BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------
LÊ XUÂN BẮC
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG QUẦN THỂ VƢỢN MÁ VÀNG
PHÍA NAM (NOMASCUS GABRIELLAE THOMAS 1909)
TẠI PHÂN KHU NAM CÁT TIÊN,
VƢỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN, TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------
`
LÊ XUÂN BẮC
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG QUẦN THỂ VƢỢN MÁ VÀNG
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Vườn Quốc gia Cát tiên đã cho
phép tôi được thực hiện đề tài nghiên cứu tại Vườn.
Tôi xin cảm ơn chính quyền và nhân dân địa phương các xã: Đắc Lua,
Tà Lài, Nam Cát Tiên, Phú Lập, Đăng Hà và Đồng Nai đã giúp đỡ tôi trong
quá trình điều tra và trả lời các câu hỏi phỏng vấn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả bạn bè,
người thân và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong
quá trình điều tra thực địa và hoàn thành luận văn. Đó là nguồn cổ vũ lớn lao
đối với bản thân tôi.
Mặc dù đã nỗ lực làm việc nhưng đề tài không tránh khỏi những thiếu
sót nhất định. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến xây dựng của các
nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
ĐHLN, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Lê Xuân Bắc
ii
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... i
MỤC LỤC ........................................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................. vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ............................................................................. vii
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................... 3
3.1. Điều kiện tự nhiên .................................................................................... 30
3.1.1. Vị trí, ranh giới, diện tích...................................................................... 30
3.1.2. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng............................................................. 33
3.1.3. Khí hậu, thủy văn .................................................................................. 33
3.1.4. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp ....................................................... 34
3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ......................................................................... 35
3.2.1. Dân cư và dân tộc ................................................................................. 35
3.2.2. Sản xuất nông nghiệp ............................................................................ 36
3.2.3. Văn hóa, giáo dục ................................................................................. 37
3.2.4. Về y tế .................................................................................................... 37
3.2.5. Bưu chính, viễn thông ........................................................................... 37
3.3. Nhận xét về các thuận lợi và khó khăn cho sự cư trú của loài Vượn má
vàng phía nam và công tác quản lý bảo tồn .................................................... 37
3.3.1. Thuận lợi ............................................................................................... 37
3.3.2. Khó khăn ............................................................................................... 38
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 39
4.1. Số đàn Vượn má vàng phía nam được ghi nhận tại khu vực điều tra ...... 39
4.1.1. Kết quả điều tra vượn tại các điểm nghe .............................................. 39
4.1.2. Số đàn vượn hiện có tại khu vực điều tra.............................................. 46
4.2 . Ước tính mật độ và kích thước quần thể Vượn má vàng phía nam tại
phân khu Nam Cát Tiên .................................................................................. 49
4.2.1. Ước tính mật độ vượn tại khu vực điều tra ........................................... 49
iv
4.2.2. Ước tính kích thước quần thể Vượn má vàng phía nam tại phân khu
Nam Cát Tiên .................................................................................................. 49
4.3. So sánh quần thể Vượn tại Nam Cát Tiên với một số Khu bảo tồn và
Vườn Quốc gia khác........................................................................................ 51
BQL
Ban quản lý
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CITES
Công ước về buôn bán động vật hoang dã quốc tế
ĐTQH
Điều tra quy hoạch
IUCN
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
KBTTN
Khu bảo tồn thiên nhiên
KBTLVSC
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh
KH
R
Rừng
SC
Sinh cảnh
SĐVN
Sách đỏ Việt Nam
STT
Số thứ tự
TT
Thứ tự
TL
Tài liệu
UBND
Ủy ban nhân dân
VQG
24
3.1 Diện tích các loại rừng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên
34
4.1 Tổng hợp kết quả điều tra vượn tại các điểm nghe
39
4.2 Kích thước và mật độ vượn tại phân khu Nam Cát Tiên
50
4.3
So sánh số lượng Vượn má vàng phía nam tại VQG Cát Tiên
với một số khu vực lân cận
53
So sánh quần thể vượn tại phân khu Nam Cát Tiên và một số
4.4 quần thể lớn nhất của các loài thuộc giống Nomascus ở Việt
54
Nam
4.5
phân khu Nam Cát Tiên
Minh họa một khu vực điều tra vượn với 3 điểm nghe trong
đó có hiện tượng chồng lấn giữa các điểm nghe
Xác định vị trí các đàn vượn tại Nam Cát Tiên bằng phương
pháp giao hội điểm
3.1 Sơ đồ vị trí Vườn Quốc gia Cát Tiên
3.2
Bản đồ ranh giới phân khu Nam Cát Tiên – Vườn Quốc gia
Cát Tiên
21
23
26
31
32
4.1 Tỉ lệ phần trăm cấu trúc các đàn vượn theo tiếng hót ghi nhận
44
4.2 Biểu đồ biểu diễn thời gian vượn hót trong ngày
45
4.3 Vùng nghe thấy vượn xung quanh các điểm điều tra
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vượn má vàng hay còn được gọi là Vượn má hung (Nomascus
gabrielae Thomas, 1909) là loài thú linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng
cao và được ưu tiên bảo tồn. Hiện nay, Vượn má vàng được xếp ở cấp Nguy
cấp (EN) trong Sách đỏ thế giới (IUCN, 2016) và Sách đỏ Việt Nam (2007);
Loài thuộc nhóm IB trong Nghị định 32 (2006), Phụ Lục I của Nghị định 160
(2013) và Công ước CITES (2015).
Vùng phân bố của loài Vượn má vàng được xác định ở Đông Bắc
Campuchia, Nam Lào và khu vực phía Nam của Việt Nam ở một số tỉnh: Kon
Tum, Đắk Lắc, Đắk Nông, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận và Đồng Nai
(Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998; Phạm Nhật, 2002; Nguyễn Xuân Đặng
và Lê Xuân Cảnh, 2009). Năm 2010, Văn Ngọc Thịnh và các cộng sự căn cứ
vào đặc điểm tiếng hót và phân tích di truyền đã phân chia loài Vượn má vàng
thành hai loài riêng biệt là Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) và
Vượn má vàng phía bắc (Nomascus annamensis). Ở nước ta, Vượn má vàng
phía nam được xác định có vùng phân bố ở Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng,
Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai và Bình Phước (Văn Ngọc Thịnh et al.,
2010 và Rawson et al., 2010).
Kích thước quần thể của loài Vượn má vàng hiện nay được xác định
chủ yếu là ước tính từ các đàn vượn ghi nhận thông qua tiếng hót. Tại Vườn
Quốc gia Bù Gia Mập, Hoàng Minh Đức et al., (2010) ước tính có 124 đàn
với khoảng 400 cá thể. Tại Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, Giang Trọng toàn
(2013) ước tính có 170 đàn. Tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, Keynon et al.,
(2007) ước tính có khoảng gần 149 đàn. Một số khu vực khác ở Việt Nam vẫn
chưa có các thông tin cụ thể về số lượng của loài.
Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên được thành lập vào tháng 02 năm
1988 với tổng diện tích là 82.722,8ha nằm trên địa lý hành chính của 3 tỉnh:
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Phân loại học thú linh trƣởng ở Việt Nam
Cũng giống như hệ thống phân loại thú linh trưởng trên thế giới, phân
loại thú linh trưởng ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian và khác nhau
giữa các tác giả (bảng 1.1).
Bảng 1.1: Tổng kết phân loại thú linh trƣởng ở Việt Nam theo thời gian
Năm
Họ
Số loài và phân loài
Nguồn thông tin
2001
3
24
Groves (2001)
2002
3
25
chưa có sự thống nhất về số loài nhưng các tác giả đều phân chia thú linh
trưởng Việt Nam thành 3 họ: họ Cu li (Loridae), họ khỉ (Cercopithecidae) và
họ Vượn (Hylobatidae); số loài và phân loài dao động từ 23 đến 25 loài.
Trong các hệ thống phân loại thú linh trưởng thì hệ thống phân loại của
Roos (2004) và Groves (2004) hiện đang được các nhà khoa học sử dụng rộng
rãi nhất. Theo đó, số lượng các loài thú linh trưởng ở Việt Nam hiện có 24
loài thuộc 3 họ (xem bảng 1.2).
4
Bảng 1.2: Phân loại thú Linh trƣởng Việt Nam
Tên loài
TT
Phổ thông
Khoa học
1
Cu li lớn
Nycticebus bengalensis
2
Cu li nhỏ
Macaca fascicularis
8
Voọc xám
Trachypithecus crepusculus
9
Voọc bạc
Trachypithecus obscurus
10
Voọc gec manh
Trachypithecus germaini
11
Voọc đen má trắng
Trachypithecus francoisi
12
Voọc đầu trắng
Pygathrix nigripes
18
Chà vá chân xám
Pygathrix cinerea
19
Voọc mũi hếch
Rhinopithecus avunculus
20
Vượn đen tuyền
Nomascus concolor
21
Vượn đen hải nam
Nomascus nasutus
22
Vượn đen má trắng
truyền học, các đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã phân họ vượn
thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus
có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52 giống Bunopithecus có 2n = 38 và giống
Hylobates có 2n = 44 (Thomas geissmann et al, 2000). Ở Việt Nam hiện chỉ
có một giống vượn duy nhất là giống vượn mào (Nomascus) với số lượng
thay đổi từ 5 đến 6 loài.
1.2.1. Đặc điểm của giống Vượn mào (Nomascus)
Những cá thể vượn mào hoang dã có khối lượng cơ thể trung bình là 7 8kg, nặng tương đương với trọng lượng của giống Bunopithecus (7kg), lớn
hơn trọng lượng của giống Hylobates (khoảng 5kg) và nhỏ hơn trọng lượng
của giống Symphalangus (khoảng 11kg) (Thomas geissmann et al, 2000).
Các loài vượn mào có đặc điểm trán cao và tròn, các cạnh trên ổ mắt
phẳng, số lượng bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 52. Túm lông trên đầu dựng
đứng, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trưởng
thành có đám lông đen trên đầu tương phản với phần lông màu nhạt ở xung
6
quanh. Có sự lưỡng sắc giới tính thể hiện rõ ở những cá thể trưởng thành: con
đực thường có màu lông đen (có hoặc không có các mảng lông má màu sáng),
cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt,
thường có mảng lông chẩm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu
tối. Những thay đổi về màu sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể:
con non sinh ra có bộ lông màu đen, gần tương tự như màu của con đực
trưởng thành. Đến thời gian trưởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi),
con cái thay đổi màu lông lần thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trưng của
con cái trưởng thành (Grove, 2001).
1.2.2. Các loài vượn ở Việt Nam và vùng phân bố của chúng
Cũng giống như phân loại học về thú linh trưởng, các tác giả khác nhau
cũng đưa ra sự phân chia khác nhau về số lượng loài thuộc giống Nomascus.
giống Nomascus. Trong đó, loài Vượn má vàng (Nomascus gabriellae) được
tách thành 2 loài riêng biệt là Vượn má vàng phía bắc (Nomascus
annamensis) và Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae), các loài
vượn còn lại giữ nguyên như phân loại của Grove (2004):
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Vượn đen tuyền
Vượn đen hải nam
Vượn đen má trắng
Vượn siki
Vượn má vàng phía bắc
Vượn má vàng phía nam
Nomascus concolor
Nomascus nasutus
Nomascus leucogenys
Nomascus siki
Nomascus annamensis
Nomascus gabriellae
Năm 2011, Roos cũng thống nhất quan điểm phân chia các loài vượn ở
Việt Nam của Văn Ngọc Thịnh (2010) với 6 loài thuộc giống Nomascus.
Vùng phân bố của giống vượn mào Nomascus được các nhà khoa học
xác định ở khu vực Đông Dương bao gồm Việt Nam, Lào, phía Đông
Campuchia và Tây - Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam), sông
Cá thể cái
Nguồn: Sồng A Trống (2016)
Hình 1.2: Vƣợn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae)
1.3.2. Sinh thái và tập tính
Vượn má vàng phía nam chủ yếu sống trong rừng thường xanh trên núi
đất, nhiều lúc thấy Vượn má vàng phía nam kiếm ăn trong các khu rừng khộp.
Vượn má vàng sống theo gia đình nhỏ 2 – 4 cá thể gồm thế hệ bố mẹ, con cái
các lứa tuổi. Trong ngày, vượn hoạt động vào buổi sáng và buổi chiều; buổi
10
trưa nghỉ ngơi và thường bắt đầu một ngày mới bằng những bản nhạc đồng ca
trước khi mặt trời mọc. Hầu hết vào các ngày trời mưa, vượn không hót vào
buổi sáng (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009).
Vượn kiếm ăn chủ yếu trên cây, cường độ kiếm ăn mạnh vào đầu buổi
sáng và cuối buổi chiều. Thức ăn là trái cây, lá non của nhiều loài cây rừng.
Về sinh sản, thường bắt gặp vượn mẹ mang con nhỏ từ tháng 3 đến tháng 6.
1.3.3. Phân bố
Vượn má vàng phía nam phân bố ở Đông Bắc Campuchia, Nam Lào,
và phía Nam Việt Nam. Ở nước ta, Vượn má vàng đã được ghi nhận ở các địa
phương: Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai
và Bình Phước (Văn Ngọc Thịnh et al., 2010 và Rawson et al., 2010).
1.4. Phƣơng pháp điều tra Vƣợn
Với loài vượn, phương pháp điều tra chủ yếu là thông qua tiếng hót tại
các điểm nghe. Tuy nhiên, không phải lúc nào đàn vượn cũng hót trong thời
gian điều tra. Các đàn vượn không hót trong đợt điều tra dường như không
được phát hiện. Đến nay, các phương pháp sử dụng chưa được hoàn thiện và
Nhật, 2002).
Bên cạnh việc mất sinh cảnh sống thì hoạt động săn bắt trái phép cũng
là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với thú linh trưởng nói chung và đối với
Vượn má vàng phía nam nói riêng. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát
triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng. Bên cạnh đó, linh trưởng là một
nhóm thú có giá trị rất lớn về kinh tế, thực phẩm và là nguồn dược liệu có giá
trị. Chính vì vậy, thú linh trưởng luôn là một đối tượng săn bắn chủ yếu của
con người. Cũng như những loài linh trưởng khác, do có kích thước, trọng
lượng cơ thể lớn, lại có giá trị về mặt thực phẩm và dược liệu nên Vượn má
vàng phía nam luôn bị đe dọa săn bắn. Con người sử dụng rất nhiều hình thức
khác nhau để săn bắt các loài linh trưởng như: bẫy cần giật, bẫy lồng sập, bẫy
kẹp, súng kíp đến; các phương tiện hiện đại như súng săn hai nòng bắn đạn
ghép, súng liên thanh quân dụng.
12
Hàng năm có rất nhiều thú linh trưởng bị săn bắt, mặc cho tất cả các
loài linh trưởng ở Việt Nam đều đang ở trong tình trạng nguy cấp và rất nguy
cấp. Có nhiều loài đặc hữu đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Theo
Phạm Nhật (2002), năm 1985 ở địa bàn 3 xã của huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh)
có ít nhất 35 Chà vá và 70 Khỉ cộc bị bắn chết; hai tháng cuối năm 1991 và 3
tháng đầu năm 1992, ít nhất có 16 con Voọc mũi hếch bị bắn chết ở Na Hang.
Trong những năm 1980 - 1991, vùng Phong Nha Kẻ Bàng đã rất phát triển
nghề "khỉ ép". Sau khi Khỉ, Voọc bị bắn, thợ săn mổ bỏ nội quan, sấy và ép
con vật và mang về bán cho lái buôn. Thời kỳ đó, hàng năm ít nhất không
dưới 10 tấn thú linh trưởng khô (tương đương với khoảng 1500 con Khỉ,
Voọc) bị khai thác. Từ năm 1991 đến nay hoạt động săn bắt thú Linh trưởng ở
vùng Phong Nha Kẻ Bàng tuy cường độ giảm vì súng quân dụng đã bị Ban
Chỉ huy quân sự tỉnh thu hồi (1991) nhưng vẫn còn tiếp tục và hàng năm
64
351
Bò sát
4
17
109
Lưỡng cư
2
6
41
Côn trùng
10
68
756
Cá
Theo Rawson et al., (2011), loài Vượn má vàng phía nam có phân bố
xa nhất về phía nam Việt Nam và có thể chiếm hơn nửa số lượng vượn toàn
quốc. Hiện nay, đã có ít nhất 300 đàn được ghi nhận ở hai khu vực là
14
Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, Vườn Quốc gia Cát Tiên và các khu vực rừng
xung quanh. Ngoài ra, loài Vượn má vàng phía nam cũng được ghi nhận tại
một số lâm trường quốc doanh và dường như còn một số quần thể vẫn chưa
được phát hiện. Mối đe dọa đến từ săn bắn ở miền nam Việt Nam có thể đang
tăng lên do sự gia tăng của nhu cầu nuôi nhốt vượn như là thú cảnh hoặc sử
dụng làm dược liệu cổ truyền.
Như vậy, các nghiên cứu về loài Vượn má vàng phía nam tại Vườn
Quốc gia Cát Tiên đã được thực hiện bởi các tổ chức trong và ngoài nước.
Các nghiên cứu tập trung vào kích thước quần thể loài, vùng phân bố và các
mối đe dọa của chúng. Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu về Vượn má vàng
phía nam tại Cát Tiên từ năm 2011 đến nay chưa được điều tra bổ sung. Vì
vậy, nghiên cứu này sẽ là tài liệu hữu ích trong việc bổ sung các thông tin về
tình trạng quần thể Vượn má vàng phía nam tại phân khu Nam Cát Tiên, tỉnh
Đồng Nai.
1.7. Cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu
Loài Vượn má vàng phía nam cũng giống các loài vượn khác thường di
chuyển nhanh, sống trên các tầng cây cao và rất nhạy cảm với sự hiện diện
của con người nên việc quan sát trực tiếp vượn ngoài tự nhiên gặp nhiều khó
khăn, đặc biệt trong các cuộc điều tra ngắn. Tuy nhiên, vượn có thể hót to và
kéo dài (Geissmann,1993; Geissmann Orgelginger, 2000). Ngoài ra, vượn có
tập tính sống theo vùng lãnh thổ với diện tích vùng sống khoảng 30ha, bán
kính khoảng 500m (Brokeman, 1993). Vì vậy, phương pháp điều tra xác định
các đàn vượn sẽ được thực hiện thông qua việc ghi nhận tiếng hót của vượn
vàng phía nam phục vụ công tác quản lý và bảo tồn loài tại Vườn Quốc gia
Cát Tiên.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được tình trạng của quần thể vượn má vàng phía nam tại
phân khu Nam Cát Tiên – Vườn Quốc gia Cát Tiên
- Xác định được khu vực phân bố của quần thể Vượn má vàng phía
nam tại phân khu Nam Cát Tiên;
- Xác định được các mối đe dọa đến quần thể Vượn má vàng phía nam
trong khu vực nghiên cứu;
- Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn loài Vượn má vàng phía nam tại
phân khu Nam Cát Tiên – Vườn Quốc gia Cát Tiên.
2.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Loài Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae) và sinh cảnh sống
của chúng.
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 7 năm
2016 đến tháng 5 năm 2017.
Địa điểm nghiên cứu: Phân khu Nam Cát Tiên, Vườn Quốc gia Cát
Tiên.