i
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Các mô hình thí nghiệm trồng rừng được kế thừa từ đề tài nghiên cứu khoa
học và công nghệ cấp Nhà nước “Nghiên cứu kỹ thuật trồng cây Bương lông điện
biên (Dendrocalamus giganteus) cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến ở
các tỉnh miền núi phía Bắc”, tác giả là cộng tác viên của đề tài và đã được sự đồng
ý, cho phép sử dụng số liệu của chủ nhiệm, cơ quan chủ trì đề tài .
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu
nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá
luận văn của Hội đồng khoa học.
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016
Người cam đoan
Nguyễn Anh Duy
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học lâm nghiệp
K22A-LH (2014 - 2016) tại Trường Đại học Lâm nghiệp. Được sự nhất trí của của
Nhà trường và Phòng Đào tạo Sau đại học, tôi thực hiện luận văn với đề tài:
“Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Bương lông điện biên
(Dendrocalamus giganteus) tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ”.
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS.
BẢN NHẬN XÉT
Của người hướng dẫn luận văn thạc sĩ
Họ và tên người hướng dẫn: TS. Nguyễn Minh Thanh
Họ và tên học viên: Nguyễn Anh Duy
Chuyên ngành: Lâm học
Khóa học: 2014 – 2016
Nội dung nhận xét:
1. Tinh thần, thái độ làm việc, ý thức tổ chức kỷ luật: Học viên Nguyễn Anh Duy có
tinh thần, thái độ làm việc rất nghiêm túc và chăm chỉ, luôn tuân thủ đúng theo các
nội quy, quy chế của cơ quan và địa phương nơi thực tập.
2. Về năng lực và trình độ chuyên môn: Là người có năng lực, trình độ chuyên môn
tốt, nắm chắc các kiến thức đã học để vận dụng trong công tác nghiên cứu khoa học.
3. Về quá trình thực hiện đề tài và kết quả của luận văn: Quá trình thực hiện đề tài
rất nghiêm túc, theo đúng kế hoạch và quy định, thực hiện đầy đủ các nội dung và
phương pháp nghiên cứu của luận văn, số liệu thu thập là trung thực và tin cậy. Kết
quả của luận văn tốt, đảm bảo hàm lượng khoa học.
4. Đồng ý cho học viên bảo vệ luận văn trước Hội đồng:
Có
Không
Phú Thọ, ngày 15 tháng 4 năm 2016
Người nhận xét
TS. Nguyễn Minh Thanh
iv
Không
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016
Người nhận xét
TS. Nguyễn Anh Dũng
v
VIỆN KHLN VIỆT NAM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRUNG TÂM KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
VÙNG TRUNG TÂM BẮC BỘ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
GIẤY XÁC NHẬN CỦA CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI CHO PHÉP HỌC VIÊN
ĐƯỢC SỬ DỤNG SỐ LIỆU TRONG LUẬN VĂN CAO HỌC
Tên tôi là : Nguyễn Anh Dũng
Cơ quan công tác: Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ
Là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Nhà nước
“Nghiên cứu kỹ thuật trồng cây Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus)
cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc”, thực
hiện từ 2012 - 2017.
Tôi hoàn toàn đồng ý và cho phép cho học viên Nguyễn Anh Duy là cộng tác
viên của đề tài được sử dụng các số liệu của đề tài trên vào mục đích nghiên cứu,
viết và báo cáo luận văn cao học tại trường Đại học Lâm nghiệp.
Chương 2 ............................................................................................................................................... 18
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................... 18
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 18
2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................. 18
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 18
2.3. Nội dung nghiên cứu .................................................................................. 18
2.3.1. Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Bương lông điện biên ................. 18
2.3.2. Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng cây Bương lông điện biên .................... 19
2.3.3. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Bương
lông điện biên tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. ...................................... 19
2.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 19
vii
2.4.1. Cách tiếp cận ....................................................................................... 19
2.4.2. Phương pháp kế thừa ........................................................................... 19
2.4.3. Phương pháp nhân giống ..................................................................... 19
2.4.5. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................... 26
Chương 3 ............................................................................................................................................... 27
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI.............................................................................. 27
KHU VỰC NGHIÊN CỨU ............................................................................................................... 27
3.1. Điều kiện tự nhiên ...................................................................................... 27
3.1.1. Vị trí địa lý ......................................................................................... 27
3.1.2. Địa hình, địa thế .................................................................................. 27
3.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng ........................................................................... 27
3.1.4. Khí hậu, thủy văn ................................................................................ 28
3.1.5. Hệ thực vật rừng .................................................................................. 29
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ........................................................................... 29
3.2.1. Dân số, dân tộc và lao động ................................................................. 29
3.2.2. Thực trạng kinh tế và tình hình sản xuất kinh doanh ............................ 30
ix
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
Ký hiệu
Giải thích
BP1
Công thức bón phân 1
CT1
Công thức 1
D05
Đường kính ở lóng số 5
Hvn
Chiều cao vút ngọn
MĐ1
Công thức mật độ 1
SD05%
Hệ số biến động về đường kính
TCN
Tiêu chuẩn ngành
TN
Thí nghiệm
x
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Công thức thí nghiệm chiết cành Bương lông điện biên
22
4.1
Thí nghiệm tạo cành chét Bương lông điện biên sau 5
tháng
36
Ảnh hưởng của loại thuốc kích thích và nồng độ đến khả
năng ra rễ của cành chiết Bương lông điện biên ở vụ thu
44
4.7
Chất lượng rễ trong các công thức thí nghiệm với các loại
thuốc theo các nồng độ khác nhau ở vụ thu
46
4.8
Kết quả giâm hom cành chiết tại vườn ươm (cành chiết vụ
thu) sau 6 tháng
48
4.9
So sánh ảnh hưởng của thời vụ tới các chỉ tiêu của cành
chiết
49
4.10
Kết quả giâm hom thân Bương lông điện biên
Tỷ lệ sống và chất lượng của cây Bương lông điện biên tại
các công thức thí nghiệm bón phân sau 21 tháng
58
4.16
Sinh trưởng của cây Bương lông điện biên tại các công
thức thí nghiệm bón phân sau 21 tháng
59
xi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Số hiệu hình
Tên hình
Trang
2.1
Dụng cụ chiết cành
21
2.2
Tỷ lệ cành đùi gà tạo ra ở các công thức thí nghiệm
36
4.2
Tỷ lệ ra rễ của cành chiết ở các cấp tuổi khác nhau
38
4.3
Tỷ lệ ra rễ của cành chiết ở vụ xuân
40
4.4
Chiết cành với các loại thuốc và nồng độ khác nhau (vụ xuân)
40
4.5
Chất lượng rễ cành chiết Bương lông điện biên (vụ xuân)
43
4.6
Giâm hom thân Bương lông điện biên
51
4.12
Tỷ lệ sống và chất lượng của cây trồng ở các công thức mật độ
56
4.13
4.14
4.15
4.16
Sinh trưởng của cây Bương lông điện biên ở các công thức mật
độ
Tỷ lệ sống và chất lượng của cây trồng ở các công thức bón
phân
Sinh trưởng của cây Bương lông điện biên ở các công thức bón
phân
Cây trồng tại các mô hình thí nghiệm sau 21 tháng tuổi
57
58
60
60
2
chưa chú ý đầu tư thâm canh nên năng suất không cao. Hơn nữa, cho đến nay, chưa
có các nghiên cứu về nhân giống và gây trồng loài cây này, người dân chưa nắm
được kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành hoặc giâm hom, trong khi
nhân giống bằng gốc lại rất hạn chế về số lượng giống do chỉ trồng được cây non
tuổi một và vận chuyển khó khăn do gốc to nên số lượng giống cung cấp cho trồng
rừng rất ít, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình.
Như vậy, việc gây trồng cây Bương lông điện biên còn thiếu hướng dẫn kỹ
thuật nhân giống có khả năng đáp ứng số lượng giống lớn cho gây trồng nhân rộng;
thiếu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng. Do đó, việc kế thừa kết quả nghiên cứu kỹ
thuật nhân giống, gây trồng đã thành công cho một số loài tre, đặc biệt là các loài
thuộc chi Dendrocalamus vào nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng và tổng
kết những kiến thức bản địa có giá trị kết hợp với kỹ thuật hiện đại cần được nghiên
cứu thử nghiệm cho cây Bương lông điện biên.
Xuất phát từ thực tế trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật nhân
giống và gây trồng cây Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus) tại
huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ” là rất cần thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và
thực tiễn.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu chung về tre trúc
Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí quan trọng trong tài
nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới. Ở các nước này, người dân đã biết sử dụng
tre trúc từ lâu đời để tạo ra rất nhiều sản phẩm thiết thực phục vụ cho đời sống hàng
cây vì thường phần này không dùng làm vật liệu nhân giống [29].
Nhân giống bằng phương pháp giâm hom thân
Victor Cusack (1997) đã nghiên cứu sử dụng hom thân kết quả cho thấy: tỷ
lệ thành công khi nhân giống bằng hom thân là khác nhau giữa các loài tre và phụ
thuộc vào kỹ thuật sử dụng, nhân giống tốt nhất nên vào mùa xuân. Ở phương pháp
này, chọn một cây trưởng thành khoảng 2 - 3 năm tuổi với các đoạn cắt ở chiều dài
1,5 - 2 m, cắt tất cả các cành và lá, có thể để một cành dài hơn ở một số đốt. Đoạn
hom thân được giâm trong rãnh đất ở độ sâu 150 mm, các cành dài để nhô ra khỏi
mặt đất, nước nên được tưới hàng ngày trong tuần đầu, sau đó 2 lần một tuần trong
khoảng 3 tuần tiếp theo, và thường xuyên giữ đất ẩm ở những tuần kế tiếp. Sau 4
tuần những cành và lá sẽ được phát triển từ các mắt, nếu gặp điều kiện thuận lợi rễ
sẽ phát triển và tạo thân ngầm và măng mới. Tác giả đưa ra 2 loại hom có thể sử
dụng là hom thân 1 đốt hoặc 2 đốt [47].
A.N. Rao và V. Ramanatha Rao (2000) nghiên cứu về giâm hom sử dụng
hom thân cũng cho rằng đây là một phương pháp có hiệu quả để nhân giống các loài
tre có vách dày và kích thước lớn (8 - 12 cm đường kính) như loài Bambusa
blumeata. Những cây 1 năm tuổi sử dụng phù hợp cho giâm hom, cắt đoạn hom để
1 hoặc 2 đốt. Hom được cắm xuống với một góc 45o và độ sâu 20 cm trong môi
trường ra rễ. Phần đốt được đặt trong các môi trường ra rễ với một mắt hở ở bên
trên. Thực hiện tưới nước 2 lần/ngày và chồi mới có thể mọc sau 2 - 4 tuần sau đó.
Nước, thuốc chống nấm và thuốc trừ sâu thường xuyên được ứng dụng trong 6 - 12
tháng trước khi ra ngôi. Tuy nhiên, tác giả nhận định phương pháp này là không
phổ biến vì có chi phí đắt, thêm vào có sự giới hạn trong sử dụng hom thân 1 năm
tuổi, cần đưa thêm cách nhân giống khác [45].
5
Nghiên cứu của Fu Maoyi và cộng tác viên (2000) về nhân giống bằng hom
thân 1 đốt cho thấy, cắt hom có thể thực hiện từ cây 1 hoặc 2 năm tuổi, cây được cắt
Bamboos” đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh
trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc
rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh. Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm
khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh [36].
Trong công trình "Bamboo Research and Development in Thailand"
Rungnapar Pattanavibool (1998) đã đề cập kỹ thuật gây trồng một số loài tre trúc
lấy măng thuộc chi Dendrocalamus ở Thái Lan như: Mạy Tông (D. asper), Luồng
Thái Lan (D. brandissi), D. strictus. Trong đó Mạy tông là loài cây đã được nhập và
trồng ở Việt Nam từ thời kỳ chế độ cũ [46].
Khi lựa chọn các loài tre trồng công nghiệp, Yang Yuming và cộng sự
(2000) đã sử dụng những tiêu chí về sinh thái và năng suất để lựa chọn như: đất tốt
sẽ cho sản lượng cao, cây to đẻ nhiều măng, giá trị sử dụng lớn. Đất nghèo, xấu, đồi
trọc bạc màu tre vẫn sống được, nhưng sản lượng thấp [49].
Rao và Ramanatha Rao (1999) đã đưa ra một số kết quả về nghiên cứu liên
quan tới một số nhân tố sinh thái: loại đất, hàm lượng mùn trong đất, lượng mưa, số
ngày mưa trong năm của 19 loài tre trúc của Trung Quốc. Đất thích hợp cho gây
trồng tre thường là đất thoát nước tốt, đất cát mùn, đất sét pha cát và có nhiều dinh
dưỡng, đất bằng phẳng hoặc đất đồi có độ dốc thấp. Đất thường có màu vàng, nâu
vàng hoặc màu đỏ vàng, đất tầng sâu. Tại Bangledesh, một số loài tre được trồng
trên đất có độ pH từ 6 - 8, hoặc đất đồi có độ pH từ 4,5 - 5,5 [44].
Đất tốt sẽ cho sản lượng cao, cây to, đẻ nhiều măng, giá tị sử dụng lớn. Đất
nghèo, xấu, đồi trọc bạc màu tre vẫn sống được, nhưng sản lượng thấp. Tre mọc tản
thường ở nơi nhiệt độ bình quân năm khoảng 14 oC, mùa đông trên 4 oC, lượng mưa
từ 1.000 mm/năm trở lên. Thường tre mọc tản yêu cầu đất đai tốt hơn, tầng đất sâu,
ẩm, nhiều mùn, đất phong hoá từ phiến thạch, phiến thạch sét, phiến thạch mica và
sa phiến thạch,… Chính vì vậy, Yang Yuming và các cộng sự (2000) đã sử dụng
7
những đặc điểm sinh thái và năng suất, để làm tiêu chí lựa chọn loài tre trồng rừng
8
bón một cách hợp lý tuỳ thuộc vào loài nhất định. Về thâm canh một số loài tre cho
thấy đối với loài Mạy tông (D.asper) hàng năm bón 300 kg phân NPK
(15:15:15)/ha kết hợp khoảng 40 – 60 kg bụi rơm hoặc cỏ khô để phủ và 0,65 kg
silic dioxyt/ha. Đối với loài Mai xanh (D.latiflorus) bón 40 kg NPK (40:30:10)/ha
và bón 4 lần trong năm kết hợp 0,65 kg silic dioxyt/ha/năm và 20 – 25 kg phân
compost trước mùa sinh trưởng. Tác giả cho rằng do tre là một loài rễ nông cho nên
bón phân một lượng nhỏ hơn nhưng bón nhiều lần trong năm sẽ tốt hơn. Ở
Indonesia sau khai thác măng, nông dân thường pha trộn một lượng lớn phân bón
cùng với phân hữu cơ phủ gốc, bón theo rãnh đào xung quanh bụi khoảng 2 m.
Cách bón này cắt đứt một phần rễ và sẽ kích thích rễ phát triển trực tiếp vào rãnh có
phân bón [47].
Zhou Fangchun (2000) với công trình "Selected works of Bamboo research"
đã nghiên cứu từ nhân giống đến canh tác, khai thác sử dụng tre trúc trong đó có
nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm đến quá trình phát sinh,
phát triển măng của nhiều loài tre trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc
áp dụng biện pháp thâm canh thúc đẩy sinh măng trái vụ [50].
Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001) bằng các thí nghiệm với
loài tre Mai xanh (D. latiflorus ) và Lục trúc ( D. oldhamii) cho thấy phân bón làm
tăng nhiệt độ trong đất giúp không khí và nước lưu thông tốt hơn, kích thích măng
ra sớm hơn, sản lượng măng và thân khí sinh tăng cao hơn [32]. Điều này cho thấy
việc bón phân cho rừng Dendrocalamus là rất cần thiết nhằm kinh doanh rừng bền
vững và có năng suất cao.
Nghiên cứu của Jha và Lalnunmawia (2004) về trồng xen giữa các loài cây
Hốc (D.hamiltonii), Diễn đá (D.longivaginus) và Gừng trong các công thức thí
nghiệm về bón phân đã cho thấy sản lượng của các loài trong các thí nghiệm bón
phân cao hơn rõ rệt so với công thức không bón phân [38].
Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) cho thấy
trong kinh doanh tre, bón phân từ 1 - 3 lần hàng năm để tăng sản lượng cao của
măng. Bón phân lần đầu vào tháng 3 được gọi là phân bón của lứa măng đầu chủ
(1814, NOMEN NUDUM). Nguồn gốc của D.giganteus không biết chính xác,
nhưng có thể là ở miền Nam Miến Điện (Tenasserim) và phía Tây Bắc Thái Lan và
10
thường được trồng ở Sri Lanka, Ấn Độ, Bangladesh và miền nam Trung Quốc. Ở
bán đảo Malaysia D.giganteus đã được trồng rải rác ở Penang Hills, nhưng nó
không được biết đến là có nguồn gốc tự nhiên hoặc tái sinh tự nhiên. D. giganteus
đã được biết đến và được trồng trong khu vườn thực vật ở Indonesia (1910) và
Philippines (1990) [35].
Cây Bương lớn (D.giganteus) được sử dụng cho nhiều mục đích như xây
dựng, đặc biệt được sử dụng cho sản xuất gỗ ép từ tre, đó là vật liệu lý tưởng để
trang trí phòng và các ứng dụng nội thất thiết thực khác như tường, trần nhà, sàn
nhà, cửa, kệ, vv.. Măng có thể ăn được (mềm khi nấu) nhưng măng không được tiêu
thụ rộng rãi. Bương lớn có thể được trồng để bảo vệ đất chống xói mòn. Là một
trong những loài tre lớn nhất, nó có một giá trị cao. Tại Thái Lan, các mo tre lớn
được sử dụng để làm nón.
Cây mọc thành bụi dày, gốc dính liền và là loại Bương lớn. Thân cây thẳng
và tròn, cao tới 30 m, đường kính bình quân từ 18 - 25 cm, thành dày lên tới 2,5 cm,
được phủ một lớp sáp trắng khi cây còn non, mịn màng, từ màu trắng đến xám
xanh; lóng dài 25 – 55 cm; các đốt dưới mang rễ khí sinh. Bương lớn (D. giganteus)
mọc tự nhiên ở vùng cao nguyên nhiệt đới ẩm, trên độ cao 1200 m. Nó cũng có thể
phát triển ở vùng đất thấp nhiệt đới trên đất phù sa giàu. Ở miền Bắc Thailand, cây
được tìm thấy trong các khu rừng tự nhiên với gỗ Tếch. Bương lớn (D.giganteus)
thường được nhân giống bằng thân cây và nhánh cành. Nếu có sẵn, nó có thể được
nhân giống bằng hạt mặc dù khó khăn. Trong một diện tích trồng là 8 ha tại Miến
Điện (Myanmar), mỗi ha được trồng 40 - 50 khóm. Loài Bương lớn không có sâu
hoặc bệnh nghiêm trọng có thể tấn công. Bệnh chổi xể cũng có thể xảy ra với
Bương lớn (D.giganteus) nhưng không gây ra nhiều thiệt hại.
Một khóm Bương lớn trưởng thành có thể khai thác 3 - 4 cây/cụm mỗi năm.
giâm cây chiết trong vườn ươm từ 4 đến 6 tháng mới đem trồng [14] [15].
Khi nghiên cứu “Kỹ thuật trồng thâm canh một số loài tre bản địa lấy măng
ở Tây Bắc”, tác giả Đinh Công Trình (2011) đã cho rằng: chiết cành cho cây Mạy
bói đạt tỷ lệ ra rễ 70% vào mùa Xuân, loại thuốc thích hợp là IBA và nồng độ tốt
nhất là 1,5%. Với cây Mạy lay do góc phân cành quá nhỏ nên nhóm nghiên cứu
không tiến hành các công thức thí nghiệm về chiết cành đối với loài cây này [24].
12
Lê Văn Thành (2013) với công trình “Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng cây
Bương mốc lấy măng ở huyện Ba Vì – Hà Nội” cho thấy chiết cành Bương mốc 1
năm tuổi ra rễ nhanh hơn, tỉ lệ ra rễ và chất lượng rễ tốt hơn so với cành 2 - 3 năm tuổi.
Sử dụng thuốc IBA nồng độ 1.500 ppm khi chiết cành 1 năm tuổi cho thời gian ra rễ
nhanh nhất, tỉ lệ ra rễ và chất lượng rễ tốt nhất [19].
Nhân giống bằng phương pháp giâm hom thân
Nguyễn Thị Phi Anh (1967) vào những năm 1960 cũng đã thử nghiệm nhân
giống bằng đoạn thân có mang cành cho cây Luồng, song tỷ lệ sống không cao [1].
Dương Mộng Hùng (2004) [9] và Nguyễn Văn Phong và cộng sự (2009) [17]
đã đưa ra kết quả nghiên cứu “Nhân giống Trúc sào (Phyllostachys edulis (Carr.)
Houz. De Lehaie) bằng phương pháp giâm hom thân ngầm tại tỉnh Cao Bằng” đã
sử dụng các loại chất điều hòa sinh trưởng là ABT1, NAA, 2,4-D, Atonik, IBA với
các nồng độ khác nhau, kết quả cho thấy các chất điều hòa sinh trưởng có ảnh
hưởng khác nhau đến tỷ lệ hình thành cây măng và cây hom. Tỉ lệ hình thành cây
hom có xử lý Atonik 25 ppm đạt 57,2% là cao nhất, các chất khác cho tỷ lệ từ
35,2% đến 42,9%.
Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2013) đã giới thiệu cách tạo giống hom thân
ngầm cho 2 loài tre trúc là: Mai xanh (D. latiflours Munro, 1868) và Trúc sào
(Ph.heterocycla ). Với loài cây Mai xanh tạo giống hom thân ngầm hay còn gọi là
củ, là phần còn lại của măng sau khi khai thác phần trên làm thực phẩm từ 8 - 12
tháng tuổi, các thân ngầm này đều có ít nhất 1 cành đã ra đủ lá, được tách ra từ gốc
số tương quan rất chặt, hàm lượng K2O dễ tiêu trong đất tương quan tương đối chặt
còn hàm lượng P2O5 dễ tiêu lại tương quan không chặt với sinh trưởng về đường
kính cây Luồng, tác giả cho rằng nên trồng Luồng theo phương thức hỗn giao với
cây họ đậu như Keo là thích hợp nhất để tránh làm suy thoái đất rừng [4].
Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2013) cho rằng, có thể trồng Bương mốc trên
nhiều loại đất khác nhau, độ dày tầng đất từ 50 cm trở lên, nhưng tốt nhất là đất
phát triển trên các loại đá phiến thạch sét, diệp thạch, sa thạch, đá vôi hay đất dốc
tụ và bồi tụ, giàu mùn ở ven sông suối, đất tơi xốp, ẩm và thoát nước tốt [18].
Về mật độ trồng
Kết quả nghiên cứu về mật độ trồng tre trúc trong một số tài liệu chưa có sự
thống nhất như:
14
Anh Tùng (1999) chọn mật độ 400 - 500 khóm/ha đối với Điềm trúc, còn
Lục trúc chọn mật độ 500 - 625 khóm/ha [27].
Ngô Quang Đê (1994) chọn mật độ với loài mọc cụm như Luồng, Diễn nếu
đất bằng, trồng thuần loài có thể với mật độ trồng 500 - 670 cây/ha, nếu trồng hỗn
loài thì chỉ nên 200 - 400 cây/ha (cự ly 5 x 10 m hoặc 4 x 6 m) [6].
Đỗ Văn Bản (2005) đưa ra mật độ trồng Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao là
400 - 625 khóm/ha [2].
Đối với loài Bương mốc, theo nhóm tác giả Nguyễn Huy Sơn và cộng sự
(2013) tùy thuộc vào đặc điểm địa hình cụ thể nơi trồng rừng, có thể áp dụng một
trong những phương thức sau: trồng tập trung thuần loài; trồng phân tán, theo tác
giả nếu trồng tập trung thuần loài có thể trồng theo từng lô không quá 3,0 ha/lô,
mật độ trồng có thể từ 100 - 625 khóm/ha, tuy nhiên, phổ biến là 210 - 330
khóm/ha, tức là cự ly hàng cách hàng từ 6 – 8 m, khóm cách khóm trên hàng từ 5 –
6 m, còn nếu trồng phân tán có thể trồng quanh nhà, trong vườn hộ xen với cây ăn
quả, cây gỗ, bên bờ ao, ven suối... khóm cách khóm 5 m [18].