Đánh giá hiện trạng quần thể vượn má vàng phía nam (nomascus gabriellae thomas 1909) tại vườn quốc gia chư yang sin, tỉnh đắk lắk - Pdf 43

BỘBỘ
GIÁO
DỤC
VÀVÀ
ĐÀO
TẠO
GIÁO
DỤC
ĐÀO
TẠO

BỘBỘ
NÔNG
NGHIỆP
VÀVÀ
PTNT
NÔNG
NGHIỆP
PTNT

TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
LÂM
NGHIỆP
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
LÂM
NGHIỆP
* * *

Hà Nội, 2010

Hà Nội, 2013


i

LỜI CẢM ƠN
Đề tài được thực hiện tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin thuộc huyện
Krông Bông và huyện Lăk tỉnh Đăk Lăk từ tháng 6/2012 đến tháng 03/2013.
Sau một thời gian nghiên cứu, đến nay đề tài đã hoàn thành. Nhân dịp hoàn
thành luận văn, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học
Lâm nghiệp, Ban chủ nhiệm Khoa Đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo
trong Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường cũng như Ban lãnh đạo và
các cán bộ Kiểm lâm của Vườn quốc gia Chư Yang Sin đã tạo điều kiện và
giúp đỡ tác giả thực hiện đề tài. Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới TS.Vũ Tiến Thịnh, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ
tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả bạn bè,
người thân và đồng nghiệp đã giúp đỡ tác giả cả về vật chất lẫn tinh thần
trong quá trình điều tra thực địa và hoàn thành luận văn. Đó là nguồn cổ vũ
lớn lao đối với tác giả.
Mặc dù đã nỗ lực làm việc, nhưng do thời gian thực hiện đề tài còn
nhiều hạn chế, khối lượng nghiên cứu lớn nên đề tài không tránh khỏi những
thiếu sót nhất định. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến xây dựng
của các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện
hơn.
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính toán là trung thực và
được trích dẫn rõ ràng.
Xin chân thành cảm ơn!

2.1.2. Mục tiêu cụ thể .............................................................................. 15
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................... 15
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................... 15
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 15
2.3. Nội dung nghiên cứu ........................................................................... 15


iii

2.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 16
2.4.1. Công tác chuẩn bị.......................................................................... 16
2.4.2. Thu thập số liệu ngoài thực địa .................................................... 17
Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 27
3.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................... 27
3.1.1. Vị trí địa lý ..................................................................................... 27
3.1.2. Địa hình ......................................................................................... 28
3.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng .................................................................... 28
3.1.4. Khí hậu thủy văn ........................................................................... 29
3.1.5. Thảm thực vật ................................................................................ 30
3.1.6. Hệ thực vật rừng ........................................................................... 39
3.1.7. Khu hệ động vật ............................................................................. 40
3.2. Điều kiện kinh tế xã hội ...................................................................... 41
3.2.1. Dân số, dân tộc .............................................................................. 42
3.2.2. Tình hình kinh tế và đời sống ....................................................... 42
3.2.3. Cơ sở hạ tầng ................................................................................. 43
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 45
4.1. Số đàn Vượn được phát hiện trong đợt điều tra ............................. 45
4.2. Vùng phân bố Vượn má vàng phía nam trong VQG Chư Yang Sin.... 48
4.2.1. Các sinh cảnh chính của VQG Chư Yang Sin ............................ 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


v

DANH MỤC CÁCTỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
BQL
CHXHCN

Nội dung
Ban quản lý
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CITES

Công ước về buôn bán động vật hoang dã quốc tế

ĐTQH

Điều tra quy hoạch

IUCN

Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới

KBTTN
KBTLVSC



QS

Quan sát

R

Rừng

SC

Sinh cảnh

SĐVN

Sách đỏ Việt Nam

STT

Số thứ tự

TT

Thứ tự

TL

Tài liệu

UBND


3.1 Diện tích các kiểu thảm thực vật

30

3.2 Thành phần hệ thực vật tại VQG Chư Yang Sin

40

4.1 Tổng hợp số đàn Vượn được ghi nhận trong đợt điều tra

45

4.2 Tổng hợp diện tích các sinh cảnh trong VQG Chư Yang Sin

52

4.3 Diện tích các sinh cảnh trong khu vực điều tra

53

4.4 Kích thước và mật độ đàn Vượn tại VQG Chư Yang Sin

61

4.5

4.6

So sánh số lượng Vượn má vàng phía nam tại VQG Chư Yang


1.2 Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae)

10

2.1 Các điểm nghe tại VQG Chư Yang Sin

18

2.2

2.3

Ví dụ minh họa một khu vực điều tra với 3 điểm nghe trong đó
có hiện tượng chồng lấn giữa các điểm nghe

19

Ví dụ minh họa nhập số đàn điều tra và tính toán xác suất hót
và hiệu số hiệu chỉnh

23

3.1 Bản đồ vị trí VQG Chư Yang Sin

27

3.2 Bản đồ hiện trạng rừng VQG Chư Yang Sin

39


4.9

Vùng Phân bố của Vượn má vàng phía nam tại VQG Chư
Yang Sin

58

Mức độ ảnh hưởng của con người tới vùng sống của Vượn tại
VQG Chư Yang Sin

72


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) là một trong những
loài thú Linh trưởng đang bị đe dọa nghiêm trọng nhất trên thế giới. Danh
Sách đỏ thế giới (IUCN) năm 2012 [23] đã xếp loài Vượn má vàng phía nam
vào cấp nguy cấp (EN). Theo Văn Ngọc Thịnh et al. (2010) [40] và Rawson
et al. (2010), Vượn Má vàng phía nam phân bố ở Đông Bắc Campuchia, Nam
Lào và phía Nam của Việt Nam (phần phía Nam sông Ba).
Hiện nay, số lượng của loài Vượn má vàng vẫn chưa được xác định
chính xác. Hoàng Minh Đức et al. (2010) [27] ước tính tại Vườn Quốc gia Bù
Gia mập có đến gần 124 đàn (400 cá thể) còn tồn tại, Vườn Quốc gia Cát Tiên
ước tính có khoảng gần 149 đàn (Keynon et al. 2007), một số khu vực khác ở
Việt Nam vẫn chưa có các thông tin cụ thể về số lượng của Loài.
Tuy nhiên, các loài Vượn nói chung hiện nay đang bị săn bắn mạnh mẽ
làm số lượng loài giảm nghiêm trọng. Số lượng Vượn ở Việt Nam đang suy

lập các khu sản xuất, khu dân cư mới (nguồn VFEJ) đã làm số lượng Vượn bị
suy giảm nghiêm trọng và cần có các cuộc điều tra bổ xung thêm thông tin
phục vụ công tác bảo tồn loài nguy cấp này.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Đánh
giá hiện trạng quần thể Vượn Má vàng phía nam (Nomascus gabriellae
Thomas 1909) tại Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk” với mục
tiêu ước lượng kích thước quần thể, xác định các mối đe dọa và đề xuất các
giải pháp bảo tồn loài Vượn má vàng phía nam đang bị suy giảm ở khu vực,
nâng cao giá trị đa dạng sinh học phục vụ cho phát triển du lịch sinh thái và
bảo vệ cảnh quan của VQG.
Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài sẽ tập trung tìm câu trả lời cho câu
hỏi: Có khoảng bao nhiêu cá thể Vượn má vàng phía nam đang sinh sống tại
VQG Chư Yang Sin? Phân bố của loài trong VQG? Hiện trạng công tác bảo
tồn loài Vượn má vàng phía nam tại Chư Yang Sin?


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Phân loại học thú linh trưởng ở Việt Nam
Cũng giống như hệ thống phân loại Linh trưởng trên thế giới, phân loại
linh trưởng ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa
các tác giả (bảng 1.1).
Bảng 1.1: Tổng kết phân loại thú Linh trưởng ở Việt Nam theo thời gian
Năm

Họ

Số loài và phân loài


24

Groves (2004)

Mặc dù có sự khác nhau về quan điểm, các tác giả đều cơ bản thống
nhất rằng Linh trưởng Việt Nam có 3 họ chính: họ Cu li (Loridae), họ khỉ
(Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae); số loài và phân loài dao động từ
24 đến 25.
Trong hệ thống phân loại của Roos (2004) và Groves (2004) [13] đã
xếp một số phân loài trước đây thành các loài riêng biệt và đưa ra hệ thống
phân mới cho Linh trưởng Việt Nam. Đây là hệ thống phân loại phản ánh đầy
đủ phân loại học của thú Linh trưởng Việt Nam và được các nhà khoa học
đang sử dụng rộng rãi (bảng 1.2).


4

Bảng 1.2: Phân loại khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam
Tên loài

TT

Phổ thông

Khoa học

1

Cu li lớn


Macaca mulatta

7

Khỉ đuôi dài

Macaca fascicularis

8

Voọc xám

Trachypithecus crepusculus

9

Voọc bạc

Trachypithecus obscurus

10

Voọc gec manh

Trachypithecus germaini

11

Voọc đen má trắng


Pygathrix nemaeus

17

Chà vá chân đen

Pygathrix nigripes

18

Chà vá chân xám

Pygathrix cinerea

19

Voọc mũi hếch

Rhinopithecus avunculus

20

Vượn đen tuyền

Nomascus concolor

21

Vượn đen Hải Nam

[40], Roos (2011) đã thống nhất xác định loài Nomascus gabriellae bao gồm
hai loài khác nhau là: Vượn má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis) và
Vượn má vàng phía Nam (Nomascus gabriellae). Theo đó, ở nước ta hiện nay
có 6 loài Vượn và đều thuộc về giống Vượn mào (Nomascus).
1.2. Họ vượn - Hylobatidae
Các loài Vượn gộp chung thành họ Vượn (Hylobatidae) được gọi là khỉ
giả nhân nhỏ, phân bố trên toàn bộ các vùng rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam
Á (Thomas geissmann et al, 2000). Chúng đặc trưng bởi lối vận động, cấu
trúc xã hội và thông tin liên lạc. Các loài vượn sống hoàn toàn trên cây và ăn
quả là chủ yếu, sự đu tay tạo ra sự chuyển động đặc thù, tập tính treo thân độc
đáo và tư thế đứng thẳng thường xuyên, thể hiện sự chuyên hóa cao độ đối
với môi trường và chế độ ăn hàng ngày của chúng.
Các nghiên cứu trước đây về phân loại vượn chia thành hai nhóm gồm
Symphalangus và Hylobates. Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm
Symphalangus nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên
ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di
truyền học, các đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã phân họ vượn
thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus
có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống
Hylobates có 2n = 44 (Thomas geissmann et al, 2000) (xem bảng 1.3).


6

Bảng 1.3: Các loài thuộc họ Hylobatidae
Giống

Bunopithecus

Hylobates

Tây Giava

H. muelleri

Tây Borneo

H. muelleri abbotti
H. muelleri funereus

Tây bắc Borneo
Bắc Borneo
Đông Thái Lan,
Campuchia

B. hoolock

H. pileatus
Symphalangus

Nomascus

50

52

Vùng phân bố

S. syndactylus

Bán đảo Malay

 Đặc điểm sinh học, sinh thái
Kích thước cơ thể: những cá thể vượn mào hoang dã có trọng lượng cơ
thể trung bình là 7 - 8 kg, nặng tương đương với trọng lượng của giống
Bunopithecus (7kg), lớn hơn trọng lượng của giống Hylobates (khoảng 5kg)
và nhỏ hơn trọng lượng của giống Symphalangus (khoảng 11kg) (Thomas
geissmann et al, 2000) [15].
Đặc điểm sọ: Trán cao và tròn, các cạnh trên ổ mắt phẳng.
Số lượng bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52
Đặc điểm hình thái: Túm lông trên đầu dựng đứng, ở con đực phát triển
hơn tạo thành một cái mào, những con cái trưởng thành có đám lông đen trên
đầu tương phản với phần lông màu nhạt ở xung quanh. Có sự lưỡng sắc giới
tính thể hiện rõ ở những cá thể trưởng thành: con đực thường có màu lông đen
(có hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng
nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt, thường có mảng lông chẩm
màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối. Những thay đổi về màu
sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể: con non sinh ra có bộ lông
màu đen, gần tương tự như màu của con đực trưởng thành. Đến thời gian
trưởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi), con cái thay đổi màu lông lần
thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trưng của con cái trưởng thành (Grove,
2001) [24].
 Giống Nomascus có bao nhiêu loài?
Cũng giống như theo phân loại học về thú Linh trưởng, các tác giả khác
nhau cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về số lượng loài thuộc giống
Nomascus. Theo Thomas geissmann et al (2000) [15] bao gồm 5 loài:


8

1. Vượn đen (chưa định tên) Nomascus. sp. cf. nasutus
2. Vượn đen tuyền (Nomascus concolor)

5.
6.

Vượn đen tuyền
Vượn đen Hải Nam
Vượn đen má trắng
Vượn siki
Vượn má vàng phía bắc
Vượn má vàng phía nam

Nomascus concolor
Nomascus nasutus
Nomascus leucogenys
Nomascus siki
Nomascus annamensis
Nomascus gabriellae


9

 Vùng phân bố của giống Nomascus
Vượn mào – Nomascus chỉ phân bố ở Đông Dương bao gồm Việt Nam,
Lào, phía Đông Campuchia và Tây - Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam và đảo
Hải Nam), sông Mê Kông là giới hạn phía tây của các vùng phân bố của
chúng và ngăn cách chúng với giống Hylobates (Geissmann, 2007). Những
khu vực phân bố hiện nay đã bị chia cắt mạnh gồm những mảnh rừng ít nhiều
còn nguyên sinh, biệt lập và nhỏ (hình 1.1)

(Nguồn: Nguyễn Thế Cường, 2011)
Hình 1.1: Phân bố của các loài Vượn thuộc giống Nomascus

hót vào buổi sáng.
Vượn kiếm ăn chủ yếu trên cây, cường độ kiếm ăn mạnh vào đầu buổi
sáng và cuối buổi chiều. Thức ăn là trái cây, lá non của nhiều loài cây rừng.
Về sinh sản, thường bắt gặp Vượn mẹ mang con nhỏ từ tháng 3 đến tháng 6.
 Phân bố
Vượn má vàng phía nam phân bố ở Đông Bắc Campuchia, Nam Lào,
và phía Nam Việt Nam. Ở nước ta, Vượn má vàng đã được ghi nhận ở các địa
phương: Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai
và Bình Phước.
 Hiện trạng bảo tồn
Vượn má vàng phía nam tuy được phân bố ở nhiều địa phương nước ta
nhưng do bị săn bắn, diện tích rừng trong vùng Vượn phân bố bị giảm sút,
nạn khai thác gỗ trái phép đang làm số lượng của loài bị suy giảm nghiêm
trọng. Sách đỏ thế giới (IUCN, 2012) và Sách đỏ Việt Nam (2007) đã xếp loài
vào cấp nguy cấp (EN), loài cũng có tên trong phụ lục I của CITES (2008) và
phụ lục IB của Nghị định 32 năm 2006 [23, 1, 10].
1.5. Phương pháp điều tra Vượn
Với loài Vượn, phương pháp điều tra chủ yếu là thông qua tiếng hót tại
các điểm nghe. Tuy nhiên, không phải lúc nào đàn Vượn cũng hót trong thời


12

gian điều tra. Các đàn Vượn không hót trong đợt điều tra dường như không
được phát hiện. Đến nay, các phương pháp sử dụng chưa được hoàn thiện và
thống nhất. Có nhiều tác giả như Nguyễn Xuân Đặng (2000), Nicolas Lormée
(2000), Đặng Ngọc Cần (2000), Ngô Văn Trí (2000), Phạm Nhật (2002) [14],
v.v.v khi tiến hành điều tra xác định kích thước quần thể Vượn thường không
tính đến xác suất hót. Xác suất hót tại các điểm nghe được trong vùng phân bố
là cơ sở để xác định mật độ và kích thước quần thể Vượn. Ngoài ra, kỹ năng

trị. Chính vì vậy, thú Linh trưởng luôn là một đối tượng săn bắn chủ yếu của
con người. Cũng như những loài Linh trưởng khác, do có kích thước, trọng
lượng cơ thể lớn, lại có giá trị về mặt thực phẩm và dược liệu nên Vượn má
vàng phía nam luôn bị đe dọa săn bắn. Con người sử dụng rất nhiều hình thức
khác nhau để săn bắt các loài Linh trưởng như: bẫy cần giật, bẫy lồng sập, bẫy
kẹp, súng kíp đến; các phương tiện hiện đại như súng săn hai nòng bắn đạn
ghép, súng liên thanh quân dụng.
Hàng năm có rất nhiều thú Linh trưởng bị săn bắt, mặc cho tất cả các
loài Linh trưởng ở Việt Nam đều đang ở trong tình trạng nguy cấp và rất nguy
cấp. Có nhiều loài đặc hữu đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Theo
Phạm Nhật (2002), năm 1985 ở địa bàn 3 xã của huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh)
có ít nhất 35 Chà vá và 70 Khỉ cộc bị bắn chết; hai tháng cuối năm 1991 và 3
tháng đầu năm 1992, ít nhất có 16 con Voọc mũi hếch bị bắn chết ở Na Hang.
Trong những năm 1980 - 1991, vùng Phong Nha Kẻ Bàng đã rất phát triển
nghề "khỉ ép". Sau khi Khỉ, Voọc bị bắn, thợ săn mổ bỏ nội quan, sấy và ép
con vật và mang về bán cho lái buôn. Thời kỳ đó hàng năm ít nhất không dưới
10 tấn thú Linh trưởng khô (tương đương với khoảng 1500 con Khỉ, Voọc) bị
khai thác. Từ năm 1991 đến nay hoạt động săn bắt thú Linh trưởng ở vùng
Phong Nha Kẻ Bàng tuy cường độ giảm vì súng quân dụng đã bị Ban Chỉ huy


14

quân sự tỉnh thu hồi (1991) nhưng vẫn còn tiếp tục và hàng năm không dưới 1
tấn Khỉ ép được khai thác (Phạm Nhật, 2002) [14].
1.7. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Vượn má vàng phía nam là loài thú quý hiếm không những chỉ ở Việt
Nam mà còn trên thế giới. Số lượng cá thể của Loài đang bị suy giảm nghiêm
trọng do tình trạng săn bắt và phá hủy sinh cảnh. Theo các thông tin sơ bộ,
hiện nay loài chỉ còn tồn tại ở vùng Đông Bắc Cam pu chia, Lào và phía Nam

- Xác định mật độ, kích thước quần thể và phân bố của Vượn má vàng
phía nam tại VQG Chư Yang Sin.
- Xác định được các mối đe dọa chủ yếu đến loài Vượn má vàng phía
nam và đề xuất các giải pháp bảo tồn loài tại VQG Chư Yang Sin.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Loài Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) và sinh cảnh sống
của chúng.
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tiến hành ước lượng kích thước quần thể, xác định vùng phân
bố và đánh giá các mối đe dọa đến loài Vượn má vàng phía nam tại VQG Chư
Yang Sin, từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn loài.
2.3. Nội dung nghiên cứu
1. Ước lượng mật độ và kích thước quần thể Vượn má vàng phía nam tại
VQG Chư Yang Sin.
2. Xác định vùng phân bố Vượn má vàng phía nam tại VQG Chư Yang Sin.
3. Xác định các mối đe dọa chủ yếu đến loài Vượn má vàng phía nam trong
khu vực nghiên cứu.


16

4. Đề xuất một số giải pháp bảo vệ loài Vượn má vàng phía nam tại
VQG Chư Yang Sin.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Công tác chuẩn bị
- Tổng hợp, thu thập các tài liệu liên quan đến các vấn đề nghiên cứu
bao gồm: Đặc điểm sinh thái và sinh cảnh của giống vượn Nomascus và Vượn
má vàng phía nam, các nghiên cứu về phục hồi sinh cảnh, các nghiên cứu liên
quan tới Vượn má vàng phía nam. Tìm hiểu về VQG Chư Yang Sin tại tỉnh

trong VQG có thể có Vượn má vàng phía nam sinh sống, mùa bắt gặp, số vụ
săn bắn Vượn trái phép trong VQG, các mối đe dọa chủ yếu đến quần thể
Vượn má vàng phía nam, địa hình, địa vật trong khu vực nghiên cứu. Trên cơ
sở đó bố trí lán trại và điểm nghe thích hợp. Đối tượng phỏng vấn bao gồm
cán bộ VQG, nhân viên tuần rừng, người dân địa phương canh tác tại các
thung lũng nằm trong vùng lõi VQG.
2.4.2.2. Phương pháp điều tra Vượn qua tiếng hót tại các điểm nghe
Hai sáu điểm nghe được bố trí tại khu vực nghiên cứu. Các điểm nghe
được phân bố trên các khu vực: Tiểu khu 1351, 1359, 1376, 1381,1382, 1395
thuộc xã Bông Krang, huyện Lắc; Tiểu khu 1187, 1209, 1210 thuộc xã Khuê
Ngọc Điền, huyện Krông Bông; Tiểu khu 1201, 1202 thuộc xã Hòa Phong,
huyện Krông Bông; Tiểu khu 1227, 1233, 1234 thuộc xã Yang mao, huyện
Krông Bông và Tiểu khu 1365 thuộc Ya Rho huyện Krông Bông. Các điểm
nghe phân bố khá đều trên các sinh cảnh ưa thích của Vượn và đại diện cho
các sinh cảnh ưa thích của Vượn trên toàn bộ VQG. Do vậy việc ước lượng số
lượng đàn Vượn trong toàn bộ VQG dựa vào các điểm nghe mẫu được chọn
là hoàn toàn hợp lý.
Các điểm nghe được đánh dấu tọa độ và khoanh vẽ trên bản đồ địa hình
(chi tiết các điểm nghe được thể hiện trong hình 2.1 và phụ lục 01). Các điểm
nghe được bố trí trên đỉnh hoặc dông núi (nếu đỉnh núi quá cao không thể tiếp
cận được vào buổi sáng sớm) để có thể nghe được một diện tích rộng. Tổng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status