Giải pháp phát triển sản xuất chè quy mô hộ trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội - Pdf 43

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được ghi trong lời cảm ơn.
Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Kiều Thị Hồng Nhung


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn "Giải pháp phát triển sản xuất
chè quy mô hộ trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội" tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của những cá nhân và tập thể.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu.
Trước hết tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu nhà trường,
phòng Đào tạo Sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Lâm
Nghiệp đã tạo mọi điều kiện về tinh thần và vật chất giúp đỡ tôi hoàn thành
chương trình học tập và nghiên cứu. Có được kết quả này tôi vô cùng biết ơn

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ......................................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................ vi
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN
XUẤT CHÈ QUY MÔ HỘ ........................................................................... 5
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất chè quy mô hộ ................................. 5
1.1.1. Vài nét về cây chè và ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè ............. 5
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của cây chè ............................................... 7
1.1.3. Kinh tế hộ nông dân sản xuất chè........................................................ 12
1.1.4. Hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của hộ nông dân .......................... 18
1.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè........................................ 23
1.1.6. Những chỉ tiêu đánh giá về phát triển sản xuất chè quy mô hộ ........... 32
1.2. Phát triển sản xuất chè trên thế giới và ở Việt Nam ............................... 35
1.2.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới .................................................... 35
1.2.2. Phát triển sản xuất chè ở Việt Nam..................................................... 37
1.3. Tổng quan các công trình nguyên cứu liên quan đến luận văn ............... 41
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .... 43
2.1. Đặc điểm của huyện Quốc Oai – Thành phố Hà Nội ............................. 43
2.1.1. Điều kiện tự nhiên .............................................................................. 43
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ................................................................... 47
2.1.3. Đánh giá chung................................................................................... 53
2.2. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 55


iv

2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu khảo sát ..................................... 55
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu.............................................................. 56
2.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu .............................................. 56
2.2.4. Các chỉ tiêu sử dụng trong luận văn .................................................... 57


Viết tắt

Nguyên nghĩa

BVTV

Bảo vệ thực vật

CNH

Công nghiệp hóa

CPSX

Chi phí sản xuất

DN

Doanh nghiệp

ĐVT

Đơn vị tính

GO

Tổng giá trị sản xuất

GTSX


VĐT

Vốn đầu tư


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
STT

Tên bảng

Trang

1.1

Ảnh hưởng của độ cao tới hàm lượng tanin trong chè

8

1.2

Quan hệ giữa lượng mưa và sự phân bố sản lượng búp chè

9

1.3
1.4
3.1

3.5
3.6
3.7

Tình hình sản xuất chè của các hộ nông dân theo loại hình hộ
(tính bình quân/hộ)
Tình hình sản xuất chè của các hộ nông dân theo mức thu
nhập (Tính bình quân/hộ)
Tình hình đầu tư sản xuất chè của các hộ nông dân (Tính bình
quân/hộ/ha)

67
69
71

3.8

Hiệu quả sản xuất chè của các hộ nông dân

73

3.9

Hiệu quả sản xuất chè tính bình quân trên 1 hộ

74

3.10 Hiệu quả sản xuất chè của hộ nông dân theo mức thu nhập
3.11
3.12

và có giá trị kinh tế. Tạo nhiều việc làm cũng như thu nhập cho người lao
động, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi. Với ưu thế là một cây công
nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu cũng
như tiêu dùng trong nước, cây chè được coi là cây trồng mũi nhọn, một thế
mạnh của khu vực trung du và miền núi.
Trên địa bàn thành phố Hà Nội, huyện Quốc Oai là một trong những
địa phương có điều kiện tự nhiên thích hợp để phát triển cây chè, cây chè đã
được người dân nơi đây trồng từ rất sớm, trong sản xuất nông nghiệp hiện nay
cây chè không chỉ là cây xóa đói, giảm nghèo mà đã giúp nhiều gia đình có
kinh tế khá hơn, từng bước vươn lên làm giàu. Mặt khác, cây chè cũng đóng


2

góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong nhiều năm
qua, ngành chè của huyện đã có bước phát triển vượt bậc, diện tích trồng chè,
năng suất và sản lượng chè đã tăng đáng kể. Tuy nhiên, so với tiềm năng của
vùng thì việc sản xuất, chế biến và kinh doanh chè còn bộc lệ nhiều tồn tại
yếu kém như chậm phát triển và thiếu giải pháp kiên quyết, đồng thời để giải
quyết những khó khăn, vướng mắc trong chương trình trồng, chăm sóc, chế
biến và tiêu thụ chè. Lúng túng và chậm cải tạo, thay thế chè già cỗi ở vùng
thấp và khắc phục yếu kém trong trồng và chăm sóc chè vùng cao. Chất lượng
chè còn chưa đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng. Giá cả chè của
huyện còn thấp so với tiềm năng thế mạnh của vùng, mặt khác phương thức
sản xuất của các hộ gia đình còn mang tính nhỏ lẻ thủ công, dựa vào kinh
nghiệm là chính, việc sử dụng phân bón chưa hiệu quả, cơ cấu giống còn
nghèo nàn, chất lượng còn thấp...
Xuất phát từ thực tế trên tôi đã lựa chọn đề tài "Giải pháp phát triển
sản xuất chè quy mô hộ trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội"
làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết các vấn đề còn tồn tại để



Thời gian: Đề tài được nghiên cứu các chỉ tiêu và số liệu kinh tế

tập trung trong 3 năm từ năm 2012 – 2014.


Nội dung: Đề tài nghiên cứu các vấn đề về thực trạng phát triển sản

xuất chè của huyện Quốc Oai, qua đó đánh giá những thuận lợi, khó khăn từ
đó đề ra những giải pháp chủ yếu đề nâng cao hiệu quả sản xuất chè.
4. Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những nội dung sau:
- Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất chè quy mô hộ gia đình; bao gồm
cả các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của hộ sản xuất chè;
- Tình hình sản xuất chè trên thế giới và ở Việt Nam; kinh nghiệm
phát triển sản xuất của các địa phương.
- Thực trạng sản xuất chè trên địa bàn huyện Quốc Oai trong thời gian
vừa qua;


4

- Thực trạng, hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất
chè quy mô hộ ở các hộ điều tra khảo sát trên địa bàn huyện Quốc Oai trong
thời gian vừa qua.
- Giải pháp phát triển sản xuất chè quy mô hộ trên địa bàn huyện Quốc
Oai, Hà Nội trong thời gian tới.




6

những cái nôi của cây chè. Các vùng chè Lạng Sơn, Hà Giang và đặc biệt là
khu vực chè hoang với hơn 41 vạn cây chè tuyết cổ thụ ở Suối Giàng (huyện
Nghĩa Lộ – Yên Bái) trên độ cao hơn 1300m so với mực nước biển là những
bằng chứng quan trọng cho giả thiết trên.
Ngoài những giống chè như chè Tuyết san, Việt Nam đã nhập khẩu thêm
một số giống chè mới có nguồn gốc từ Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc.
1.1.1.2. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan
trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người.
Sản phẩm chè hiện nay được tiêu dùng ở khắp các nước trên thế giới, kể cả
các nước không trồng chè cũng có nhu cầu lớn về chè. Ngoài tác dụng giải
khát chè còn có nhiều tác dụng khác như kích thích thần kinh làm cho thần
kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc,
tăng sức đề kháng cho cơ thể…
Đối với nước ta sản phẩm chè không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn là
mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước.
Đối với người dân thì cây chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải
thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận
lao động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn. Nếu so sánh cây chè với các
loại cây trồng khác thì cây chè có giá trị kinh tế cao hơn hẳn, vì cây chè có
chu kỳ kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục
khoảng 30 - 40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ này còn kéo dài hơn nữa.
Mặt khác chè là cây trồng thích hợp với các vùng đất trung du và miền
núi. Chính vì vậy cây chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần
cải thiện môi trường, phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Nếu kết hợp với trồng
rừng theo phương thức nông - lâm kết hợp sẽ tạo nên một vành đai xanh
chống xói mòn rửa trôi, góp phần bảo vệ phát triển nông nghiệp bền vững.



8

phải đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước. Độ pH
thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0. Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80
cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường.
Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung du phần lớn là feralit vàng đỏ
được phát triển trên đá granit, nai, phiến thạch sét và mica. ở vùng núi phần
lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét. Về cơ
bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ
pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước. Những đất này thường
nghèo chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ.. Vì thế vấn đề bón phân
hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất
cần thiết. Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý phân hóa học
hàng năm cho chè. Chè là loại cây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất
trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã làm cây chè bị
hại. Bởi thế không bao giờ người ta dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ
trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4.
Quan hệ giữa đất và phẩm chất chè rất phức tạp. Phẩm chất do nhiều
yếu tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp. Song trong những điều
kiện nhất định thì điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn đến
phẩm chất. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy: chè sinh trưởng trên loại
đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh: mùi vị hương
của chè thành phẩm đều tốt. Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì có vị đắng
và nước có màu vàng. Chè trồng trên đất xấu hương không thơm, vị nhạt và
chất hòa tan ít.
Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng
chè. Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: chè không trồng
trên núi cao có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng

75

113

130

150

260

%

23,28

23,28

24,96

25,20

25,66

26,06

(Nguồn:Viện Nông học Hồ Nam,1957 )
1.1.2.2. Điều kiện độ ẩm và lượng mưa
Thực vật nói chung muốn hình thành nên một phần vật chất hữu cơ để cấu
tạo thành cơ thể của chúng thì chúng phải cần tới 400 phần nước. Chè là loại cây
ưa ẩm, là cây thu hoạch búp, lá non, nên càng cần nhiều nước và vấn đề cung
cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây chè lại càng quan trọng hơn.


9

10

1112

Sản
lượng
chè
trong
năm
(%)

0,39

7,2 - 5,34

10,35

14,74

16,66

13,22

16,50

10,60


Nghiên cứu về yêu cầu của cây chè đối với độ ẩm, Urusatze, Khamzaep xác
định rằng độ ẩm đất thích hợp cho cây chè phát triển là 80 - 85% sức chứa
ẩm tối đa đồng ruộng và độ ẩm không khí thích hợp là 75 - 80% hoặc trên
80%. Thiếu nước, độ ẩm không khí và độ ẩm của đất không đủ thì sức sinh
trưởng của búp sẽ yếu, lá trở nên dày và cứng, hình thành nhiều búp mù,
phẩm chất kém.
1.1.2.3. Điều kiện nhiệt độ không khí
Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi độ nhiệt
nhất định. Theo nghiên cứu của Kvaraxkhêlia (1950) và Trang Vãn Phương
(1956) thì cây chè bắt đầu sinh trưởng khi độ nhiệt trên 10oC. Độ nhiệt bình
quân hàng năm để cây chè sinh trưởng phát triển bình thường là 12,5oC và
sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 - 23oC. Giới hạn độ nhiệt thấp đối với sinh
trưởng của chè biểu hiện rõ rệt qua thời kỳ ngừng sinh trưởng trong mùa
đông và sinh trưởng trở lại khi có độ nhiệt ấm áp của mùa xuân trong những
vùng khí hậu á nhiệt đới. Đối với sinh trưởng của cây trong thời kỳ này thì độ
nhiệt không khí trở thành nhân tố sinh thái chủ yếu. Cây chè yêu cầu lượng
tích nhiệt hàng năm 3.500 - 4.000oC. Độ nhiệt tối thấp tuyệt đối mà cây có
thể chịu đựng được thay đổi tùy theo giống, có thể từ -5oC đến -25oC hoặc
thấp hơn.
Nghiên cứu của Trường Đại học Nông nghiệp Chiết Giang cho thấy độ
nhiệt thích hợp đối với cây chè là 20 - 30oC, nếu độ nhiệt tăng dần, thì tác
dụng xúc tiến việc hình thành và tích lũy tanin trong lá chè biểu hiện rất rõ
rệt. Độ nhiệt quá thấp hoặc quá cao đều giảm thấp việc tích lũy tanin. Độ


12

nhiệt cao quá 35oC thì quá trình tích lũy tanin bị ức chế và nếu độ nhiệt trên
35oC kéo dài liên tục, chè sẽ bị cháy lá. Ngược lại khi độ nhiệt giảm thấp sẽ
dẫn đến một loạt biến đổi về cơ năng sinh lý thành phần hóa học của búp chè,

bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ không hoàn hảo”. Theo
ông các đặc trưng của đơn vị kinh tế để phân biệt gia đình nông dân với
những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là: Thứ nhất,
đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu
tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của
gia đình nông dân trước những thiên tai. Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối
với lao động của gia đình là một đặc tính kinh tế nổi bật của người nông dân.
Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt


14

chúng với các xí nghiệp tư bản. Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta
cho rằng: “người nông dân làm công việc của gia đình chứ không phải làm
công việc kinh doanh thuần túy” (Woly, 1966) nó khác với đặc điểm chủ
yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy
cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận.
Theo “Kinh tế hộ nông dân” của Đào Thế Tuấn (1995) thì Hộ nông dân
là một nhóm người cùng chung huyết tộc, sống chung hay không sống
chung với người khác huyết tộc trong cùng mái nhà, ăn chung và có cùng
chung ngân quỹ. Khái niệm này chưa hoàn toàn phản ánh chính xác về hộ
nông dân. Tuy nhiên, Ông cũng xác định hộ nông dân là những hộ làm nông
nghiệp mà ở đó họ vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu thụ nông sản.
Theo Nguyễn Văn Huân (1995) “Kinh tế hộ nông dân là một hình
thức sản xuất đặc biệt, tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Kinh tế hộ nông dân
có những quy luật phát triển của nó, trong mọi chế độ nó luôn thích ứng với
thực tế cuộc sống, cơ chế kinh tế hiện hành”.
Có nhiều quan niệm khác nhau về hộ nông dân và kinh tế hộ nông
dân, qua tham khảo các tài liệu luận án đưa ra khái niệm về hộ và kinh tế hộ.
Hộ nông dân là hộ gia đình được xem như một đơn vị kinh tế có đất đai, tư

do đó họ có thể giảm thiểu bớt rủi ro.
- Hộ nông dân là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả, có
khả năng thích nghi và sự điều chỉnh rất cao. (Chu Văn Vũ, 1995)
Hộ nông dân sản xuất chè ở Quốc Oai ngoài mang những đặc điểm
chung của hộ nông dân nêu trên còn mang một số đặc điểm:
Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún.
Tiềm lực, nguồn lực (như vốn, lao động…) để sản xuất yếu nên các
hộ nông dân sản xuất chè không dự trữ được các vật tư, yếu tố đầu vào cho
sản xuất chè. Do đó, khi có biến động tăng giá đầu vào các hộ chịu sự tác
động lớn.


16

Trình độ dân trí thấp, vì thế cho dù có đủ nguồn lực để đầu tư cho
sản xuất chè thì hộ nông dân cũng không đủ kiến thức để tính đoán được mức
dự trữ tối ưu.
Hộ nông dân sản xuất chè ở vùng cao của Quốc Oai có địa hình đồi
núi phức tạp, sản xuất của các hộ chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên,
nhất là vào mùa mưa.
Điều kiện sản xuất của hộ nông dân vùng cao còn nghèo nàn, giao
thông đi lại khó khăn, khả năng tiếp cận thị trường kém, nguồn thông tin bị
hạn chế dấn đến kinh tế chậm phát triển.
Để hộ nông dân trồng chè ở Quốc Oai phát triển được thì ngoài sự cố
gắng của bản than người dân, họ cần có sự quan tâm, hỗ trợ của nhà nước,
của các ban ngành, cộng đồng để có những định hướng và các giải pháp
cho từng vùng cụ thể.
1.1.3.3. Các nguồn lực của hộ nông dân
Trong hộ nông dân, các nguồn lực chủ yếu của hộ là đất đai, lao động
và vốn cho sản xuất. Đất đai của hộ nông dân bao gồm: đất được cấp giấy

dân ở Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm: đa dạng nhưng ít chuyên sâu,
mang tính thời vụ; dư thừa nên việc tìm kiếm việc làm trong nông thôn gặp
nhiều khó khăn mà thu nhập lại thấp; trình độ học vấn và kỹ năng của người
lao động thấp, ít được đào tạo, chủ yếu là tự đào tạo và truyền nghề, tôn
sùng kinh nghiệm. Điều này hạn chế đến việc tiếp thu kỹ thuật và công nghệ
mới, nhất là ứng dụng các tiến bộ trong sản xuất của các hộ trồng chè trên
địa bàn tỉnh Quốc Oai. Thực tế hiện nay ở các vùng nông thôn cho thấy, hầu
hết các lao động trẻ khỏe, có học vấn đều dời các làng quê thuần nông lên
các thành phố tìm kiếm cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho hộ. Mặc dù vậy,
một hệ lụy đang diễn ra trong vùng là lao động còn lại cho sản xuất nông
nghiệp nói chung và sản xuất của các hộ trồng chè nói riêng chủ yếu lại là lao
động nữ. Việc sử dụng nhiều lao động nữ trong sản xuất nông nghiệp phần


18

nào có ảnh hưởng tới khả năng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Để sử dụng và nâng cao nguồn nhân lực trong hộ nông dân cần đẩy mạnh đào
tạo kỹ năng lao động thông qua các hoạt động khuyến nông. Xét về lâu dài,
việc đầu tư cho giáo dục và công tác khuyến nông là những phương tiện
hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực cho nguồn lao động này, góp phần nâng
cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện thu nhập cho
hộ nông dân.
Nguồn vốn cho sản xuất là nguồn lực không thể thiếu của hộ. Nguồn
vốn trong hộ nông dân bao gồm tiền và hiện vật mà hộ có hoặc đi vay để
phục vụ sản xuất. Ở nước ta, do quy mô sản xuất của hộ nông dân nhỏ, lẻ,
năng suất lao động thấp nên khả năng tích tụ vốn của đại đa số hộ nông dân
còn rất thấp. Theo số liệu tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn của Tổng cục
thống kê (2012), vốn tích lũy của các hộ nông nghiệp nước ta năm 20012 ở
mức thấp, trung bình khoảng 6,8 trđ/hộ, trong khi vốn tích lũy của các loại

Các nhà kinh tế học thị trường như Samuelson, Nordhaus (2002) cho
rằng “Hiệu quả là một tình trạng mà trong đó các nguồn lực của xã hội được
sử dụng hết để mang lại sự thỏa mãn tối đa cho người tiêu dùng” và “Hiệu
quả kinh tế xảy ra khi không thể tăng thêm mức độ thỏa mãn của người này
mà không làm phương hại cho người khác”.
Theo Phạm Ngọc Kiểm (2009) “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một
phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu. Nó phản
ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ tiết kiệm chi phí các nguồn
lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh”.
Quan điểm này ưu việt hơn trong đánh giá hiệu quả đầu tư theo chiều sâu,
hoặc hiệu quả của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật.
Hiện nay, theo quan điểm mới, hiệu quả kinh tế (EE) gồm hai bộ phận
là hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE). Theo Colman và Young
(1990), hiệu quả kỹ thuật được định nghĩa là khả năng của người sản xuất



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status