Đánh giá khả năng sinh trưởng một số loài cây bản địa dưới tán rừng tại tỉnh bắc ninh - Pdf 43

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả phân tích nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào.
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên
cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận
đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học.
Hà Nội, ngày ... tháng .... năm 2016
Tác giả luận văn

Phan Khắc Đạo


ii

LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của phòng Đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Lâm
nghiệp tôi tiến hành thực hiện đề tài: " Đánh giá khả năng sinh trưởng một
số loài cây bản địa dưới tán rừng tại tỉnh Bắc Ninh”. Sau thời gian thực
hiện với những cố gắng và nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo và các bạn đồng nghiệp đến nay luận văn đã hoàn thành.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn cán bộ công, viên chức
chi Cục kiểm lâm Bắc Ninh, lãnh đạo Ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh Bắc
Ninh cùng các thầy cô giáo trong Khoa Lâm học và đặc biệt là thầy giáo Lê
Xuân Trường đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ để tôi hoàn thành bài luận văn tốt
nghiệp này.
Mặc dù có nhiều cố gắng song do năng lực bản thân còn hạn chế, thời
gian có hạn và kinh nghiệm đi thực tế chưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp này
không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong nhận được sự

2.1.4 Đối tượng nghiên cứu. ..................................................................... 20
2.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 21
2.2.1. Điều kiện lập địa khu vực nghiên cứu ............................................ 21
+ Đặc điểm của rừng Thông mã vĩ xen Keo tai tượng ............................. 21
+ Đặc điểm cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng Thông mã vĩ xen Keo tai
tượng ......................................................................................................... 21
2.2.2. Đánh giá khả năng sinh trưởng của các loài cây bản địa dưới tán
rừng Thông mã vĩ xen Keo tai tượng........................................................ 21


iv

2.2.3. Đề xuất được các biện pháp kỹ thuật để chuyển hóa rừng Thông mã
vĩ xen Keo tai tượng thành rừng hỗn loài cây bản địa lá rộng. ................ 21
2.3. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 22
2.3. 1. Phương pháp điều tra thu thập thông tin........................................ 22
2.3.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoài thực địa .................... 22
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................. 24
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC PHẠM VI NGHIÊN CỨU .................... 26
3.1 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu ........................................ 26
3.1.1 Vị trí địa lý ....................................................................................... 26
3.1.2. Địa hình địa thế ............................................................................... 26
3.1.3 Khí hậu thủy văn .............................................................................. 27
3.1.4. Đặc điểm kinh tế - xã hội ................................................................ 28
3.1.5 . Đất đai, kết cấu hạ tầng.................................................................. 31
3.1.6. Cơ cấu đầu tư .................................................................................. 32
3.1.7. Văn hóa xã hội ................................................................................ 33
32.1.8. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên .......................................... 34
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................ 37
4.1 Điều kiện lập địa khu vực nghiên cứu ................................................... 37



vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu

STT

Giải thích

1

OTC

Ô tiêu chuẩn

2

ODB

Ô dạng bản

3

Hvn

Chiều cao vút ngọn của cây

4


X

Xấu

10

TB

Trung bình


vii

DANH MỤC BẢNG

TT

Nội dung

Trang

3.1

Hiện trạng diện tích rừng và đất lâm nghiệp

35

4.1


chỉ tiêu sinh trưởng của Lát hoa dưới tán rừng Thông xen Keo

45

4.7

Chỉ tiêu sinh trưởng của Muồng xiêm dưới tán rừng Thông xen Keo

46

4.8

Chỉ tiêu sinh trưởng của Long não dưới tán rừng Thông xen keo

47

4.9

Chỉ tiêu sinh trưởng của trắm trắng dưới tán rừng Thông xen Keo

48

4.10

4.11

4.12

4.13


Biểu đồ lượng mưa và nhiệt độ trung bình theo tháng

41

4.2

Tỷ lệ sống trung bình của các loài cây bản địa tại núi Phật Tích

49

4.3

D00 trung bình của các loài cây bản địa tại núi Phật Tích

49

4.4

Hvn trung bình của các loài cây bản địa tại núi Phật Tích

50

4.5

Tỷ lệ sống trung bình của các loài cây bản địa tại núi Bảo Tháp

51

4.6



57

4.13 Chiều cao vút ngọn trung bình của các loài cây bản địa

57

4.9


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, rừng đóng một vai trò trong phát
triển kinh tế mà còn đóng một vai trò quan trọng trong việc cân bằng sinh thái
và bảo vệ môi trường đặc biệt là giảm hiệu ứng nhà kính. Rừng có vai trò
quan trọng như vậy nhưng diện tích rừng trên toàn thế giới dần bị mất đi, sự
mất rừng này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống con người như lũ lụt
hạn hán mất mùa thiên tai làm con người mất khả năng phòng tránh thiên tai
khiến cho thiệt hại về con người và tài sản vô cùng lớn. Trước tình hình đó
Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chương trình thúc đẩy sự phát triển của
ngành lâm nghiệp như dự án 5 triệu ha rừng, chương trình 661 327... độ che
phủ trên cả nước tăng lên đáng kể song độ che phủ có tăng nhưng chủ yếu là
cây mọc nhanh như thông keo bạch đàn khiến chất lượng rừng chưa cao.
Trước tình hình đó tỉnh Bắc Ninh đã và đang thực hiện các chương trình dự
án để nâng cao chất lượng rừng như trồng rừng di tích, rừng nâng cấp mục
đích phát triển cây bản địa dưới tán rừng Thông. Để góp phần đánh giá khách
quan kết quả dự án và đề xuất phương pháp lâm sinh để nâng cao hơn nữa
hiệu quả của dự án trong những năm tới nên tôi thực hiện đề tài “Đánh giá
khả năng sinh trưởng một số loài cây bản địa dưới tán rừng tại tỉnh Bắc

Quercus sp trồng thuần loài. Ngoài ra, khi trồng Quercus sp hỗn loài với các
loài cây khác theo băng hẹp (3 - 4 hàng) hoặc theo hàng cũng thấy Quercus sp
sinh trưởng tốt hơn khi trồng thuần loài [30].


3

Ở Kasma Forest Technology Centre (Nhật Bản)[28] đã thiết lập hàng
loạt các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm nhiều loài cây và ở nhiều cấp
tuổi, trồng ở một số mật độ khác nhau, đặc biệt ở vùng Tsucuba với độ cao
dưới 876m so với mực nước biển đã trồng loài cây Tuyết tùng (Japanese
ceder) để tạo ra các lâm phần bền vững có giá trị, các nhà nghiên cứu ở đây
nhận thấy có ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng rừng hỗn giao
với nhau và ảnh hưởng của môi trường tới từng loài cây trồng. Khi nghiên
cứu về trồng rừng hỗn loài, các tác giả trên đều cho rằng việc bố trí các loài
cây trong mô hình rừng trồng hỗn loài thường có ảnh hưởng khá rõ tới sinh
trưởng của chúng tuỳ theo đặc điểm từng loài và cự ly trồng từng cá thể.
Đặc điểm nổi bật của rừng hỗn loài là có kết cấu nhiều tầng tán. Vì thế
nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã được một số nhà khoa học trên thế
giới quan tâm. Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài,
Bernar Dupuy (1995) đã cho thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn
loài phụ thuộc vào đặc điểm sinh trưởng và tính hợp quần của các loài cây
trong lâm phần[26]. Điều này cho thấy để tạo được các mô hình rừng trồng
hỗn loài có cấu trúc hợp lý, tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng thì
cần phải dựa vào đặc điểm sinh thái cũng như phải quan tâm đến mối quan hệ
qua lại giữa các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp. Đây là
những cơ sở quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô
hình rừng trồng hỗn loài.
Ở Malaysia (1999) đã nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng bằng
nhiều phương thức khác nhau. Tuỳ theo các đối tượng khác nhau là rừng tự

và biện pháp gây trồng một số loài cây bản địa là cần thiết, đặc biệt đối với
loài cây bản địa tại Việt Nam.


5

1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa
Ở Việt Nam, vấn đề trồng rừng hỗn loài đã được các nhà khoa học
quan tâm từ rất sớm, điển hình là công trình nghiên cứu của Maurand (người
Pháp) ở Đồng Nai vào những năm 30 của thế kỷ trước, tác giả đã sử dụng các
loài Sao đen (Hopea odorata), Dầu rái (Dipterocarpus alatus) và Vên vên
(Anisoptera costata) để xây dựng các mô hình trồng rừng hỗn loài, cho đến
nay các mô hình này vẫn còn giá trị tham khảo nhất định. Trong giai đoạn
1930-1980 có rất ít các công trình nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài và
nghiên cứu chọn loài cây trồng cũng chỉ tập trung cho một số loài cây thuộc
họ Dầu. Từ năm 1985 đến nay, việc nghiên cứu trồng rừng hỗn loài bằng các
loài cây bản địa được triển khai nhiều hơn kể cả số lượng loài cây và diện tích
rừng trồng. Trong giai đoạn này nhiều loài cây lá rộng bản địa đã được lựa
chọn để nghiên cứu cho các vùng sinh thái trong cả nước. Các loài cây lá rộng
bản địa được lựa chọn để nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chủ yếu là các loài
có giá trị kinh tế cao. Một số loài cây bản địa được lựa chọn cho vùng Tây
nguyên và Nam bộ như: Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Cẩm lai (Dalbergia
oliveri), Căm xe (Xylia xylocarpa), Tếch (Tectona grandis) ... và được trồng
chủ yếu tại các trạm thực nghiệm Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, Lang Lanh và
Măng Linh tỉnh Lâm Đồng, Ekmat tỉnh Đắc Lắc, Tân Tạo Thành Phố Hồ Chí
Minh. Ở miền Bắc, các loài cây chủ yếu được lựa chọn để trồng rừng hỗn loài
là Lim xanh (Erythurophleum fordii), Lim xẹt (Peltophorum tonkinnensis),
Giổi xanh (Mechelia mediocris), Re gừng (Cinamomum ilcidioides), Mỡ
(Manglietia conifera), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Lát hoa

và cây song mật (calamus ealusetris) có thể làm giàu rừng theo phương thức
trồng xen dưới tán rừng hay làm giàu rừng theo băng.
Một thí nghiệm trồng rừng hỗn loài khác là trồng theo đám ở Trường
đại học Lâm nghiệp (Phạm Xuân Hoàn, 2004)[11], đã sử dụng 165 loài cây
bản địa trồng dưới tán của Thông và Keo, trong đó dưới tán rừng Thông mã vĩ
(Pinus massoniana) là 27 loài, dưới tán rừng Keo lá tràm (Acacia


7

auriculifomis) là 21 loài, số còn lại trồng dưới tán của trạng thái rừng hỗn
giao Thông mã vĩ với Keo lá tràm, Thông mã vĩ với Keo tai tượng, Bạch đàn
... tỉ lệ sống của các loài cây bản địa dưới tán rừng Thông được đánh giá đạt
93,2% và dưới tán rừng Keo đạt 91,2%. Tăng trưởng thường xuyên và tăng
trưởng bình quân của cây bản địa có sự phân hoá khác nhau khá rõ ràng ở các
loài. Đặc biệt, đáng chú ý một số loài thường được đánh giá sinh trưởng chậm
như: Re hương (Cinnammomun inners), Lim xanh (Erythurophleum fordii)...
nhưng ở giai đoạn còn nhỏ có khả năng chịu bóng tốt dưới tán rừng Thông,
Keo lại sinh trưởng tốt và rất có triển vọng.
Mô hình trồng rừng hỗn loài Keo trắng (Paraserianthes falcataria) và
Lõi thọ (Gmelia arboria) ở Lương Sơn – Hoà Bình cũng đã được Hoàng Văn
Thắng và cộng sự (2005) [18] nghiên cứu và kết quả cho thấy sau nương rẫy,
có độ dốc từ 150 đến 200, trồng hỗn giao theo băng, cả Keo trắng và Lõi thọ
đều sinh trưởng tốt, chưa thấy xuất hiện sâu bệnh hại và Lõi thọ hiện nay đã
bắt đầu ra hoa và có thể chuyển hoá thành rừng giống.
Xác định loài cây bản địa cho từng vùng sinh thái cũng là nội dung
quan trọng trong xây dựng rừng hỗn loài. Ở Việt Nam nghiên cứu các loài cây
bản địa cho mỗi vùng sinh thái cũng đã được một số tác giả quan tâm, một số
công trình nghiên cứu điển hình có thể kể đến như sau:
Phùng Ngọc Lan (1994)[12] nghiên cứu đặc tính của loài lim xanh

nhiều tác giả quan tâm. Thực tế cho thấy các mô hình rừng trồng hỗn loài ở
nước ta đến nay chủ yếu là áp dụng theo phương thức trồng rừng hỗn loài
giữa cây cao với cây cao. Điển hình là thí nghiệm trồng rừng hỗn loài theo
hàng giữa Mỡ (Manglietia conifera) với các loài cây Lim xanh
(Erythurophleum fordii), Xà cừ (Khaya senegalensis), Tếch (Tectona
grandis)[22]. Trong một công trình nghiên cứu khác trồng rừng gỗ lạng ở Tây
Nguyên, Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (1990) đã sử dụng cây Đậu tràm
(Indigofera teysmanii) như là một cây phù trợ cho Tếch (Tectona grandis),


9

kết quả cho thấy Tếch trồng xen với cây Đậu tràm giai đoạn đầu sinh trưởng
khá tốt, hình thân đẹp và thẳng, khả năng phân cành ít. Hơn nữa, cỏ dại dưới
tán rừng trồng cũng hạn chế phát triển hơn nơi Tếch trồng thuần loài [14];
Nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa cây lá kim (Thông đuôi ngựa) và cây lá
rộng (Keo lá tràm và Bạch đàn trắng) ở Núi Luốt - Xuân Mai của Phùng Ngọc
Lan (1986) [13]; Nghiên cứu thiết lập rừng trồng hỗn loài giữa các loài cây ưa
sáng Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldu) và Keo lá tràm (Acaccia
auriculiformis) của Nguyễn Hữu Vĩnh và các cộng tác viên (1991-1993) [20].
Hầu hết các công trình nghiên cứu này đều áp dụng phương pháp trồng hỗn
loài theo hàng hoặc theo băng. Các kết quả nghiên cứu của các công trình này
cho thấy dù được xây dựng theo phương thức và phương pháp nào thì rừng
trồng hỗn loài đều tạo điều kiện cho các loài cây bản địa sinh trưởng tốt hơn
và rừng trồng có tính bền vững cao hơn cả về kinh tế và môi trường so với
rừng trồng thuần loài.
Khi nghiên cứu các phương thức phục hồi rừng thứ sinh nghèo kiệt,
Nguyễn Bá Chất (1981-1985)[6] đã cho thấy sinh trưởng của Lát hoa
(Chukrasia tabularis) trồng hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa trồng thuần loài.
Hơn nữa, các loài cây khác trong rừng thứ sinh cũng có khả năng tái sinh

các giống cây trên phạm vi toàn cầu.
(ii)- Nghịch lý thứ 2: Lâm nghiệp thế giới trồng cây nhập nội điển hình
là loài Bạch đàn ( Eucalyptus) là cho thực vật họ Sim với trên 500 loài chỉ
phân bố suy nhất ở Oxtraylia. Theo ước tính của tổ chức nông lương thì trên
thê giới tính đến năm 1995 đã có gần 100 nước gây trồng Bạch đàn.
(iii)- Nghịch lý thứ 3: Việt Nam trồng thành công nhiều cây nhâp nội.
Nếu chỉ kể đến các loài cây lấy gỗ và đặc sản thì bao gồm: Điều, Cao su, Cà
phê, Phi lao, Thông đuôi ngựa, Bạch đàn... Nhiều loài cây trong số đó đã trở
thành quen thuộc không thể thiếu trong đời sống của người dân. Đối với vùng
ven biển thì Phi lao trở thành cây khó có thể thay thế.


11

(iv)- Nghịch lý thứ 4: Khó gây trồng cây bản địa. Điều đáng quan tâm
là vốn cây bản địa hiện đang suy giảm nghiêm trọng về cả số lượng và chất
lượng do các hoạt động phá rừng. Thứ nhất là thiếu hiểu biết về đặc điểm của
các loài cây bản địa cụ thể như về khí hậu, đất đai, ánh sáng ở các giai đoạn
khác nhau, mối quan hệ giữa các loài trong các quần thể đa loài, khả năng tái
sinh tự nhiên, khả năng gây trồng...; do đó khó có thể phát triển cây bản địa
trên diện rộng. Thứ 2 là cây bản địa quen sống trong một môi trường sống
hoàn chỉnh, ít biến động nên có nhu cầu cao về đất và các yếu tố khác. Nên
không thể trồng cây bản địa ngay trên đất trống đồi núi trọc do đó muốn gây
trồng thành công cây bản địa thì ta phải tạo được hoàn cảnh tương đối thích
hợp với từng loài cây bản địa. Thứ 3 là các yếu tố xã hội, vùng có nhu cầu lớn
về cây bản địa thường là vùng sâu vùng xa, đời sống con người gặp nhiều khó
khăn, giao thông kém...
Hiện nay nhiều đối tượng rừng trồng thuần loài đều tuổi ở nước ta đã
và đang được nghiên cứu để chuyển hoá thành rừng hỗn loài khác tuổi, có cấu
trúc ổn định và bền vững hơn thông qua việc đưa thêm một số loài cây mục

(Fernandoa brilletii), Máu chó (Knema pierrei), Tai chua (Garcinia cowa),
Re hương (Cinnamomun iners), Long não (Cinnamomun camphora)... (dẫn
theo Lê Minh Cường 2007)[7].
Cũng trên nền tảng nghiên cứu về rừng Thông mã vĩ và Keo lá tràm tại
Núi Luốt, Xuân Mai, Đỗ Thị Quế Lâm (2003) [12] đã nhận định các loài Lim
xanh (Erythrophleum pordii), Đinh thối (Fernandoa brilletii), Re hương
(Cinnamomun iners), sinh trưởng tương đối tốt dưới tán rừng Thông mã vĩ.
Tuy nhiên, dưới các độ tàn che khác nhau, khả năng sinh truởng của các loài
cây bản địa cũng rất khác nhau.
Qua những nghiên cứu trên cho thấy việc trồng rừng hỗn loài giữa
Thông và cây bản địa, đặc biệt là trồng các loài cây bản địa dưới tán rừng
Thông mã vĩ đó và đang được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm.


13

Nhiều loài cây gỗ có giá trị đó được lựa chọn để trồng rừng như: Đinh thối,
Lim xanh, Re hương ...
Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đề cập đến biện pháp kỹ thuật gây
trồng và tác động cụ thể vào tầng cây cao như thế nào, các biện pháp kỹ thuật
gây trồng cây bản địa dưới tán như thế nào. Hơn nữa, chưa thấy có nghiên
cứu nào về trồng cây bản địa dưới tán rừng Thông mã vĩ xen Keo tai tượng ở
tỉnh Bắc Ninh
Chính vì vậy, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật gây trồng cây bản
địa dưới tán rừng, đặc biệt là rừng Thông mã vĩ xen Keo tai tượng để làm cơ
sở chuyển hóa rừng Thông mã vĩ xen Keo tai tượng thành rừng hỗn loài với
các loài cây bản địa nhiều tầng tán nhằm phát triển bền vững và nhân rộng mô
hình là cần thiết.
1.2.2. Một số thông tin về các loài cây nghiên cứu
1.2.2.1. Cây Trám trắng(Canarium album)

hết các loài này có quả ăn được nhưng 2 loài trám trắng và trám đen là thường
được sử dụng nhiều và quả có vị ngon hơn cả.
Ở Việt Nam Trám trắng phân bố ở hầu hết các tỉnh phía Bắc, Tây
Nguyên và Đông Nam Bộ. Đã gặp ở Sơn La, Hà Giang, Lạng Sơn, Tuyên
Quang, Bắc Kạn, Hà Tây, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh
Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Gia Lai, Kon Tum, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu
Đặc điểm sinh học Cây mọc khá phổ biến trong các rừng mưa nhiệt đới
thường xanh ở độ cao 100-1.000 m trên mặt biển, tập trung nhiều ở độ cao
200-700 m; nơi có lượng mưa 1.500-2.000 mm/năm. Trong các rừng nguyên
sinh hoặc mới bị khai thác nhẹ, chưa bị mở tán lớn, trám trắng thường mọc
đơn độc cùng với sấu, lim. sến Trong các rừng thứ sinh, bị khai thác mạnh
hoặc mở tán rộng, trám mọc thành từng đám lớn cùng sau sau, chẹo, dẻ gai
Trám trắng có thể sống trên nhiều loại đất, nhưng tốt nhất là đất feralít đỏ
vàng hay vàng đỏ, có tầng đất dày trên 50 cm, nhiều mùn, phát triển trên các
loại đá phiến thạch sét, phiến thạch mica; thuộc loại đất hơi chua độ pH từ 4-5


15

và còn mang tính đất rừng. Thường gặp trám trắng mọc ven bìa rừng, đường
đi, quanh làng bản, ven sông suối.
Trám trắng là cây ưa sáng, mọc nhanh. Trong rừng tự nhiên thường
vươn lên tầng trên; nhưng khi còn non, trong 2 năm đầu cần có tàn che nhẹ,
độ che sáng thích hợp là 0,2-0,4. Cây trồng ở VQG Cúc Phương từ năm 1986
đến 2002 cóchiều cao trung bình 7-8m, đường kính 12-15 cm; cây phát triển
không đều, có cây đã raquả. Nếu trồng nơi đất tốt, cây 20 tuổi có chiều cao
trung bình 19-22 m, chiềucao dưới cành 11-13,5 m, đường kính trung bình 24
cm. Trong tự nhiên, cây tái sinh tốt cả bằng hạt và chồi. Những năm gần đây,
nhân dân nhiều tỉnh vùng Đông Bắc đã trồng rất nhiều trám trắng trên các
vườn rừng hay đất rừng được giao. Một số nơi như Sơn Động (Bắc Giang),

kiện được chiếu sáng tự nhiên 100%, ánh sáng hoàn toàn (không che) hoặc
che tối 100%, cây lim xanh non sinh trưởng rất kém. Giai đoạn càng lớn (từ 5
tuổi trở lên) cây sinh trưởng bình thường ở điều kiện ánh sáng tự nhiên. Khi
trưởng thành, lim xanh luôn vươn lên tầng cao nhất của rừng. Cây lim xanh là
loài cây cận đặc hữu của Việt Nam vì ngoài khu phân bố tập trung nhất ở Việt
Nam, còn phát hiện cây lim xanh mọc rải rác ở miền Nam Trung Quốc. Ở
Việt Nam, theo các tài liệu trước đây, lim xanh mọc tập trung ở các tỉnh vùng
Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và biên giới cực nam của loài cây gỗ quí này là tỉnh
Quảng Nam. Nhưng gần đây đã phát hiện lim xanh còn có ở Quảng Ngãi,
Bình Định, và Bình Thuận (huyện Hàm Tân, độ vĩ 10,47 Bắc). Như vậy khu
phân bố của lim xanh từ 10-230 vĩ Bắc và 102-1080 kinh Đông. Các tỉnh có
nhiều lim xanh nhất là: Lạng Sơn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái nguyên, Bắc
Kạn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị, Quảng Nam. Vùng sông Thanh, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng
Nam còn những khu rừng với nhiều cây lim xanh có đường kính trên 1,5m.
Cây phân bố trên nhiều loại đất có nhiều nguồn gốc khác nhau như: sathạch,
phiến thạch sét, gnai, mica sit, poóc phia… có thành phần cơ giới từ cát pha,
sét nhẹ, sét trung bình đến sét nặng. Cây thích hợp nhất với đất sâu, dày, ẩm;
nhưng cũng mọc được ở các loại đất thoái hoá với tầng đất mỏng, độ ẩm


17

không cao, tuy vậy cây sinh trưởng kém. Đất có lim xanh mọc thường khá
chua đến chua trung bình. Lim xanh thường mọc thành quần thụ hỗn loại;
chúng mọc xen với các loài cây thuộc chi Dẻ đá và Dẻ gai (họ Dẻ),và các loài
gội nếp, trâm, săng lẻ, sau sau, trám trắng… Cây tái sinh tốt dưới tán rừng có
độ tàn che 0,3-0,7. Đặc biệt tái sinh tốt dưới tán rừng có các loài cây sau sau,
săng lẻ để tạo thành các khu rừng Lim, như Sau sau ở vùng Lạng Sơn và Lim,
Săng lẻ ở vùng Tây Nghệ An.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status