng đất trống, đồi
trọc, tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm làm “áo che” phủ. Khi
rừng Keo bắt đầu khép tán tác giả đã đưa vào trồng dưới tán Keo 10 loài cây
lá rộng bản địa khác nhau. Sau 4 năm thí nghiệm tác giả cho thấy phương

Chương trình 327 [26] với định hướng trồng rừng phòng hộ theo hướng
hỗn loài 500 cây bản địa + 1100 cây phụ trợ. Khi thực thi, có hơn 60 tỉnh,
thành phố có dự án đã trồng rất nhiều mô hình rừng trồng hỗn loài khác nhau
với hơn 70 loài cây.
Triệu Văn Hùng (1993) [19] đã nghiên cứu về “Đặc tính sinh vật học
của một số loài cây làm giầu rừng như: Trám trắng (Canarium album), Lim
xẹt (Peltophorum tonkinense A.Chev)” có nhận xét: Trong tổ thành rừng tự
nhiên, Trám trắng chỉ đạt trung bình 3,87% về số cây và 6,84% về trữ lượng ô
tiêu chuẩn. Xét ở trạng thái rừng IIIA1, Trám trắng chiếm tỷ lệ cao hơn so với
IIIA2. Trong rừng rất hay gặp Trám trắng với một số loài cây bạn như Kháo
vàng (Machilus bosii), Dẻ (Castanopsis sp), Lim xẹt (P. tonkinense), Hu đay


14

(Trema orientalis), Sau sau (Liquidambar formosana), Xoan ta (Melia
azedarach Linn), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), Vối thuốc (Schima
wallichii)...
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2000) [32] khi nghiên cứu cải
tạo rừng nghèo kiệt tại Vũ Mễ (Bắc Sơn) và Đồng Hỷ (Thái Nguyên) bằng
cách trồng bổ sung 2 loài cây bản địa là Dẻ đỏ (Castanopsis hystrix) và Kháo
vàng (Machilus bosii) theo phương thức trồng theo băng hoặc theo đám. Từ
những năm 1972 đến những năm sau 1975 một số lâm trường như Bắc Sơn,
Võ Nhai, Đồng Hỷ đã nhân rộng mô hình trên. Tuy nhiên, cho đến nay việc
đánh giá các mô hình này gặp rất nhiều khó khăn vì đã bị tàn phá.
Một công trình nghiên cứu khác tại Cầu Hai – Phú Thọ (Viện Khoa học
Lâm nghiệp Việt Nam) [32] cũng đã đưa cây Lim xẹt (P. tonkinense) trồng
theo băng trên thảm cây bụi có chiều cao khoảng 3m. Mở rạch 2m, trồng bằng
cây con có bầu được tạo từ hạt nuôi trong vườn ươm 6 tháng tuổi. Sau 3 năm
tỷ lệ sống đạt sấp xỉ 90%, khả năng sinh trưởng khá, tăng trưởng bình quân

cây bản địa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển rừng ở Cầu Hai – Phú Thọ
đã kết luận: Phần lớn các xuất xứ Lim xanh (E. fordii) đều có tỷ lệ sống cao
và sinh trưởng tốt, đồng thời trong 34 loài cây bản địa nơi nghiên cứu đã chọn
được các loài: Lim xanh (E. fordii), Re gừng (C. zeylanicum), Xoan đào
(Pygeum arboreum), Sồi phảng (Castanopsis cerebrina), Chiêu liêu
(Terminalia chebula), Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) là những loài
cây mọc nhanh, phát triển tốt, ít bị sâu bệnh có khả năng nhân rộng và phát
triển cho các điều kiện lập địa tương tự.
Qua nhiều năm nghiên cứu, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
(2000) [32] đã đề xuất trên 100 loài cây bản địa cho các chương trình trồng
rừng phục vụ cho cả 3 loại rừng là rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc
dụng. Qua khảo sát, dựa vào các tài liệu đã có và số liệu mới thu thập, 31 loài
cây bản địa đã được chọn và có báo cáo chuyên đề cho từng loài. Các loài cây


16

bản địa đó được đánh giá theo 3 mức độ:
- Các loài cây đã được đưa vào sản xuất lớn, diện tích lên tới hàng
nghìn ha, tối thiểu cũng vài trăm ha, có đủ quy trình, quy phạm, hưỡng dẫn kỹ
thuật như: Mỡ (Manglietia conifera), Quế (Cinnamomun cassia Bl), Sa mu
(Cunninghamia lanceolata), Trẩu (Vernicia fordii) , Sở (Camellia oleifera),
Thông mã vĩ (Pinus massoniana), Muồng đen (Senna siamea), Dầu nước
(Diptercarpus dyeri Pierre)...
- Các loài cây đã đưa vào sản xuất mặc dù quy mô còn nhỏ song các mô
hình rừng trồng đủ lớn để đánh giá như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Lim
xẹt (P. tonkinense), Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy), Dó giấy
(Rhamnoneuron balansae)...
- Các loài đã và đang được nghiên cứu, mô hình thực nghiệm nhỏ như:
Lim xanh (E. fordii), Kháo vàng (M. bosii), Re gừng (C. zeylanicum), Trám

điểm kinh tế, xã hội và môi trường với mục đích rừng trồng phải đáp ứng
được các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, môi trường của địa phương. Hiện
tại chúng ta vẫn còn một nguồn gen rất phong phú của rừng mưa nhiệt đới,
nhưng trong số hàng ngàn loài cây tồn tại trong rừng tự nhiên, lại có rất ít loài
có khả năng đem trồng tập trung ở những vùng đất trống đã bị suy thoái
không còn tính chất đất rừng. Điều này có nhiều nguyên nhân khác nhau
thuộc về khoa học tự nhiên, kỹ thuật công nghệ và kinh tế-xã hội. Về mặt
khoa học tự nhiên thì: hiểu biết của chúng ta về nhu cầu sinh thái và phản
ứng của các loài cây bản địa còn quá ít ỏi. Rất nhiều loài cây tồn tại trong
trạng thái của rừng tự nhiên không thể đem trồng tập trung ở đất trống vì tiểu
khí hậu và hoàn cảnh rừng ở đó đã thay đổi nhiều không còn phù hợp với yêu
cầu sinh thái của loài. Thường thì những loài cây bản địa có giá trị kinh tế lại
là những loài khó thích hợp cho việc trồng rừng tập trung. Chỉ có những loài
mà vốn bản tính tự nhiên của nó đã ưa sáng, chịu được hạn như: mỡ
(Manglieta glauca), bồ đề (Styrax tonkinensis), xoan (Melia azedarach)...,


18

hay những loài vốn đã sống trên các điều kiện lập địa cực đoan, hoặc các
vùng khí hậu bất lợi, chẳng hạn như vùng mưa mùa đông hay các vùng có
mùa khô hạn kéo dài, đó là các loài như: Phi lao (Casuarina sp), Tếch
(Teatona grandis), dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius)...
Các công trình nghiên cứu trên đã xác định được quy luật sinh trưởng
của các loài cây đưa vào nghiên cứu, xây dựng mô hình sinh trưởng và năng
suất cho các loài cây trồng trên một số dạng điều kiện lập địa cơ bản, tìm ra
được yếu tố cơ bản chi phối đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng trên
một số dạng lập địa.
1.3. Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy nghiên cứu về cây lá

MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - GIỚI HẠN - PHẠM VI - NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu chung
Phát triển và nhân rộng các mô hình rừng trồng thành công về hiệu quả
kinh tế, xã hội, môi trường để áp dụng cho các dự án, chương trình trồng rừng
tại Việt Nam.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Về lý luận
Tổng kết và đánh giá được các biện pháp kỹ thuật, một số mô hình rừng
trồng đã áp dụng trong dự án “Trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ
An- (KfW4)” tại huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa.
- Về thực tiễn
Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật xây dựng mô hình rừng trồng
có hiệu quả theo hướng phát triển bền vững trong dự án KfW4 tại huyện
Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa, làm cơ sở để nhân rộng các mô hình trong tỉnh
Thanh Hóa.
2.2. Đối tượng, giới hạn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng được chọn nghiên cứu là một số mô
hình rừng trồng của dự án KfW4 tại huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa.
- Giới hạn nghiên cứu:
+ Về đánh giá mô hình: Đề tài chỉ tập trung đánh giá các mô hình trồng
rừng năm 2005 là thời gian các mô hình tại huyện Thạch Thành được xây
dựng với tuân thủ đúng các quy trình kỹ thuật đã ban hành, số lượng mô hình
đa dạng nhất.
- Do cây bản địa sinh trưởng khá chậm nên cho đến thời điểm hiện tại


21



KfW4 có hiệu quả theo hướng phát triển bền vững tại huyện Thạch Thành.
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu
Nghiên cứu trong lĩnh vực lâm nghiệp đối tượng nghiên cứu là cây
trồng dài ngày có chu kỳ kinh doanh hàng chục năm thậm chí có loài tới hàng
trăm năm, do vậy để đạt được mục tiêu đề ra chúng ta cần phải chọn lựa được
phương pháp nghiên cứu thích hợp. Muốn đạt được điều đó phải căn cứ vào
đối tượng nghiên cứu và các điều kiện thực tiễn, phương tiện, thiết bị phục vụ
cho công tác nghiên cứu hiện có, cùng với việc tiếp thu, tham khảo dựa trên
nguyên tắc kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các mô hình rừng trồng, các loài cây
bản địa có nhu cầu về điều kiện lập địa, sinh thái nhất định, cần phải xác định
lập địa trồng cho phù hợp với đặc điểm sinh thái của loài. Để xác định điều
kiện sinh thái phù hợp cho trồng rừng sản xuất có chức năng phòng hộ bằng
cây bản địa phải dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là:
- Phù hợp với điều kiện sinh thái, đất đai của vùng trồng: luôn tuân thủ
theo nguyên tắc “đất nào cây ấy” có như vậy khi chọn loại cây trồng mới phát
huy tốt khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh chóng phát huy các mục tiêu
phòng hộ của rừng.
- Phát huy được tác dụng môi trường bền vững đồng thời đáp ứng được
mục tiêu kinh tế đặt ra: Đa dạng, hỗn loài là những tiêu chí hàng đầu của cây
trồng với mục tiêu bền vững, song song với quá trình sinh trưởng phát triển
nhanh của cây trồng thì mục tiêu kinh tế được đáp ứng.
Dựa vào các quan điểm đó, đề tài đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố đã
được đề cập ở trên làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng
rừng bằng các loài cây lá rộng bản địa nhằm phát huy tác dụng bền vững và
kinh tế của rừng.






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status