SKKN lồng ghép kĩ năng sống vào giảng dạy môn tin học - Pdf 43

SKKN Lồng ghép kĩ năng sống vào giảng dạy môn Tin học

Lồng ghép kĩ năng sống vào giảng dạy môn Tin học
Tác giả: Võ Nhật Trường
A. MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ngày càng trở nên bức thiết khi mà xã hội hiện
đại đang tác động tới các em từ quá nhiều phía. Trong những năm trở lại đây trẻ em hư
hỏng, bỏ nhà đi bụi đời, tỷ lệ trẻ em phạm tội, trẻ em dính vào các tệ nạn xã hội ngày càng
nhiều và việc bỏ bê học hành ở học sinh hiện nay cũng xảy ra rất nhiều. Độ tuổi trẻ em hư
dường như đang ngày càng trẻ hóa. Đó là một thực trạng đáng buồn, hiện nay khi mà chúng
ta chứng kiến các em học sinh đánh nhau, bắt bạn quỳ xuống chỉ vì lỗi nhỏ. Không chỉ ở
trường tôi mà các trường khác cũng vậy, cha mẹ, thầy cô có nhắc nhở các em lập tức thể
hiện thái độ căng thẳng, chống đối. Trong số các trường THCS trên địa bàn Huyện có không
ít các em học sinh cúp tiết, tham gia vào các cuộc chơi bạn bè. Học sinh nữ đi học
nhưng lại nhuộm tóc, sơn móng tay, sơn móng chân, ăn mặc sai đồng phục....
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới.
Kỹ năng sống không phải là một vài kỹ năng chúng ta thường nghe mà bao gồm rất
nhiều các kỹ năng cần trang bị cho học sinh. Học kỹ năng sống đã được đưa vào các cấp học
khác nhau, theo từng độ tuổi, từng cấp học. Nhưng cả người học và người dạy vẫn còn chưa
định hình được làm sao cho hiệu quả. Giáo viên cũng không thể tăng số tiết học để giảng bài
về kỹ năng sống, mà chủ yếu lồng ghép vào các bài học của một số môn. Thiếu kỹ năng
sống các em dễ ứng xử thiếu văn hóa. Thiếu kỹ năng làm chủ bản thân, cảm xúc, kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng bảo vệ bản thân khỏi những tác hại tiêu cực, kỹ năng ứng xử…Thiếu kỹ
năng sống học sinh khó có thể hình thành thói quen, nhân cách và lối sống tốt trong tương
lai.
Trẻ em được trang bị kỹ năng sống càng sớm thì càng vững vàng và dễ hoàn thiện bản
thân. Những trẻ em từ nhỏ không được trang bị các bài học thiết thực từ bé, hoặc thường
xuyên nghe cha mẹ cãi vã nhau, hoặc cha mẹ không có phương pháp giáo dục tối ưu thì
thường sai lệch trong suy nghĩ và lối sống. Đặc biệt trong môi trường xã hội hiện nay, có rất

những thách thức mà con người thường phải đối đầu. Trong thực tế đã có nhiều minh
chứng do thiếu năng lực thích ứng về kỹ năng sống mà con người đã có những
hành động tiêu cực hủy hoại cuộc đời, cuộc sống của chính bản thân và người
khác. Do đó, giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh THCS trở thành một nhiệm vụ
cấp thiết giúp các em thành công, hạnh phúc, đảm bảo chất lượng của cuộc sống.
Giáo dục “Kỹ năng sống” là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại . Giáo
dục cho trẻ những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp trẻ có thể chuyển kiến
thức , thái độ , cảm nhận thành những khả năng thực thụ , giúp trẻ biết xử lý hành vi của
mình trong các tình huống khác nhau trong cuộc sống .
Một cá nhân nếu có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống nhưng lại chưa có kỹ năng cuộc sống (
Bao gồm rất nhiều kỹ năng ) và biết sử dụng linh hoạt kỹ năng này thì không đảm bảo cá
nhân đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý, giao tiếp có hiệu quả và có mối quan hệ tốt với
mọi người. Kỹ năng sống chính là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó những yêu
cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày.
Một nghiên cứu gần đây về sự phát triển trí não của trẻ cho thấy khả năng giao tiếp, khả năng
biết tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của mình, biết cách ứng xử phù hợp và biết tự cách
giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập rất quan trong đối với trẻ. Chính vì vậy, việc
lồng ghép dạy kỹ năng sống cho trẻ phù hợp với từng độ tuổi là vô cùng cần thiết.
Hiện nay có khá nhiều phương pháp và kỹ năng dạy học như phương pháp thảo luận, kỹ
năng đặt câu hỏi, phương pháp chia nhóm …nhưng các em vẫn chán nản không ham
muốn học, đôi khi một khái niệm chỉ có vài ba hàng các em cũng không thuộc.
Do vậy chúng ta phải có cách thiết kế bài giảng hiện nay như thế nào nhằm mục đích áp
dụng phương pháp hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực ham muốn học hỏi, tư duy
sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề, rèn luyện và phát triển năng lực tự học, sáng tạo,
nghiên cứu , nghĩ và làm việc một cách tự chủ…
Đồng thời để thích ứng với sự phát triển tư duy của học sinh trong xã hội mới và tiếp cận
với các công nghệ tiên tiến trong xã hội và trên thế giới. Bên cạnh đó, trong các kỹ
năng dạy học mới, vai trò của người giáo viên có sự thay đổi lớn là:
“Hướng dẫn học sinh biết tự mình tìm ra hướng giải quyết những vấn đề nãy sinh trong quá
trình học tập, biết cách làm việc độc lập, làm việc tập thể. Giáo viên là người định hướng, là

tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là một phương pháp có ít để (lôi ra) một
danh sách các thông tin.
* Cách tiến hành
Có thể tiến hành theo các bước sau:
- Giáo viên (GV) nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả
lớp hoặc trước nhóm.
- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.
- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường
hợp trùng lặp.
- Phân loại các ý kiến.
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng.
4


- Tổng hợp ý kiến học sinh, hỏi xem có thắc mắc hay bổ sung gì không.
* Những yêu cầu sư phạm
- Phương pháp động não có thể dùng để lý giải bất kỳ một vấn đề nào, song đặc biệt phù hợp
với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong cuộc sống thực tế của học sinh.
- Phương pháp này có thể dùng cho cả câu hỏi có phần kết đóng và kết mở.
- Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn bằng một từ hay một câu thật ngắn.
- Tất cả mọi ý kiến đều cần được GV hoan nghênh, chấp nhận mà không nên phê phán, nhận
định đúng, sai ngay.
- Cuối giờ thảo luận GV nên nhấn mạnh kết luận này là kết quả của sự tham gia chung của
tất cả học sinh.
- Động não không phải là một phương pháp hoàn chỉnh mà chỉ là sự khởi đầu. Một khi danh
sách các câu trả lời đã được hoàn thành, cần phải cho cả lớp dùng danh sách này để xác định
xem câu trả lời nào là sai.
- Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo
dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình biết lắng nghe có phê phán ý kiến
của bạn; từ đó, giúp trẻ dễ hoà nhập vào cộng động nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú

5


thấy bối rối xấu hổ khi phải nói trước mặt GV, trong trường hợp này GV có thể quyết định
tránh không xen vào hoạt động của nhóm khi thảo luận.
* Cách tiến hành
Thảo luận nhóm có thể tiến hành theo các bước sau:
- GV nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luận cho mỗi nhóm, quy
định thời gian thảo luận và phân công vị trí ngồi thảo luận cho các nhóm.
- Các nhóm tiến hành thảo luận.
- Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm. Các nhóm khác lắng nghe, chấp
vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến.
- GV tổng kết các ý kiến.
* Yêu cầu sư phạm
- Có nhiều cách chia nhóm, có thể theo số điểm danh, theo màu sắc, theo biểu tượng, theo
giới tính, theo vị trí ngồi,…
- Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ tuỳ theo vấn đề thảo luận. Tuy nhiên, nhóm từ 4 đến 8
học sinh là tốt nhất bởi lẻ.
+ Số học sinh này nhỏ vừa đủ để đảm bảo tất cả các em có thể tham gia tích cực.
+ Số học sinh này lớn vừa đủ để đảm bảo rằng các em không bao giờ thiếu ý tưởng, và
không có gì để nói.
3. Kĩ năng hoạt động nhóm nhỏ
* Mô tả phương pháp
Hoạt động nhóm nhỏ tương tự với những gì đã nói ở trên đối với phương pháp thảo luận
nhóm, trừ một điều là GV mong muốn học sinh thực hiện một số bài tập cụ thể hơn là thảo
luận đề tài.
* Cách tiến hành
Thường thì trước tiên học sinh cần phải thảo luận trước, sau đó mới làm bài tập và trình bày,
giới thiệu sản phẩm hoạt động.
* Yêu cầu sư phạm

- GV kết luận
* Yêu cầu sư phạm
- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục học để cùng chung sống, phù hợp
với lứa tuổi, trình độ học sinh và điều kiện, hoàn cảnh lớp học.
- Tình huống nên để mở, không cho trước “ Kịch bản” , lời thoại.
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai.
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề.
- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát cùng tham gia.
- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai.
5. Kĩ năng nghiên cứu tình huống (nghiên cứu các trường hợp điển hình)
* Mô tả phương pháp
Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống “
thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề. Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được
thực hiện trên video hay một băng cátset mà không phải trên dạng chữ viết. Vì tình huống
này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức
tạp, với các dạng nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện
đơn giản
* Các bước tiến hành
Các bước nghiên cứu tình huống có nghĩa là :
- Đọc ( hoặc xem hoặc nghe) tình huống thực tế.
- Suy nghĩ về nó (có thể viết một vài lĩnh vực đó trước khi thảo luận điều đó với người khác).
- Đưa ra một hay nhiều câu hỏi hướng dẫn liên quan đến tình huống (trong tài liệu viết hay từ
giáo viên.
- Thảo luận tình huống thực tế.
- Thảo luận vấn đề chung hay các vấn đề được minh chứng bằng thực tế.
* Yêu cầu sư phạm
- Tình huống có thể dài hay ngắn, tuỳ từng nội dung vấn đề.
- Tình huống phải được kết thúc bằng một loạt các vấn đề hoặc câu hỏi như: bạn nghĩ điều gì
sẽ xảy ra tiếp theo ? Bạn sẽ làm gì nếu bạn là nhân vật A? Nhân vật B? v.v… vấn đề này có
thể đã được ngăn chặn như thế nào? Lúc này cần phải làm gì để hạn chế tính trầm trọng của

chung sống”, với đặc điểm và trình độ học sinh, với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện
thực tế của lớp học, đồng thời phải không gây nguy hiểm cho học sinh.
- Học sinh phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi.
- Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi.
- Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh
tham gia tổ chức, điều khiến tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau
khi chơi.
- Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm chán cho học
sinh.
- Sau khi chơi, GV cần cho học sinh thảo luận để nhận ra ý nghĩa giáo dục của trò chơi.
7. Kĩ năng dự án
* Mô tả phương pháp
Phương pháp dự án được hiểu như là một phương pháp trong đó người học thực hiện một
nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết với thực tiễn, thực hành. Nhiệm vụ
này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác
định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh gia quá
trình và kết quả thực hiện.
Phương pháp dự án có 3 đặc điểm cơ bản sau:
- Định hướng học sinh: Trong phương pháp dự án, học sinh tham gia tích cực và tự lực vào
quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm và sáng tạo của
người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn giúp đỡ. Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp
với kinh nghiệm và khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ. Sử dụng phương
pháp này cần chú ý đến hứng thú của HS: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập
phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Hứng thú của các em cũng cần được tiếp tục phát
triển trong quá trình thực hiện dự án. Trong khi xây dựng và thực hiện dự án còn cần có sự
hợp tác làm việc theo nhóm và sự phân công công việc giũa các thành viên của nhóm.
Phương pháp dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng hợp tác của HS.
8



* Yêu cầu sư phạm
- Mục tiêu dự án phải rõ ràng và có tính thực tiễn, tính khả thi.
- Cần tạo cơ hội để tăng cường sự tham gia của HS trong dự án, tuy nhiên phải phù hợp với
trình độ và khả năng của các em.
B. NỘI DUNG
I. Mục tiêu
Giáo dục kĩ năng sống thông qua các tiết học, sinh hoạt của học sinh trong giờ học
môn Tin học.
Trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ thống về tin
học bao gồm: Kiến thức về những thông tin và dữ liệu, giới thiệu vế máy tính,
làm quen với một số bài toán và thuật toán, biết giải các bài toán trên máy tính,
biết một số ứng dụng của tin học, biết một số hệ điều hành thông dụng, biết quản
lí tệp và thư mục, biết soạn thảo và trình bày văn bản, biết tìm kiếm và truy cập thông
tin…
9


Hình thành và phát triển các năng lực về tin học: Năng lực sử dụng máy tính thành
thạo và thể hiện ở các kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết. năng lực tiếp nhận
kiến thức tin học, năng
lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học, năng lực sáng tạo và
năng lực thực hành ứng dụng.
Về kiến thức: Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng
như các giá trị tốt đẹp của nhân loại, góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc sâu kiến
thức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, về
định hướng nghề nghiệp; Nhận thức được sự cần thiết của các kĩ năng sống giúp cho bản
thân sống tự tin, lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát
triển thể chất, tinh thần của bản thân và người khác; Nhận thức được những giá trị
cốt lõi làm nền tảng cho các kỹ năng sống.
Về kỹ năng: Có kỹ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt, hiệu

những kĩ năng cơ bản cần thiết cho cuộc sống, giúp các em trở thành những con người hữu
ích trong tương lai đóng góp tích cực vào con đường xây dựng xã hội và đất nước.
10


- Hiện nay các phương pháp dạy học truyền thống không phát huy được tính sáng tạo và bồi
dưỡng các kỉ năng, phẩm chất cần có để xây dựng các thế hệ con người hiện đại trong tương
lai vì thế việc lồng ghép các kĩ năng sống phù hợp với lứa tuổi của các em vào trong giảng
dạy môn học là hết sức cần thiết, việc giáo dục các kĩ năng sống giúp các em dần hoàn thiện
bản thân và có năng lực chủ động trong việc lĩnh ngộ các kiến thức, giúp các em dễ dàng tự
học và trưởng thành đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời, học học nữa học mãi.
- Được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường và các đoàn thể và tổ chức của xã
hội, việc triển khai và áp dụng “Lồng ghép kĩ năng sống vào trong giảng dạy môn tin học” có
thể dễ dàng triển khai áp dụng và nhân rộng trong nhà trường cũng như trong địa bàn khu
vực, không chỉ trong môn tin học mà còn có thể áp dụng trong một số bộ môn khác.
3. Lợi ích kinh tế- xã hội
- Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã luôn khẳng định giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là những chính sách trọng tâm, có vai trò chính yếu của Nhà
nước, được ưu tiên trước nhất, thậm chí đi trước một bước so với các chính sách phát triển
kinh tế - xã hội khác.
- Nghị Quyết TW 3, khoá 7 năm 1993 khẳng định: “Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”.
- Nghị quyết TW 2, khoá VIII: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”.
- NQTW 8, khoá XI: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng,
Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi
trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.
- Con người không chỉ là lực lượng làm chủ tự nhiên một cách thực sự và có ý nghĩa, không
chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất mà còn là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò
quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội. Khi nguồn lực con người được coi là yếu tố
quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia thì phát triển giáo dục và đào tạo là phương tiện

xác định giá trị, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng lắng nghe tích
cực, kĩ năng cảm thông, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn ….. Các bạn có thể tham khảo, tìm
hiểu thêm từ các tài liệu tham khảo:
1. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông _ NXB Giáo dục.
2. Bồi dưỡng giáo viên: Giáo dục tin học – NXB Hà Nội 1993
3. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn tin học THPT. NXB Giáo Dục.

Để góp phần tích cực, quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn tin
học và góp phần vào công cuộc đào tạo, xây dựng con người cho thế hệ tương lai, tôi thực
hiện nghiên cứu đề tài: “Lồng ghép kĩ năng sống vào trong giảng dạy môn tin học.” và bước
đầu đã có những kết quả khả quan nên tôi đề xuất, kiến nghị các cấp lãnh đạo tiếp tục mở
rộng , phổ biến và hướng dẫn thực hiện.

Tam Quan Bắc , ngày 5 tháng 09 năm 2016
Người Thực Hiện

Võ Nhật Trường

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status