i
LỜI CẢM ƠN
Sau 3 năm học tập và nghiên cứu theo chương trình đào tạo thạc sỹ,
chuyên ngành kinh tế nông nghiệp tại trường Đại học Lâm Nghiệp. Đến nay
tôi đã hoàn thành chương trình khoá học và hoàn thiện bản luận văn tốt
nghiệp này. Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học cùng các thầy cô giáo trường ĐH
Lâm Nghiệp
UBND huyện Ba Vì, phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp, phòng Tài
nguyên môi trường Huyện Ba Vì và các chủ trang trại nơi tôi trực tiếp điều tra.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Tiến sĩ
Nguyễn Thị Xuân Hương đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Những nội
dung tham khảo, trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn này./.
Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Liên
ii
MỤC LỤC
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 57
3.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Ba Vì, Thành
phố Hà Nội ................................................................................................... 57
3.1.1. Quá trình phát triển kinh tế trang trại trên trên địa bàn Huyện Ba Vì, từ
năm 2009 đến nay................................................................................................. 57
3.2. Thực trạng phát triển trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa ở Ba Vì............. 60
3.2.1. Thực trạng qui mô sản xuất các trang trại .............................................. 60
3.2.2. Qui mô đàn vật nuôi .................................................................................. 61
3.2.3. Tình hình sử dụng lao động của các trang trại....................................... 61
3.2.4.Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của các trang trại....................... 66
3.2.5. Thực trạng nguồn vốn của các mô hình trang trại .............................. 67
3.2.6. Tình hình sử dụng trang thiết bị đầu tư cơ sở vật chất của các trang trại 69
3.2.7. T×nh h×nh ¸p dông c¸c tiÕn bé kü thuËt trong s¶n xuÊt cña c¸c
trang tr¹i ................................................................................................................ 70
3.2.8.Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các trang trại...................................... 73
3.2.9. Kết quả HĐSXKD, hiệu quả xã hội và môi trường ................................ 79
3.3. Đánh giá chung về xu hướng phát triển kinh tế trang trại theo hướng
sản xuất hàng hóa tại Ba Vì ......................................................................... 84
3.4. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển trang trại theo hướng
sản xuất hàng hóa tại Ba Vì ......................................................................... 86
3.4.1.Vấn đề thị trường và giá cả tiêu thụ nông sản phẩm............................. 86
3.4.2.Vấn đề về vốn sản xuất kinh doanh.......................................................... 88
3.4.3.Vấn đề về lao động trong các trang trại ................................................... 89
3.4.4.Vấn đề ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật-công nghệ trong
sản xuất ................................................................................................................. 90
3.4.5.Vấn đề qui hoạch và xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở............................. 90
3.4.6.Vấn đề về công nghệ chế biến sản phẩm và sau thu hoạch .................. 90
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
KHKT
Khoa học kỹ thuật
DS&KHHGĐ
Dân số và kế hoạch hoá gia đình
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
GO
GTSX
Gross output (giá trị sản xuất)
Giá trị sản xuất
IC
Intermediate Cost (Chi phí trung gian)
2.4
Tình hình dân số và lao động của huyện Ba Vì 2009 – 2011
44
2.5
Thực trạng cơ sở hạ tầng của huyện năm 2011
45
2.6
Kết quả sản xuất các ngành kinh tế của huyện Ba Vì
49
2.7
Số lượng mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu
51
3.1
3.2
3.3
Thực trạng đất nông nghiệp của các mô hình trang trại
huyện Ba Vì năm 2011 (tính bình quân cho 1 trang
66
vii
trại)
Nguồn vốn SXKD của các mô hình trang trại năm
3.7
3.8
3.9
3.10
3.11
3.12
3.13
2011 (Tính bình quân 1 trang trại)
Trang bị và sử dụng máy móc trong trang trại trên địa
bàn huyện Ba Vì năm 2011
Các biện pháp phòng bệnh trong trang trại chăn nuôi
trên địa bàn huyện Ba Vì năm 2011
NOT
DEFINED.
ERROR!
3.15
Hiệu quả kinh tế của các mô hình trang trại ở Ba Vì
năm 2011(tính bình quân một trang trại)
BOOKMARK
NOT
DEFINED.
3.16
Khả năng tiếp cận thị trường của các trang trại năm
2011
87
viii
3.17
Giá cả, chất lượng và mức độ cạnh tranh của thị trường
nông nghiệp năm 2011
88
Ba yếu tố cơ bản hình thành và phát triển kinh tế trang trại
22
1.5
Tác động của yếu tố chính sách đến kinh tế trang trại
23
1.6
Quá trình phát triển của kinh tế nông hộ thành kinh tế trang trại
24
1.7
Tác động của nền kinh tế thị trường tới kinh tế trang trại
25
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình chuyển đổi từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá là
xu hướng phát triển tất yếu của kinh tế nông hộ. Theo xu hướng này, một số
nông dân phát triển kinh tế thành công, tích luỹ được vốn, thuê mướn thêm lao
nghị quyết 10 của bộ chính trị (Tháng 4 năm 1998). Huyện Ba Vì là một khu
vực quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Hà Nội, nơi cung cấp lương
thực, thực phẩm, sản phẩm hàng hóa nông nghiệp. Nơi đây hội tụ những
điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế trang trại như: nguồn gốc trang
trại ở khu vực này đã có từ lâu, nhân dân cần cù lao động, phát triển kinh
tế trang trại đã được các cấp chính quyền quan tâm, giao thông thuận lợi cho
sự phát triển giao lưu hàng hóa, … tạo việc làm cho hàng trăm lao động cho
nông dân. Bên cạnh những thuận lợi còn gặp không ít những khó khăn làm
cản trở cho việc phát triển kinh tế trang trại như: chủ trang trại còn thiếu
kiến thức khoa học kỹ thuật, khó khăn về tiêu thụ sản phẩm, thiếu vốn, lao
động trang trại chưa qua đào tạo.
Phát triển kinh tế trang trại là hướng đi đúng đắn, cần được quan tâm
giúp đỡ bằng các chính sách hợp lý, góp phần khai thác một cách có hiệu quả
và bền vững tiềm năng đất đai, lao động ở địa phương. Vì vậy, tôi chọn đề tài
“Một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại theo hướng sản xuất hàng
hóa trên địa bàn Huyện Ba Vì - Thành phố Hà Nội”.
3
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Huyện Ba Vì
hiện nay, tìm kiếm những giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế trang trại theo
hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn Huyện Ba Vì góp phần tăng thu nhập và
tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn Huyện.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hoá được cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại theo
hướng sản xuất hàng hóa.
+ Đánh giá được thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn
tiểu nông sau khi từ bỏ sản xuất tự cung tự cấp khép kín, vươn lên sản xuất
hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh tranh[2], [40].
Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển
trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả
vốn và kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại
sản phẩm hàng hoá từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường.
Về thực chất "trang trại" và "kinh tế trang trại" là những khái niệm không
đồng nhất. Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất
và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang
trại, trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của
các quan hệ kinh tế đó[8, tr16]. Các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá
trình tồn tại và phát triển của trang trại có thể tóm lược thành hai nhóm đó là
quan hệ giữa trang trại với môi trường bên ngoài và quan hệ giữa trang trại
với môi trường bên trong. Quan hệ giữa trang trại với môi trường bên ngoài
bao gồm hai cấp độ, môi trường vĩ vô (cơ chế, chính sách chung của Nhà
nước...) và môi trường vi mô (các đối tác, khách hàng, bạn hàng, đối thủ cạnh
tranh...) các quan hệ nội tại bên trong trang trại rất đa dạng và phức tạp như
các quan hệ về đầu tư, phân bổ nguồn lực cho các ngành, các bộ phận trong
5
trang trại, các quan hệ lợi ích kinh tế liên quan đến việc phân phối kết quả
làm ra, trong đó lợi ích của chủ trang trại với tư cách là người chủ sở hữu tư
liệu sản xuất và lợi ích của người lao động làm thuê là rất quan trọng. Để
tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển thì các quan hệ về lợi ích
phải được giải quyết một cách thoả đáng. Các quan hệ kinh tế phát sinh trong
quá trình tồn tại và phát triển của trang trại được tóm lược ở hình 1.1
Trang trại
Thị trường thông tin
tổ chức trung gian
Các cơ quan quản lý nhà
Tìm kiếm thị trường, tiêu
Nước về kinh tế
thụ sản phẩm
Chính quyền địa phương
Đầu tư
t
Bố trí cơ cấur sản xuất
Lợi ích chủ ạtrang trại
Lợi ích người
i lao động
Vị
trí
đị
a
Trang trại phải đồng thời giải quyết tất cả các quan hệ kinh tế trênlýmột cách thoả đáng, hài hoà
Đị
Hình 1.1. Các quan hệ kinh tế trong quá trình hoạta động sản xuất kinh
Phát triển bền vững
Hiệu quả tối ưu
Hình 1.2. Mối quan hệ ba mặt cơ bản của trang trại
7
Trong các mặt kinh tế - xã hội và môi trường của trang trại thì mặt kinh
tế là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại. Vì vậy trong
nhiều trường hợp khi nói đến kinh tế trang trại, tức là nói tới mặt kinh tế của
trang trại, người ta gọi tắt là trang trại [2], [36], [42].
Theo quan điểm hệ thống có thể thấy trang trại như là một tổ chức kinh
tế mang tính hệ thống rõ rệt (xem hình 1.3). Quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của trang trại có quan hệ chặt chẽ với môi trường bên ngoài và trải
qua ba công đoạn đó là đầu vào (inputs); quá trình (process) và đầu ra
(outputs).
Quá trình SX và chế biến
Yếu tố đầu vào
- Đất đai
- Bố trí cơ cấu sản xuất
- Vốn
- Tính toán đầu tư
- Lao động
- Nghiên cứu kinh tế trang trại phải đồng thời xem xét trên cả ba
công đoạn của nó mới cho ta cái nhìn toàn diện và hệ thống về trang
trại và kinh tế trang trại
Hình 1.3. Tính hệ thống của trang trại
8
Có thể nói rằng trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng
hoá dựa trên cơ sở lao động, đất đai, liệu sản xuất cơ bản của hộ gia đình, hoàn
toàn tự chủ, sản xuất kinh doanh bình đẳng với các tổ chức kinh tế khác, sản phẩm
làm ra chủ yếu là để bán và tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình [7].
1.1.2. Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại
1.1.2.1. Vị trí của kinh tế trang trại
Theo Nghị quyết 03 năm 2000 của Chính phủ:
- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông
nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và
nâng cao hiệu quả sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông lâm, thuỷ sản.
- Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả đất đai,
vốn, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, tạo việc
làm, tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo,
phân bổ lại lao đông, dân cư, xây dựng nông thôn mới.
- Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn
liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch
lao động nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình
công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.
1.1.2.2. Vai trò của kinh tế trang trại nói chung.
Ở các nước phát triển, trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu,
có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống kinh tế nông nghiệp,có vai trò to
trong nông nghiệp và nông thôn. Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại
ở nước ta hiện nay là xu hướng tất yếu của tập trung hoá, chuyên môn hoá và
thị trường hoá sản xuất nông nghiệp, góp phần tích cực trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, phát triển các loại cây trồng, vật
nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng manh mún, phân tán,
tạo nên những vùng chuyên canh hoá, tập trung hoá và thâm canh cao, tạo
điều kiện thúc đẩy công nghiệp phát triển nhất là công nghiệp chế biến,
10
thương mại và dịch vụ, góp phần làm nông thôn phát triển, tạo thu nhập ổn
định trong một bộ phận dân cư làm nông nghiệp.
Nhiều chủ trang trại đã đầu tư hoặc tự giác hợp tác với nhau để đầu tư
mua sắm máy móc thiết bị công nghiệp để chế biến sản phẩm tạo ra những
bán thành phẩm nông sản hàng hoá cung cấp đầu vào cho các cơ sở chế biến
hàng xuất khẩu lớn hơn của Nhà nước.
Một số doanh nghiệp Nhà nước đã hợp tác với các trang trại thực hiện
đầu tư ứng trước vốn cho chủ trang trại và bao tiêu toàn bộ sản phẩm, tạo
thế chủ động về nguồn nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh.
Một số lâm trường quốc doanh đã khoán khoanh nuôi, bảo vệ, chăm
sóc rừng cho các hộ dân, điều đó tạo ra sự phân công và hợp tác, làm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Vai trò huy động, khai thác các nguồn lực trong dân, giải quyết việc
làm cho lao động xã hội, làm giàu cho nông dân, cho đất nước.
Kinh tế trang trại là sự đột phá trong bước chuyển sang sản xuất nông
nghiệp hàng hoá, lấy việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu
cầu xã hội làm phương thức chủ yếu, nên các trang trại phải nỗ lực tìm mọi
biện pháp để phát huy tiềm năng đất đai. Huy động các nguồn lực về vốn, lao
* Lao động chính trong các trang trại chủ yếu là chủ trang trại và
những người trong gia đình và có thuê mướn lao động theo hình thức
công nhật hoặc thời vụ.
* Chủ trang trại là người có ý chí làm giàu, có vốn, có năng lực tổ chức
quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, đồng thời có hiểu
biết nhất định về kinh doanh và nắm bắt nhu cầu thị trường.
* Trang trại có cách tổ chức và quản lý sản xuất tiến bộ dựa trên cơ
sở chuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học công
nghệ, thực hiện hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên
12
tiếp cận thị trường.
* Phương thức khai thác đất đai bằng chính sức lao động trực tiếp và
kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của gia đình.
* Kinh tế trang trại mang bản chất kinh tế hai mặt của kinh tế hộ nông
dân: vừa là đơn vị sản xuất mang tính chất gia đình; vừa mang dáng dấp của
một loại hình doanh nghiệp tư nhân một chủ sở hữu.
* Kinh tế trang trại còn có đặc trưng thể hiện sự phát triển cao hơn về
chất so với kinh tế nông hộ, điểm khác chủ yếu giữa kinh tế nông hộ với kinh
tế trang trại là mục tiêu và quy mô sản xuất hàng hoá; sản xuất hàng hoá là
đặc trưng có tính bản chất của kinh tế trang trại.
1.1.4. Tiêu chí nhận diện trang trại
* Theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày
13/4/2011 của Bộ NN - PTNT quy định về tiêu chí nhận dạng trang trại:
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
(1). Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a. Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu 3,1 hécta.
1.1.5. Điều kiện ra đời và phát triển của kinh tế trang trại
Chúng ta đã biết trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản, Anh là nước tiến
hành công nghiệp hoá sớm nhất. Lúc bấy giờ người ta quan niệm một cách
đơn giản rằng trong nền kinh tế hàng hoá, nông nghiệp cũng phải xây dựng
như công nghiệp theo hướng tập trung quy mô lớn. vì vậy, ruộng đất được
tích tụ tập trung, xí nghiệp nông nghiệp tư bản được xây dựng, nhiều trang
trại gia đình bị phá sản hoặc phân tán và người ta hy vọng với mô hình này, số
lượng nông sản tạo ra nhiều hơn với giá rẻ hơn so với gia đình phân tán.
Nhưng người ta quên mất một đặc điểm cơ bản của nông nghiệp khác với
công nghiệp là nó tác động vào sinh vật, vào cây trồng cũng như vật nuôi,
14
điều đó không phù hợp với sản xuất tập trung quy mô lớn và việc sử dụng lao
động làm thuê tập trung chỉ đêm lại hiệu quả kinh tế thấp.
Chính C.Mác lúc đầu cũng nghĩ rằng trong công trình tư bản chủ nghĩa,
xây dựng các xí nghiệp chứa nước theo hướng quy mô lớn tập trung là tất yếu.
Nhưng về cuối đời C. Mác đã nhận định lại: "ngay ở nước Anh với nghành
công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất nông nghiệp có lợi nhất không phải
là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình không
dùng lao động làm thuê".
Cho đến cuối thế kỳ XIX, trang trại gia đình trở thành mô hình sản xuất
phổ biến nhất trong nền nông nghiệp thế giới. Loại hình kinh doanh này gồm
có người chủ cùng với gia đình hoặc có khi có một vài công nhân làn thuê ít
nhiều có tham gia sinh hoạt với gia đình. Loại hình kinh doanh này có sự
chống đỡ lớn trong các cuộc khủng hoảng.
Trang trại gia đình được hình thành, phát triển từ các hộ tiểu nông.
Một khi đã hội tụ được các điều kiện như vốn, kỹ thuật, thị trường thì
tiểu nông tự phá vỡ cái vỏ ốc tự cấp, tự túc của mình để dần dần đi vào quỹ
Đến sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988 ),nông thôn nước ta đã có
sự phát triển mới. Mỗi hộ nông dân trở thành một đơn vị tự chủ trong sản xuất
kinh doanh. Cái lồng bao cấp được tháo gỡ từng phần, sản xýt hàng hoá dần
dần chiếm lĩnh trận địa tự cấp, tự túc mà từ bao đời nay người nông dân đã
dẫm chân tại chỗ. Tiếp sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị là Luật đất đai
(1993 ), luật này giao quyền sử dụng ổn định lâu dài cho người nông dân với
các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê thừa kế và thế chấp. Cùng
với Nghị quyết 10 và Luật đất đai, các chính sách thuế khoá, tín dụng, khuyến
nông đã là chỗ dựa vững chắc để các hộ tiểu nông chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và hình thành các trang trại không chỉ ở những vùng đã quen sản xuất hàng
hoá, mà ở cả những vùng chỉ quanh quẩn sau hàng rào tự cấp,tự túc, tỷ suất
16
hàng hoá được nâng lên không chỉ ở những nơi có bình quân ruộng đất cao
mà cả nhưng nơi đất chật, người đông.sự tăng trưởng kinh tế nổi bật trong
nông nghiệp nước ta những năm qua không chỉ là hệ quả của sự gia tăng các
yếu tố sản xuất mà phần lớn là do sự thay đổi thể chế trong các hợp tác xã.
1.1.6.Những điều kiện để phát triển kinh tế trang trại
1.1.6.1. Phát triển kinh tế trang trại
- Vấn đề cơ bản của lý thuyết phát triển
Có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển. Theo Raaman Weitz "Phát triển
là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân
phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội" [45].
Ngân hàng thế giới đã đưa ra khái niệm phát triển với ý nghĩa rộng hơn bao
gồm cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của con
người, đó là "sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do
công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan
hệ với nhà nước, với cộng đồng” [46], [49]. Nhìn chung các ý kiến đều nhất trí