Giải pháp phát triển cây nhãn chín muộn trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội - Pdf 43

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Tuấn


ii

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo Phòng
Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp, các thầy, cô giáo trực tiếp giảng
dạy đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và làm đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS
Nguyễn Cúc, người đã tận tình chỉ bảo, định hướng và giúp đỡ tôi về chuyên môn
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân huyện Quốc Oai,
Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê huyện Quốc Oai đã ủng hộ và cung cấp tài liệu đầy
đủ.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân các xã, các cán bộ, hộ gia đình
và cá nhân đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, phỏng vấn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình,
người thân và bạn bè trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện đề tài của mình.
Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2014

1.3.3. Các yếu tố về tổ chức sản xuất, khoa học kỹ thuật và công nghệ....... 13
1.4. Kinh nghiệm thực tiễn phát triển cây nhãn tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Bắc
Giang ............................................................................................................... 15
1.4.1. Kinh nghiệm phát triển cây nhãn tại tỉnh Hưng Yên ............................ 15
1.4.2. Kinh nghiệm phát triển cây nhãn tại tỉnh Bắc Giang ............................ 16


iv

1.4.3. Bài học rút ra từ cơ sở thực tiễn ............................................................ 17
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN QUỐC OAI – THÀNH PHỐ
HÀ NỘI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................. 18
2.1. Đặc điểm của huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội. .............................. 18
2.1.1. Điều kiện tự nhiên [28] ......................................................................... 18
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ...................................................................... 21
2.1.3. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội chung của huyện Quốc Oai [27] . 23
2.2. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 27
2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu ..................................................... 27
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 27
2.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu ................................................ 29
2.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu .......................................................... 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 32
3.1. Thực trạng phát triển cây nhãn chín muộn trên địa bàn huyện Quốc Oai 32
3.1.1. Đặc điểm cây nhãn chín muộn Đại Thành Quốc Oai ........................... 32
3.1.1.1. Giới thiệu chung về cây nhãn chín muộn Đại Thành Quốc Oai ........ 32
3.1.1.2. Đặc trưng kinh tế, kỹ thuật của cây nhãn chín muộn Đại Thành Quốc
Oai ................................................................................................................... 33
3.1.2. Vị thế cây nhãn chín muộn trong ngành trồng trọt của huyện Quốc Oai
......................................................................................................................... 38
3.1.3.Thực trạng phát triển cây nhãn chín muộn ở huyện Quốc Oai. ............. 40

PHỤ LỤC


vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt

Nguyên nghĩa

BQ

Bình quân

BVTV

Bảo vệ thực vật

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa -Hiện đại hóa

GTSX

Giá trị sản xuất

KH&CN

Khoa học và công nghệ


1.1

Yêu cầu nhiệt độ, lượng mưa của một số cây ăn quả

10

1.2

Yêu cầu về đất đai để trồng một số loại cây ăn quả

11

2.1

Dân số huyện quốc Oai từ năm 2009-2013

22

2.2
2.3
3.1

3.2

3.3

Một số chỉ tiêu Kinh tế – Xã hội của huyện Quốc Oai giai đoạn
2011-2013
Số mẫu, đối tượng điều tra, phỏng vấn
Các chỉ tiêu đặc trưng thông qua phân tích lý hóa nhãn chín muộn

43

3.7

Tình hình áp dụng một số biện pháp kỹ thuật chính

45

3.8

Các loại phân bón và cách bón

46

3.9

Các loại sâu bệnh hại chính trên cây

47

3.10

Thu hái, bảo quản và giá bán

55

3.11

Thông tin chung về hộ điều tra


Giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ suất lợi ích/chi phí (BCR), tỷ lệ hoàn
3.16

vốn nội bộ (IRR) đối với cây nhãn chín muộn tính bình quân cho 1

69

ha
3.17

3.18
3.19

So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất Nhãn chín muộn với cam Canh và
Bưởi Diễn trên 1 ha
Phân tích ma trận SWOT trong phát triển sản xuất nhãn chín muộn
trên địa bàn huyện Quốc Oai
Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp toàn huyện đến năm 2020

71

77
84


ix

DANH MỤC BIÊU ĐỒ VÀ CÁC HÌNH

STT

Những khó khăn trong quá trình sản xuất và kinh doanh nhãn chín
muộn Đại Thành Quốc Oai
Các biện pháp giới thiệu và quảng bá sản phẩm nhãn chín muộn
Đại Thành Quốc Oai

52

53
54
56

58

Tên hình
2.1

Bản đồ hành chính huyện Quốc Oai – Hà Nội

19

3.1

Hình ảnh cây nhãn tổ tại xã Đại Thành huyện Quốc Oai

33

3.2

Hình ảnh chùm nhãn chín muộn Đại Thành Quốc Oai


giống cây ăn quả đặc sản của Hà Nội. Ngày nay do nhu cầu tiêu dùng ngày càng
tăng, giống cây nhãn chín muộn được nhân trồng ra nhiều địa phương khác thuộc
các huyện ngoại thành Hà Nội như: Quốc Oai, Hoài Đức, Thanh Oai... Nhãn chín
muộn không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm giàu vitamin, có tác dụng bảo vệ và cải
thiện môi trường sinh thái mà còn đem lại giá trị kinh tế cao, góp phần xóa đói giảm
nghèo và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Huyện Quốc Oai được hợp nhất với Thủ đô Hà Nội từ tháng 01 năm 2008
theo nghị quyết 15 của Quốc Hội khóa XII, nằm trong vành đai thực phẩm phục vụ
nhu cầu của thủ đô Hà Nội, với những điều kiện về đất đai và khí hậu thuận lợi để
phát triển các loại cây ăn quả có giá trị cao, trong đó có cây nhãn chín muộn. Quốc
Oai lại là huyện nằm ở cửa ngõ thủ đô Hà Nội - nơi tập trung đông dân cư là thị


2

trường tiêu thụ rộng mở, Hà Nội cũng là nơi tập trung các trung tâm nghiên cứu
khoa học, các khu công nghiệp, sẽ thuận lợi cho việc nghiên cứu, học tập và trao đổi
những kinh nghiệm để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; đồng thời cũng sẽ
thuận lợi cho việc bảo quản và chế biến nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm.
Là một trong những vùng sản xuất cây ăn quả tập trung như cây nhãn chín
muộn, cam, bưởi... nằm trong Đề án “Phát triển một số loại cây ăn quả có giá trị
kinh tế cao thành phố Hà Nội, giai đoạn 2011-2016" của UBND thành phố Hà Nội,
nhằm xây dựng những vùng cây ăn quả có năng suất, chất lượng cao. Trong những
năm gần đây, huyện Quốc Oai đã chỉ đạo các địa phương vùng đồi gò từng bước
đưa những giống cây ăn quả cho giá trị kinh tế cao, đặc biệt đưa cây nhãn chín
muộn vào sản xuất, chuyển đổi tập quán canh tác và cơ cấu cây trồng để nâng cao
thu nhập cho người nông dân, góp phần vào sự phát triển kinh tế chung toàn huyện.
Tuy nhiên, thực tế diện tích sản xuất cây ăn quả nói chung và cây nhãn chín
muộn nói riêng của huyện Quốc Oai vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán; người nông
dân vẫn đang trồng và phát triển cây theo kiểu tự phát và làm theo kinh nghiệm, chưa

- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu thực trạng phát triển cây
nhãn chín muộn trên địa bàn huyện Quốc Oai.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Nội dung: Nghiên cứu sự phát triển kinh tế cây nhãn chín muộn trên địa bàn
huyện Quốc Oai
+ Không gian : Nghiên cứu trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
+ Thời gian :
Các số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2011 đến 2013, có dự báo đến 2020;
Các số liệu sơ cấp được tiến hành điều tra phỏng vấn từ 3/2014 đến 9/2014.
4. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được
kết cấu thành 03 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây nhãn chín muộn
- Chương 2: Đặc điểm cơ bản của huyện Quốc Oai – thành phố Hà Nội và
phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu:
+ Thực trạng phát triển cây nhãn chín muộn trên địa bàn huyện Quốc Oai.
+ Phương hướng, mục tiêu phát triển cây nhãn chín muộn của huyện Quốc Oai
+ Những giải pháp đẩy mạnh phát triển cây nhãn chín muộn của huyện Quốc Oai.


4

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
CÂY NHÃN CHÍN MUỘN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm về phát triển
Phát triển là một phạm trù thường được dùng để đánh giá một sự thay đổi,

- Là quá trình gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, đặc biệt là năng lực
khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người dân từ kết quả tăng trưởng. [16]
Để đo lường kết quả sản xuất xã hội hằng năm, các quốc gia trên thế giới
thường dùng hai loại chỉ tiêu kinh tế tổng hợp để đánh giá: Thứ nhất, là tổng sản
phẩm quốc dân (GNP-Gross National Product). Thứ hai, là tổng sản phẩm quốc nội
(GDP-Gross Domestic Product). GDP phản ánh kết quả tăng giá trị tổng sản lượng
hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra bởi các yếu tố sản xuất trong lãnh
thổ kinh tế quốc gia trong từng thời kỳ nhất định (thường là một năm). Còn GNP là
một chỉ tiêu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước nó được tính là
tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một
nước làm ra trong một khoảng thời gian nào đó, thông thường là một năm tài chính,
không kể làm ra ở đâu (trong hay ngoài nước).
1.1.3. Phát triển bền vững
Theo Ủy ban Môi trường và phát triển thế giới WCED 1987 (nay là Ủy ban
Brundtland) thì: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những
nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu
cầu của các thế hệ tương lai...”. [4]. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo
đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ,
gìn giữ.
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình
phát triển của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng
thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử.
Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển được tổ chức năm
1992 ở Rio de Janeiro – Braxin, 179 nước tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố
Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và


6



* Phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững
Phát triển sản xuất cây ăn quả là một trong những hướng đi quan trọng góp
phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho
người nông dân. Là một trong những yếu tố chính trong sự phát triển của nông
nghiệp nước ta nói chung và ngành trồng trọt nói riêng.
Với những điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai…nước ta có rất nhiều tiềm
năng và lợi thế để phát triển cây ăn quả, đặc biệt là những cây ăn quả mang lại giá
trị kinh tế cao vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước vừa đáp ứng yêu cầu xuất
khẩu, phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện tại là giảm tỷ trọng lương thực, thực
phẩm, gia tăng tỷ trọng rau quả. Đặc biệt hiện nay Nhà nước đang có rất nhiều chính
sách ưu đãi đối với việc quy hoạch vùng sản xuất cây ăn trái tập trung an toàn theo
hướng GAP (sản xuất nông nghiệp tốt) và ứng dụng công nghệ sau thu hoạch tiên
tiến nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường
trong và ngoài nước; xây dựng thương hiệu trên cơ sở đảm bảo chất lượng, khối
lượng và uy tín; xây dựng chiến lược phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu;
đồng thời tăng cường quảng bá trái cây Việt Nam và xúc tiến thương mại. Thực tiễn
phát triển cây ăn quả trong những năm qua đã đạt được những kết quả trên cả 03 mặt:
Gia tăng thu nhập, giải quyết việc làm và bảo vệ môi trường sinh thái.

1.2. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển cây nhãn chín muộn
- Về giống và công tác bảo tồn nguồn giống cây: Giống cây là yếu tổ
ban đầu và quan trọng đối với sự phát triển của các loại cây nói chung và cây
nhãn chín muộn nói riêng. Với những giống cây quý, hiếm có phẩm chất và
năng suất vượt trội nếu được chú trọng lưu giữ và bảo tồn sẽ không ngừng
phát triển về quy mô cũng như chất lượng. Nhưng nếu ngược lại, các hộ gia
đình, địa phương thờ ơ với công tác bảo tồn, nguồn gen quý hiếm sẽ mai một
và mất đi thương hiệu do chất lượng và sản lượng giảm dần. Để làm tốt công
tác bảo tồn, địa phương cần quy hoạch vùng sản xuất cho từng loại giống cây
trồng quý, nhất là cây đặc sản, hướng tới xây dựng sản phẩm chủ lực của địa

khi nguồn vốn đó bị phân tán.


9

- Chất lượng quả nhãn chín muộn: Chất lượng quả nhãn chín muộn là
tiêu chí then chốt của cả quá trình sản xuất vì vậy cần được chú trọng đầu tư
để nâng cao chất lượng sản phẩm cuối cùng này. Chất lượng quả sẽ đánh giá
sự phát triển của cây nhãn chín muộn thông qua việc khẳng định thương hiệu
và vị thế trên thị trường. Một sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp mắt sẽ
được người tiêu dùng lựa chọn. Và cứ như thế, chất lượng sản phẩm không
ngừng được nâng cao, giá trị dinh dưỡng cao, giá thành hợp lý sẽ ngày càng
được nhiều người tiêu dùng ưu chuộng, chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị
trường so với các sản phẩm.
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế của cây ăn quả nói chung và cây
nhãn chín muộn nói riêng được thể hiện bằng giá trị kinh tế từ việc sản xuất
và kinh doanh sản phẩm. Nếu sản phẩm có chất lượng tốt, được bán trực tiếp
cho người tiêu dùng không qua các tác nhân thương mại chung gian sẽ bán
được mức giá cao vừa đem lại hiệu quả sản xuất cho người tiêu dùng, vừa
đem lại lợi ích cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó trong quá trình sản xuất
người nông dân biết tận dụng những đầu vào sẵn có và sử dụng hợp lý, hiệu
quả những đầu vào sẽ tiết kiệm được chi phí sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế đạt được càng cao, ngưởi sản xuất càng tích lũy được nhiều
vốn để đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật hiện
đại vào quy trình sản xuất, vừa giảm thiểu được chi phí nhân công vừa nâng
cao năng suất cây trồng, giảm thiểu rủi ro trong quá trình sản xuất.
1.2.3. Vai trò, ý nghĩa của việc đẩy mạnh phát triển cây nhãn chín muộn
- Nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng thu nhập
cho người nông dân.
- Cung cấp sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.


tối thấp

(mm)

Thích hợp

1

Nhãn

21-22

27

10

>1200

2

Vải

24-29

29

10

1250-1700

tiết diễn biến thất thường, lúc nắng to, lúc mưa thì nhãn cũng khó có khả năng đậu
quả [21].
- Đất đai và địa hình: Nguồn gốc đất đai của vùng, thuộc loại đất gì, có
bao nhiêu khu vực khác nhau trong vùng, độ dày tầng đất, thành phần cấu trúc đất,
mực nước ngầm, địa hình độ cao, độ dốc của khu vực trong vùng để từ đó đưa
loại cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai của vùng [21].


11

Bảng 1.2: Yêu cầu về đất đai để trồng một số loại cây ăn quả
STT
1

Cây Trồng
Nhãn

Yêu cầu
Trồng được trên đất phù sa, đất thịt nhẹ, đất đồi, đất có
tầng dày trên 70cm, tỷ lệ mùn 2%, độ PH 5,5 – 6,5
Có tính thích ứng rộng, không kén đất, chịu hạn, độ

2

Vải

PH từ 5,5 - 6,5. Sườn đồi có tầng đất dày trên 70cm, độ
dốc dưới 250.

3



12

- Lực lượng lao động: Là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất.
Lực lượng lao động có trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kinh nghiệm sản
xuất sẽ có vai trò quyết định nâng cao năng suất lao động. Do đó, chất lượng sức lao
động quyết định đến kết quả và hiệu quả sản xuất. Thực tế, trong quá trình trồng và
chăm sóc cây ăn quả, người nông dân có những kiến thức về đặc tính sinh học của
cây trồng, cũng như tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất sẽ tìm ra được những
biện pháp gieo trồng và chăm sóc vừa tiết kiệm chi phí vừa đạt hiệu quả cao.
- Thị trường: Thị trường tiêu thụ sản phẩm thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa
hai khâu sản xuất và tiêu thụ. Nếu thị trường tiêu thụ chấp nhận sản phẩm thì quy mô
sản xuất sẽ được duy trì phát triển và mở rộng, ngược lại thì ngành sản xuất đó sẽ dẫn
đến phá sản.
Về cơ bản sản xuất nhãn chín muộn tại địa phương còn hạn chế về diện tích
cũng như sản lượng, nguồn cung sản phẩm chưa đáp ứng đủ nhu cầu thị trường.
Phần lớn còn sản xuất theo quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, manh mún chưa tập trung.
Bên cạnh đó còn do nguyên nhân vốn và các nguồn lực đầu tư còn hạn hẹp nên việc
mở rộng quy mô sản xuất gặp nhiều khó khăn với các hộ trồng nhãn.
Mặc dù nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng trong nước, đặc biệt là người
tiêu dùng ở các thành phố lớn như Hà Nội, vẫn rất ưu chuộng loại sản phẩm này
nhưng hiện nguồn cung vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu đặc biệt là vào thời điểm
nhãn chính vụ đã hết.
Công tác dự báo thị trường, tổ chức thu thập và xử lý thông tin đã có những
tiến bộ đáng kể nhưng còn rời rạc, chậm về thời gian, thiếu hệ thống từ cơ sở vật
chất đến phương thức tổ chức, nghèo nàn về nội dung, chưa thực sự trở thành một
công cụ mạnh để chỉ đạo, hướng dẫn sản xuất. Do thiếu thông tin về thị trường nên
người sản xuất rất lúng túng trong việc quyết định đầu tư nên trồng cây gì? qui mô
ra sao? để có hiệu quả. Thị trường chưa thực sự hướng dẫn sản xuất, chưa có tác

BVTV...), hỗ trợ về kỹ thuật canh tác, công nghệ bảo quản, sơ chế và thu mua lại
bưởi hàng hoá; Bán vật tư nông nghiệp và mua lại sản phẩm rau quả; trực tiếp tiêu
thụ nhãn chín muộn hàng hóa.
1.3.3. Các yếu tố về tổ chức sản xuất, khoa học kỹ thuật và công nghệ
Để sản xuất cây ăn quả nói chung, cây nhãn nói riêng phát triển bền vững
cần có chiến lược, quy hoạch có sự phối hợp đồng bộ của nhiều cấp, ban ngành,


14

đặc biệt là liên kết sản xuất. Hầu hết các hộ trồng nhãn hiện nay ở Quốc Oai vẫn
sản xuất theo tính tự phát. Việc chọn giống cây cũng làm theo cách truyền thống,
lấy hạt cây nhãn có quả to để ươm giống cây cho vụ sau, cách làm này là thiếu cơ
sở khoa học, cây nhãn cho quả to không có nghĩa là cho cây giống tốt và chất
lượng quả cao.
Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nhãn chín
muộn ở Quốc Oai hiện nay đã có nhiều bước chuyển biến tích cực. Các hộ đã có
nhận thức về việc áp dụng các thành tựu nghiên cứu, các tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất mang lại năng suất, chất lượng quả nhãn cao hơn. Một số hộ còn mạnh
dạn thử nghiệm các phương pháp trồng mới mang lại hiệu quả, năng suất cao hơn.
Có những hộ còn thuê chuyên gia về tư vấn và hướng dẫn việc áp dụng các biện
pháp kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nhãn tại vườn nhãn nhà mình.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được kể trên, về cơ bản việc áp
dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ trong việc trồng, chăm sóc
nhãn tại Quốc Oai còn rất nhiều hạn chế. Thường thì những chủ hộ có quy mô trồng
nhãn lớn, năng lực tài chính tốt và ổn định mới thường xuyên tìm hiểu và áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng vườn nhãn của
mình. Còn đa số các hộ trồng nhãn theo quy mô hộ gia đình tương đối nhỏ lẻ thì chỉ
gieo trồng, chăm sóc bằng kinh nghiệm thực tiễn sản xuất và kinh nghiệm được
truyền lại từ cha ông. Dù đã có nhận thức tốt hơn về việc ứng dụng khoa học công

việc chiết, ghép đưa về vườn bảo tồn nhãn đầu dòng của tỉnh. Việc nhân giống và
cung cấp giống, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng mô hình thâm canh nhãn đã
được triển khai ở nhiều nơi [10].
Tỉnh Hưng Yên có diện tích nhãn lớn, gần 3.000 ha; trong đó, giống nhãn
Hương Chi chiếm hơn 30% diện tích, trồng chủ yếu ở thành phố Hưng Yên và các
huyện Tiên Lữ, Kim Động; giống nhãn chín muộn Hàm Tử chiếm hơn 32% diện
tích, trồng chủ yếu ở các huyện Khoái Châu, Văn Giang; còn lại là các giống khác
trồng ở khắp các địa phương trong tỉnh. Sản phẩm quả nhãn tươi, long nhãn, mật
nhãn, phấn hoa được tiêu thụ trong nước, xuất khẩu sang nhiều nước, mang lại
nguồn lợi lớn cho nông dân hàng trăm tỷ đồng/năm. Do vậy, việc bảo tồn nguồn
gien các giống nhãn ở Hưng Yên cần được quan tâm hơn nữa, nhất là về nguồn kinh


16

phí, nhằm lưu giữ các gien quý, bảo đảm sự đa dạng sinh học, phục vụ nghiên cứu,
lai tạo, nhân giống phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Việc bảo tồn nguồn gien nên
tiến hành ở cả ba dạng: nguyên trạng, quy tập về vườn bảo tồn và dạng tế bào, mô.
Việc bảo tồn không chỉ lưu giữ các gien quý mà bảo tồn cả những cây nhãn, rặng
nhãn gắn liền với di tích, lịch sử, văn hóa nhằm phát triển thương hiệu nhãn lồng,
thương mại, văn hóa, du lịch Phố Hiến [10].
1.4.2. Kinh nghiệm phát triển cây nhãn tại tỉnh Bắc Giang
Theo Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang hiện nay toàn tỉnh có khoảng 2
nghìn ha nhãn cho thu hoạch, tập trung tại Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên.
Sản lượng nhãn bình quân đạt 8 tấn/ha. Tại Lục Ngạn sản lượng ước đạt hơn 5
nghìn tấn, tăng 500 tấn; Lục Nam hơn 3 nghìn tấn, tăng 300 tấn so với năm
ngoái. Năng suất và sản lượng nhãn toàn tỉnh tăng lên dần qua thời gian do các hộ
sản xuất nhãn đã chú trọng việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tuyển chọn
các giống nhãn tốt đưa vào sản xuất.Trong khi số diện tích cho quả thì năng suất rất
cao, có vườn tăng đột biến, đạt 10 tấn/ha. Một số diện tích trồng mới bước vào giai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status