Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đề xuất Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN ĐÌNH DUY

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ VƢỢN ĐEN MÁ TRẮNG SIKI
Nomascus siki (Delacour, 1951) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐỀ
XUẤT KHE NƢỚC TRONG, HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN ĐÌNH DUY

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ VƢỢN ĐEN MÁ TRẮNG SIKI
Nomascus siki (Delacour, 1951) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐỀ
XUẤT KHE NƢỚC TRONG, HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60 42 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐẶNG NGỌC CẦN


Xuân Tƣờng đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin đƣợc gửi lời cảm ơn tới Quỹ Môi trƣờng thiên nhiên Nagao và Quỹ
IdeaWild đã hỗ trợ kinh phí và tài trợ trang thiết bị phục vụ nghiên cứu.
Xin cảm ơn UBND tỉnh Quảng Bình, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình,
Ban quản lý Rừng phòng hộ Động Châu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cấp giấy
cho phép tôi đƣợc thực hiện hoạt động nghiên cứu thực địa.
Nhân dịp này tôi xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh: ThS. Lê
Văn Ninh, Lê Quốc Hiệu, Trần Đặng Hiếu, Phạm Hoàng Hà, Lê Công Tình (Trung
tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt), Hà Vũ Cao, Hà Đình Phƣơng và Võ Văn Hùng (Ban
quản lý Rừng phòng hộ Động Châu), đã tham gia và giúp đỡ rất tận tình trong quá
trình thu thập số liệu ngoài thực địa.


Tôi cũng xin đƣợc gửi lời cảm ơn tới các anh: Hồ Văn Kim, Hồ Văn Cử, Hồ
Văn Hạnh, Hồ Văn My là những ngƣời dân xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh
Quảng Bình đã giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập số liệu tại KBTTN đề xuất Khe
Nƣớc Trong.
Cuối cùng, tôi xin đƣợc bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố, mẹ, vợ và gia đình
cùng bạn bè đã ủng hộ, ân cần động viên, dành sự cảm thông đối với công việc
nghiên cứu thực địa và học tập của tôi.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2017
Tác giả

Nguyễn Đình Duy


i

MỤC LỤC

Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ......................................29
3.1. Hiện trạng quần thể Vƣợn đen má trắng siki tại KBTTN đề xuất Khe Nƣớc
Trong .....................................................................................................................29
3.1.1. Kích thƣớc quần thể của Vƣợn đen má trắng siki ..................................29
3.1.2. Đặc điểm cấu trúc đàn của Vƣợn đen má trắng siki tại KBTTN đề xuất
Khe Nƣớc Trong ...............................................................................................33
3.1.3. Phân bố của Vƣợn đen má trắng siki tại KBTTN đề xuất Khe Nƣớc
Trong ................................................................................................................36
3.1.4. So sánh quần thể Vƣợn đen má trắng siki khu vƣ̣c điều tra với các khu
vƣ̣c khác trong vùng Bắc Trung Bộ . ................................................................40
3.2. Các mối đe dọa tới Vƣợn đen má trắng siki ở KBTTN đề xuất Khe Nƣớc
Trong .....................................................................................................................41
3.2.1. Săn bắt động vật hoang dã ......................................................................41
3.2.2. Phá hủy sinh cảnh ...................................................................................42
3.2.3. Đánh giá mức độ đe dọa .........................................................................43
3.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn .....44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................46
Kết luận .................................................................................................................46
Kiến nghị ...............................................................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................48
CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN .................................59
PHỤ LỤC ..................................................................................................................60


iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CHDCND


UBND

Ủy ban Nhân dân

SĐVN

Sách Đỏ Việt Nam

WWF

Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới


iv

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1. Bảng tổng hợp số liệu quan sát theo tuyến ..................................................22
Bảng 2. Số ngày điều tra tại các điểm nghe .............................................................. 23
Bảng 3. Số lƣợng đàn Vƣợn đen má trắng siki xác định đƣợc tại các điểm nghe ....29
Bảng 4. Bảng tính hệ số hiệu chỉnh có trọng số ........................................................32
Bảng 5. Số lƣợng đàn Vƣợn đen má trắng siki đã quan sát ở các tiểu khu ..............34
Bảng 6. Số lƣợng các đợt Vƣợn hót ở các thời điểm khác nhau trong ngày ............35
Bảng 7. Số lƣợng đàn Vƣợn đen má trắng siki ở các tiểu khu trong KBTTN đề xuất
Khe Nƣớc Trong .......................................................................................................39
Bảng 8. So sánh số lƣợng Vƣợn đen má trắng siki ở khu vực điều tra với một số khu
vực thuộc vùng phân bố ............................................................................................ 40
Bảng 9. Kết quả đánh giá và cho điểm các mối đe dọa đến sinh cảnh và quần thể
Vƣợn đen má trắng siki ............................................................................................. 43
Bảng 10. Các tuyến giám sát đề xuất ........................................................................45

hạ tầng đã làm cho môi trƣờng sống của

các loài động vật hoang dã nói chung và

Vƣợn đen má trắng siki nói riêng bị thu hẹp . Mặt khác, tình trạng săn bắt động vật
hoang dã vẫn diễn ra dẫn đến quần thể loài ngày càng suy giảm [51]. Hiện nay loài
này đƣợc phân hạng ở mƣ́c Nguy cấp (EN) trong Danh lục Đỏ IUCN (2008) [49],
Phụ lục I của CITES (1975) [27], ở mƣ́c Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam
(2007) [1] và thuộc nhóm IB trong Nghị Định 32/2006/NĐ-CP của Chí nh phủ Việt
Nam [6]. Các nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy số lƣợng loài này rất
hạn chế [56, 65, 69]. Loài này hiện nay có thể đƣợc xếp hạng “Cực kỳ nguy cấp” và
đòi hỏi phải có sự đánh giá lại về tình trạng của nó trong Danh lục đỏ IUCN [49].
Ở phạm vi Quốc gia , giới hạn phân bố về phía Bắc của Vƣợn đen má trắng
siki chƣa đƣợc biết rõ , có thể nằm ở gần KBTTN đề xuất Khe Nét , tỉnh Quảng Bình
và KBTTN Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh; về phía Nam đến sông Thạch Hãn , tỉnh Quảng Trị
[69].
KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong (hiện nay là Rừng Phòng hộ Động Châu)
nằm ở huyện Lệ Thủy , phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình. Nằm trong khu vực đƣợc
đánh giá là trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam và Thế giới [7]. KBTTN đề
xuất Khe Nƣớc Trong giáp với biên giới Việt Nam - Lào và KBTTN Bắc Hƣớng
Hóa, tỉnh Quảng Trị. Khu vực này có diện tí ch 19.188 ha, bao gồm chủ yếu là rừng


2

nhiệt đới thƣờng xanh nằm trong vùng sinh thái Đất thấp miền Trung rộng lớn
(khoảng 500.000 ha) kéo dài dọc biên giới Việt Nam - Lào từ huyện Minh Hóa nối
liền với các huyện Bố Trạch , Quảng Ninh và Lệ Thủy tỉ nh Quảng Bình sang huyện
Hƣớng Hóa tỉ nh Quảng Trị. Đây là một trong những diện tích rừng tự nhiên liên tục
nhất ở Việt Nam. Đặc biệt hơn, KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong còn bảo tồn đƣợc

Nomascus siki có vùng phân bố nằm giữa N. gabriellae và N. leucogenys,
trƣớc đây N. siki đƣợc xác định là phân loài của N. gabriellae bởi Groves [44, 47],
vì xƣơng dƣơng vật của N. siki dƣờng nhƣ giống với N. gabriellae [42]. Tuy nhiên,
điều này không thích hợp để xác định ái lực của N. siki, vì nó không đầy đủ và
không phải của N. siki mà là của N. leucogenys [36].
Gần đây, các quan sát thấy rằng tiếng hót của N. siki tƣơng tự nhƣ của N.
leucogenys nhiều hơn bất kỳ loài Vƣợn nào khác bao gồm cả N. gabriellae [37].
Tƣơng tự, trình tự DNA ty thể cho thấy rằng N. siki có liên quan chặt chẽ với N.
leucogenys hơn so với N. gabriellae. Là bằng chứng bổ sung cho một mối quan hệ
chặt chẽ giữa N. leucogenys và N. siki, cần lƣu ý rằng những con cái cả hai dạng này
đều giống nhau trong màu lông mà không có đặc điểm phân biệt nào đƣợc biết,
trong khi cả hai đều khác biệt với con cái của N. gabriellae [36]. Kết quả là, N. siki
đã đƣợc công nhận là một phân loài của N. leucogenys [36].
Groves & Zhang đã đề nghị tách N. siki thành loài độc lập mặc dù cả hai tác
giả đã nhận thức đƣợc sự gần gũi giữa các loài N. leucogenys và N. siki [69].
Sau này N. siki đƣợc tách ra thành loài độc lập [37, 79, 81, 82].


4

1.1.2. Phân loại học
Vị trí phân loại của loài Vƣợn đen má trắng siki
Bộ Linh trƣởng:

- PRIMATES Linnaeus, 1758

Họ Vƣợn:

- Hylobatidae Gray, 1871


Tƣơng tự nhƣ các loài Vƣợn mào khác ở Việt Nam, Vƣợn đen má trắng siki
kiếm ăn trên cây cao, thức ăn là quả, hạt, lá, chồi cây, côn trùng, trứng chim. Tuổi
thành thục vào khoảng 8 - 9 tuổi, thời gian mang thai khoảng 200 - 214 ngày, mỗi
năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ một con. Sống thành từng đàn khoảng 3 cá thể nhƣ một
gia đình. Hoạt động kiếm ăn ban ngày vào buổi sáng và chiều, di chuyển nhẹ nhàng
nhanh nhẹn trên cây, ít khi xuống mặt đất (IUCN, 2008) [49].
1.1.5. Tình trạng và phân bố toàn cầu
Vƣợn đen má trắng siki là loài đặc hữu của Việt Nam và Lào, chỉ xuất hiện
tại một khu vực rất nhỏ ở miền Trung Việt Nam và miền Nam Lào, khu phân bố của
chúng bị giới hạn bởi sông Mê Kông về phía Tây và khu vực nông nghiệp ven biển
Việt Nam về phía Đông [39]. Tình trạng phân loại của Vƣợn đen má trắng siki đã
đƣợc đánh giá khác rất khác nhau bởi các tác giả khác nhau, do đó cần thận trọng
khi đánh giá các ghi nhận về loài này. Nomascus siki đầu tiên đƣợc coi nhƣ là loài
phụ của N. concolor [29, 42] sau đó đƣợc phân loại lại là phân loài của N.
gabriellae [47], sau đó đƣợc cho là phân loài của N. leucogenys [34, 35, 36, 39, 71,
72] và sau này đƣợc nâng lên thành loài [37, 45, 60, 79, 80, 82, 86]. Dựa vào các dữ
liệu về di truyền và tiếng hót ghi nhận đƣợc trên toàn khu phân bố của giống
Nomascus, khu phân bố của N. siki đã đƣợc sửa đổi và có sự cắt giảm đáng kể khu
phân bố của loài này [82]. Loài này hiện nay có thể đƣợc xếp hạng “Cực kỳ nguy
cấp” và đòi hỏi phải có sự đánh giá lại về tình trạng của nó trong danh lục đỏ IUCN
[49]. Các quần thể N. siki tại Lào không đƣợc ƣớc tính vào quần thể toàn cầu mặc


6

dù nó đƣợc cho rằng các quần thể này còn lớn hơn so với quần thể ở Việt Nam [31,
39]. Tất cả các quần thể đều bị đe dọa bởi hiện tƣợng săn bắn và sự suy thoái của
môi trƣờng sống.
Tại Lào, N. siki đƣợc cho là xuất hiện từ Khu Bảo tồn quốc gia Nam Kading,
phía Nam sông Kading về phía Bắc đến ít nhất là Khu Bảo tồn quốc gia Phou Xang

các quần thể Vƣợn ở các khu vực này vẫn chƣa đƣợc xác định. Từ năm 2000, các
khảo sát về N. siki đã đƣợc tiến hành ở tất cả các khu vực của Việt Nam mà trƣớc
đó đƣợc biết là có sự xuất hiện của loài này. Mặc dù vậy, có rất ít các hoạt động bảo
tồn để bảo vệ các quần thể còn lại đƣợc thực hiện. Hiện nay không có bất kì một sự
bảo vệ đặc biệt hay giám sát nào đƣợc dành cho N. siki tại bất kỳ địa điểm nào ở
Việt Nam. Các hoạt động săn bắt không kiểm soát và sự mất sinh cảnh vẫn là những
mối đe dọa lớn nhất đối với N. siki. Loài này đang bị suy giảm trên phạm vi quốc
gia và rõ ràng là không có trƣờng hợp bảo tồn thành công nào kể cả trực tiếp hay là
một phần của các sáng kiến đa dạng sinh học khác. Quần thể ở VQG Phong Nha-Kẻ
Bàng có thể đang ổn định nhƣng số liệu không rõ ràng do dữ liệu cơ bản về một số
phần của VQG này mới có đƣợc trong các năm gần đây.
1.1.6.2. Các khu vực quan trọng trong bảo tồn
Hai phức hợp rừng lớn giữa VQG Phong Nha-Kẻ Bàng với lâm trƣờng
Trƣờng Sơn và lâm trƣờng Khe Giữa với KBTTN Bắc Hƣớng Hóa đang lƣu giữ hầu
hêt quần thể N. siki đã biết của Việt Nam [69]. Các khu vực này nằm giữa các tỉnh
Quảng Bình và Quảng Trị và giáp với khu rừng ở phía Lào nơi xuất hiện N. siki bao
gồm khu bảo tồn quốc gia Hin Nậm Hô. Các quần thể khác bao gồm các đàn rải rác
và bị cô lập ở các Khu bảo tồn hiện tại hoặc đang đƣợc đề xuất. Tại các KBTTN đề
xuất Khe Vẽ và Giang Man có các quần thể nhỏ nhƣng chúng bị cô lập bởi sự phát
triển của các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
1.1.6.3. Các mối đe dọa
Săn bắn tiếp tục là mối đe dọa chủ yếu lên N. siki ở Việt Nam, điều này dẫn
tới sự suy giảm, có khi tuyệt chủng cục bộ của loài tại một số khu vực. Không có số
liệu về số lƣợng cá thể bị săn bắn qua thời gian và xu hƣớng về săn bắn của loài này
(ổn định, tăng hay giảm) cũng chƣa đƣợc biết đến. Nhƣng rõ ràng các nỗ lực trong
những năm qua để kiểm soát tình trạng săn bắn Vƣợn (và nhiều động vật hoang dã


8


Chƣa có cuộc điều tra đầy đủ nào về N. siki ở VQG Phong Nha-Kẻ Bàng
đƣợc thực hiện, nhƣng ở đây rõ ràng tồn tại một trong những quần thể N. siki lớn
nhất ở Việt Nam và có thể trên toàn cầu. Có ít nhất 9 cuộc khảo sát linh trƣởng đã
đƣợc thực hiện từ năm 1997 đến năm 2009 nhƣng đƣợc tiến hành ở các khu vực
khác nhau, với các mục tiêu và sử dụng các phƣơng pháp khác nhau [48, 56, 66,
75]. Haus at al., (2009) báo cáo ƣớc tính một quần thể phân bố rộng khắp khu vực
với 18 ± 18 đàn [48], tuy nhiên kết quả điều tra có kích cỡ mẫu nhỏ (chỉ có 1 đàn
đƣợc ghi nhận). Một cuộc khảo sát vào đầu năm 2009 ở phía Đông Nam của VQG
Phong nha - Kẻ Bàng đã ghi nhận 37 nhóm với 101 cá thể trên diện tích 5.400 ha,
với mật độ 0,69 nhóm km2 [56]. Khu vực này có rừng nguyên sinh phát triển trên
núi đất và có thể là môi trƣờng sống phù hợp hơn so với rừng núi đá vôi chiếm ƣu
thế ở phần còn lại của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. Ruppell (2007) ghi nhận đƣợc
13 nhóm Vƣợn đen má trắng siki giữa km 40 và km 52 của tuyến đƣờng phục vụ
chính trong VQG [75]. Nói chung, những kết quả này cho thấy ít nhất 50 đàn tồn tại
trong VQG, nhƣng số lƣợng này không bao gồm phần lớn khu vực núi đá vôi không
thể tiếp cận và có thể chứa một số lƣợng đáng kể của Vƣợn đen má trắng siki. Quần


10

thể N. siki của VQG Phong Nha-Kẻ Bàng đã ghi nhận đƣợc cho thấy đây là một
trong những khu vực ghi nhận đƣợc số đàn nhiều nhất của loài.
VQG Phong Nha-Kẻ Bàng tiếp giáp với KBTTN quốc gia Hin Nam No ở
Lào và là khu vực tập chung của núi đá vôi lớn nhất ở Đông Dƣơng. Do không thể
tiếp cận sâu đến khu vực này, có thể đảm bảo một mức độ bảo vệ tốt đối với động
vật hoang dã nói chung.
1.1.7.4. Lâm trường Trường Sơn
Các cuộc điều tra đa dạng sinh học tại khu vực này năm 2006 đã ghi lại đƣợc
9 đàn Vƣợn đen má trắng siki và năm 2009 một (1) đàn đƣợc ghi nhận [56]. Khu
vực tiếp giáp với VQG Phong Nha-Kẻ Bàng và lâm trƣờng Khe Giữa có thể đang

mặc dù nó đƣợc cho rằng các quần thể này còn lớn hơn so với quần thể ở Việt Nam
[39]. Tất cả các quần thể đều bị đe dọa bởi hiện tƣợng săn bắn và sự suy thoái của
môi trƣờng sống [69].


12

Chƣơng 2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Lý do lựa chọn khu vực nghiên cứu
Chúng tôi lựa chọn KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong, huyện Lệ thủy, tỉnh
Quảng Bình để nghiên cứu vì những lý do sau đây:
- Là khu vực rừng kết nối giữa lâm trƣờng Khe Giữa và KBTTN Bắc Hƣớng
Hóa, đây là khu vực nằm trong phức hợp rừng có thể là một trong số ít khu vực
phân bố quan trọng nhất của loài.
- Đã có những ghi nhận sự tồn tại của Vƣợn đen má trắng siki tại khu vực
trong các cuộc điều tra trƣớc đây.
- Nằm trong khu vực phân bố tự nhiên của Vƣợn đen má trắng siki, KBTTN
đề xuất Khe Nƣớc Trong là một trong số ít các khu vực đang bảo tồn đƣợc một diện
tích lớn rừng nhiệt đới thƣờng xanh còn tính chất nguyên sinh trên vùng đất thấp.
Đồng thời khu vực này nằm trong vùng sinh thái đất thấp miền Trung rộng lớn đƣợc
đánh giá là một trong các trung tâm đa dạng sinh học của thế giới.
- Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp các thông tin làm cơ sở khoa học
cho hoạt động bảo tồn đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của khu vực để sớm
trở thành một KBTTN trong tƣơng lai.
Qua điều tra sơ bộ, các khu vực phía Đông chủ yếu là diện tích rừng nghèo
đang trong quá trình phục hồi, không phải là môi trƣờng sống thuận lợi cho Vƣợn
đen má trắng siki. Đồng thời, do hạn chế về thời gian và kinh phí thực hiện, vì vậy
đề tài chỉ đƣợc thực hiện tại 13 tiểu khu thuộc phía Tây và Trung tâm KBTTN đề
xuất Khe Nƣớc Trong.

537, 538 và 539.
Diện tích: 19.187,99 ha (Rà soát theo Quyết định số 2410/QĐ-UBND ngày
03/9/2014 về quy hoạch 3 loại rừng giai đoạn 2015 - 2020) [7].
2.1.2..2. Địa hình
Địa hình phức tạp, cao dần từ Đông sang Tây, đỉnh cao nhất là Động Châu
1254 m, Động Vàng Vàng 1250 m. Khu vực có sƣờn núi phía tỉnh Quảng Bình rất
dốc. Các khe suối có độ dốc lớn nên mùa mƣa có nƣớc chảy xiết, thƣờng gây ra lũ
lớn [7].
2.1.2..3. Khi hậu, thủy văn
Khi hậu: Khí hậu của khu vực mang đặc thù khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia
làm 2 mùa là mùa mƣa và mùa khô.
- Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, có gió Tây Nam khô nóng và ít mƣa.
- Mùa mƣa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, có gió mùa Đông Bắc mang theo
hơi ẩm, khí hậu lạnh. Mƣa nhiều nhất tập trung từ tháng 9 đến tháng 11 chiếm 60
đến 70% lƣợng mƣa cả năm.
Thủy văn: Toàn bộ khu vực đƣợc đề xuất là vùng đầu nguồn của sông Long
Đại - một trong những con sông lớn nhất tỉnh Quảng Bình. Trong khu vực rất nhiều
khe suối nhỏ chằng chịt tạo thành 2 hệ sông suối chính là hệ sông Sa Ram và Khe
Bang. Hệ Sa Ram gồm nhiều suối lớn đổ về nhƣ Suối Vàng, Khe Bung, suối Sa
Ram. Hệ Khe Bang cũng gồm nhiều suối lớn nhƣ: An Bai, Rào Chân và Khe Bang.
Các sông suối trong khu vực thƣờng ngắn, có độ dốc lớn, xâm thực sâu, vì
thế thƣờng gây lũ quét làm sạt lở đất, gẫy đổ cây rừng, và ảnh hƣởng tới giao thông
đi lại trong vùng.


15

2.1.2.4. Khu hệ thực vật
Theo Tổ chƣ́c BirdLife Quốc tế Chƣơng trì nh Vi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status