1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quy hoạch là một trong những hoạt động rất quan trọng trong phát triển
kinh tế, xã hội nói chung và ngành kinh tế nói riêng, trong đó có nền sản xuất
nông - lâm nghiệp. Trong phát triển kinh tế, xã hội; công tác quy hoạch phải luôn
đi trước một bước. Trong quá trình biến động thường xuyên và liên tục của nền
kinh tế, công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội sẽ rất khó khăn nếu không có
định hướng cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Quy hoạch là căn cứ quan
trọng thể hiện sự nhất quán về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong một
thời gian tương đối dài và làm cơ sở để xây dựng kế hoạch hàng năm.
Đối với nước ta đất lâm nghiệp chiếm gần 3/4 diện tích tự nhiên, do vậy
lâm nghiệp có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đối trượng sản
xuất kinh doanh của lâm nghiệp là tài nguyên rừng, bao gồm rừng và đất rừng.
Tác dụng của lâm nghiệp đối với nền kinh tế được xác định trên nhiều mặt,
không chỉ cung cấp lâm, đặc sản rừng mà còn có tác dụng phòng hộ sinh thái,
bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị khác từ
dịch vụ từ rừng. Trải qua nhều thế kỷ, tài nguyên rừng phải chịu nhiều sức ép tác
động như: Chiến tranh tàn phá, sự phát triển kinh tế, sự bùng nổ dân số và xu
hướng đô thị hoá dẫn đến mâu thuấn ngày càng gay gắt giữa con người và tài
nguyên đất, rừng. Việc khai thác và sử dụng đất nhằm đáp ứng nhu cầu lương
thực, sinh hoạt; bên cạnh sự yếu kém về quản lý, nhận thức về việc sử dụng đất
dẫn đến hàng triệu ha rừng bị mất, đất sa mạc và hoang mạc hoá, mất khả năng
canh tác, ảnh hưởng tới đời sống con người và làm mất cân bằng sinh thái.
Những bài học đó giúp cho con người nhận thức về giá trị sử dụng tài nguyên
rừng một cách có hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Để phát huy giá trị nhiều mặt của rừng chúng ta cần tiến hành quy hoạch
lâm nghiệp nhằm tạo bố cục hợp lý về mặt không gian, thời gian đối với tài
nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục kinh doanh, làm cơ sở cho việc lập
2
nước, giữ môi trường cảnh quan, bảo tồn đa dạng sinh học và kinh tế thì vấn
đề quy hoạch phát triển rừng hợp lý là rất cần thiết.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, để góp phần bảo vệ phát triển tài nguyên
rừng bền vững và đưa sản xuất lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế đóng vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện cũng như cải
thiện điều kiệm môi trường sinh thái, việc thực hiện đề tài "Nghiên cứu đề xuất
phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Như Xuân, tỉnh
Thanh Hoá đến năm 2020” là rất cần thiết.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nhận thức chung về quy hoạch
Quy hoạch nói chung và quy hoạch lâm nghiệp nói riêng đều là một hoạt
động định hướng nhằm sắp xếp, bố trí tổ chức các hoạt động theo không gian và
thời gian một cách hợp lý vào thời điểm hiện tại và phù hợp với mục tiêu trong
tương lai.
1.2. Trên thế giới
1.2.1. Quy hoạch vùng lãnh thổ một số nước trên thế giới
1.2.1.1. Quy hoạch vùng
Trần Hữu Viên [19]: Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin
về phân bố phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương
pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
C. Mác và P. Ăng-Ghen đã chỉ ra: "Mức độ phát triển lực lượng sản xuất
của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở chỗ sự phân công lao động của dân tộc
đó được phát triển đến mức độ nào”.
V.I. Lê - Nin đã viết: "Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự
nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố lực
lượng sản xuất”.
- Bố trí hợp lý các hoạt đọng của con người nhằm đảm bảo tái sản xuất mở rộng.
Quy hoạch lãnh thổ đất nước phân thành các vùng.
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ.
+ Lãnh thổ thiên nhiên không có vùng nông thôn, sự tác động của con
người vào đây rất ít.
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, ít có sự can
thiệp của con người, thuận lợi cho kinh doanh về du lịch.
6
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và có sự
can thiệp của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn
nhưng có sự tác động của con người.
+ Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người.
* Nội dung của quy hoạch
Quy hoạch lãnh thổ địa phương là thể hiện quy hoạch chi tiết các Liên
hiệp nông - công nghiệp và đồng thời giải quyết các vấn đề sau đây:
+ Cụ thể hóa, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp.
+ Phối hợp, hợp lý giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp với
mục đích liên kết theo ngành dọc.
+ Xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng và sản xuất.
+ Tổ chức hợp lý mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp
trong phạm vi hệ thống nông thôn.
+ Bảo vệ môi trường thiên nhiên của vùng lãnh thổ, tạo điều kiện tốt cho
người lao động nghỉ ngơi, sinh hoạt.
b) Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Pháp:
Theo quan niệm chung của hệ thống các mô hình quy hoạch vùng, lãnh
thổ. M. Thenevin (M. Pierre Thenevin), một chuyên gia thống kê đã giới thiệu
một số mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công ở miền Tây Nam nước
đất nước. Thông thường vùng có diện tích lớn hơn đơn vị hành chính lớn nhất.
Sự phân chia các vùng theo mục đích của quy hoạch, theo đặc điểm của lãnh thổ.
+ Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo
hai cách:
8
Thứ nhất: Sự bổ sung kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng, những
mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng
được giải quyết trong kế hoạch quốc gia.
Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng,
các kế hoạch vùng đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia.
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước,
phải có sự phối hợp với chính phủ và chính quyền địa phương.
1.2.1.2. Quy hoạch sử dụng đất
Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế
Tư bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu
khối lượng gỗ ngày càng tăng . Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương
của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa.
Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn
thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch
lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng. Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy
hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy.
Tai Châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 của thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ
vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ. Năm
1946, Jack.G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất với tên
"Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất". Đây là tài liệu đầu tiên đề cập
đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất. Tại vùng Rhodesia
trước đây, nay là cộng hoà Zimbabwe, Bộ Nông nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay
hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng cho trồng
gia; kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng.
13
Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể về công tác quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất. Điều 35 Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 36 Hệ
thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 37 Kỳ quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất; Điều 40 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; Điều 45 Thẩm
quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Điều 49 Thực
hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [15].
Ngày 01/07/2014 Luật đất đai mới chính thức có hiệu lực thi hành. Luật
quy định rõ về công tác quản lý đất dai, trong đó nêu rõ nội dung công tác quản
lý quy hoạch sử dụng đất.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2014 /NĐ- CP ngày 15/05/2014
về việc thi hành luật đất đai [4]. Đồng thời Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng
ban hành Thông tư số 29/2014/TT- BTNMT ngày 02/6/2014 về việc quy định
chi tiết điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [2].
1.3.2. Quy hoạch vùng lãnh thổ
- Quy hoạch vùng chuyên canh (Quy hoạch vùng chuyên canh cây trồng)
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canh
lúa ở đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long, các vùng rau thực
phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây cây công nghiệp ngắn ngày (hàng
năm): Vùng bông Thuận Hải, vùng đay Hải Hưng, vùng thuốc lá Quảng An
( Cao Bằng), Ba Vì , (Hà Sơn Bình nay là Hà Nội), Hữu Lũng (Lạng Sơn), Nho
Quan (Hà Nam Ninh nay là Ninh Bình), vùng mía Văn Điểm, Việt Trì, Sông
Lam, Quảng Ngãi,..các vùng cây công nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su
Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ (Đăc lăk), Chư Pả, Ninh Đức (Gia Lai, Kon Tum),
vùng chè ở Hoàng Liên Sơn, Mộc Châu, Thái Nguyên, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon
Tum, vùng dâu tằm Bảo Lộc (Lâm Đồng),..
+ Quy hoạch vùng chuyên canh có tác dụng: Xác định phương hướng sản
tỉnh, không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các
15
nước cho phù hợp với điều kiện, trình độ tài nguyên rừng ở nước ta. Tuy nhiên,
so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta
hình thành và phát triển muộn hơn nhiều. Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về
kinh tế, xã hội và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác quy hoạch lâm nghiệp
chưa được giải quyết triệt để, nên công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn
vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [9].
Trong công trình ''Đất rừng Việt Nam'', Nguyễn Ngọc Bình (1996) đã đưa
ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc điểm
cơ bản của đất rừng Việt Nam [10].
Năm 1997, Đặng Văn Phụ, Hà Quang Khải trong chương trình tập huấn
hỗ trợ lâm nghiệp xã hội của Trường Đại học lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về
hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống, kỹ thuật sử dụng đất bền vững
trong điều kiện Việt Nam. Trong đó các tác giả đã đi sâu phân tích về: Quan
điểm về tính bền vững; khái niệm tính bền vững và phát triển bền vững; hệ thống
sử dụng đất bền vững; kỹ thuật sử dụng đất bền vững; các chỉ tiêu đánh giá tính
bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất [7].
Tài liệu tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự
tham gia của người dân, tác giả Trần Hữu Viên (1997) [18] đã kết hợp phương
pháp quy hoạch sử dụng đất trong nước và của một số dự án Quốc tế đang áp
dụng tại một số vùng có dự án ở Việt Nam. Trong đó tác giả đã trình bày về khái
niệm và nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân
tham gia.
Theo chiến lược phát triển rừng quốc gia giai đoạn 2006-2020 một trong
những tồn tại mà Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đánh giá là: ''Công
tác quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp
chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu
rừng sản xuất.
17
Quy mô của công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng bao gồm cả tầm
vĩ mô và vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, xí
nghiệp, lâm trường, quy hoạch phát triển rừng xã và rừng lâm nghiệp.
Lực lượng tham gia công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng thường
luôn phải lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn về
mọi mặt… Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao
gồm cả lực lượng của Trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng
tham gia làm quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng (nông nghiệp, Công an, Quân
đội…) Trong đó, có một bộ phận được đào tạo bài bản qua trường lớp, song
phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp.
1.3.3.2. Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm ngiệp phục vụ chuyển đổi cơ
cấu nông nghiệp nông thôn
Công tác quy hoạch lâm nghiệp phải được triển khai dựa trên những chủ
trương, chính sách và định hướng phát triển Kinh tế - Xã hội của Nhà nước và
chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể. Với mỗi phương án quy hoạch lâm
nghiệp phải đạt được:
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp - đất lâm nghiệp và đất do các
ngành khác sử dụng. Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm
hàng đầu vì là hai nghành chính sử dụng đất đai.
- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định, tiến hành hoạch định 3 loại
rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất). Từ đó xác định các giải pháp lâm sinh
thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, làm giàu rừng, khoanh nuôi
phục hồi rừng, trồng rừng mới, nuôi dưỡng rừng, nông lâm kết hợp,..v.v.. khai
thác lợi dụng rừng).
- Tính toán nhu cầu đầu tư: Vì là phương án lập quy hoạch nên việc tính
toán nhu cầu đầu tư chỉ mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản
* Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc
19
Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm
nghiệp trên phạm vị lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản, đó
là: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp toàn
quốc; quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất, phòng hộ,
đặc dụng); quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có;
quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện
nông lâm kết hợp; quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường
tiêu thụ; quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp
xã hội; quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải; xác định tiến độ
thực hiện [9].
Do đặc thù khác với những ngành kinh tế khác, cho nên thời gian quy
hoạch lâm nghiệp thường 10 năm và các nội dung quy hoạch được thực hiện tuỳ
theo vùng kinh tế lâm nghiệp [3].
* Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh giải quyết những vấn đề:
Xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển rừng trong phạm vi tỉnh, trên cơ sở
căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Căn cứ
vào phương hướng nhiệm vụ phát triển rừng của tỉnh, điều kiện đất đai tài
nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác tiến hành quy
hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo ba chức năng: Rừng sản xuất, rừng
phòng hộ và rừng đặc dụng. Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài
nguyên hiện có. Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm trồng rừng và tái sinh tự
nhiên) và nông lâm kết hợp. Quy hoạch khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm
sản gắn liền với thị trường tiêu thụ. Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho
các thành phần kinh tế, phát triển rừng xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ
tầng, giao thông vận tải phục vụ sản xuất lâm nghiệp, lưu thông hàng hoá và đời
* Quy hoạch lâm nghiệp cấp xã
21
Xã là một đơn vị quản lý hành chính nhỏ nhất, là đơn vị cơ bản quản lý và
tổ chức sản xuất lâm nghiệp trong thành phần kinh tế tập thể và tư nhân. Quy
hoạch bảo vệ và phát triển rừng, xã thường tiến hành các nội dung sau: Điều tra
các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội, điều kiện tài nguyên rừng. Căn
cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội xã, căn cứ vào quy hoạch
lâm nghiệp cấp huyện và điều kiện cơ bản của xã, xác định phương hướng nhiệm
vụ phát triển rừng trên địa bàn xã. Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo
đơn vị sử dụng, xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa
bàn xã. Căn cứ vào phương hướng phát triển, các điều kiện cơ bản, nhu cầu
phòng hộ và nhu cầu đặc biệt khác (nếu có) phân chia đất lâm nghiệp theo ba
chức năng sử dụng: Sản xuất, phòng hộ và đặc dụng. Quy hoạch các nội dung
sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, bố trí không gian và thời gian tổ chức các
biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng. Bảo vệ và nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng
rừng và tái sinh phục hồi rừng, nông lâm kết hợp, khai thác, chế biến các loại
lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa phương và thị trường, quy hoạch các
nội dung sản xuất hỗ trợ. Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành
phần kinh tế trong xã gắn với phát triển rừng xã hội. Quy hoạch xây dựng cơ sở
hạ tầng và giao thông vận tải, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống. Ước
tính đầu tư lao động, tiền vốn, vật tư thiết bị. Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá
đầy đủ trên các mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường. Xác đinh tiến độ thực
hiện[9].
Về cơ bản nội dung quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trong các cấp
quản lý lãnh thổ từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự nhau, tuy nhiên
mức độ giải quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tuỳ theo các cấp.
1.3.4. Tình hình quy hoạch trên địa bàn huyện Như Xuân
Hiện nay huyện Như Xuân đã được uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá phê
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Góp phần phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường tại huyện Như
Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích được các cơ sở để xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển
rừng huyện Như Xuân.
- Đề xuất được nội dung của phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển
rừng huyện Như Xuân đến năm 2020.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi
trường có ảnh hưởng đến sự phát triển của rừng.
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp (bao gồm đã có
rừng và chưa có rừng) và đất có khả năng lâm nghiệp thuộc huyện Như Xuân,
tỉnh Thanh Hoá.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Cơ sở để xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Như
Xuân
- Cơ sở pháp lý (Hiến pháp, Luật đất đai các văn bản dưới luật liện quan
đến quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng).
- Điều kiện cơ bản khu vực nghiên cứu (Điều kiện tự nhiên và tài nguyên
rừng, điều kiện dân sinh kinh tế, xã hội trên địa bàn).
- Hiện trạng tài nguyên rừng (Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp, quy
hoạch sử dụng đất đai chung, quy hoạch 3 loại rừng )
24
- Tình hình thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng tại huyện
Như Xuân.
nhưỡng, hiện trạng tài nguyên sinh vật rừng …
+ Dân số, lao động: Thống kê về dân số, lao động, dân tộc, sự gia tăng dân
số…
- Nhóm thông tin về tình hình phát triển các ngành kinh tế, xã hội:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đời sống dân cư.
+ Thực trạng hệ thống kết cấu hạ tầng: Đánh giá thực trạng hệ thống các
công trình giao thông, thủy lợi, điện,… trên địa bàn huyện.
+ Thực trạng phát triển các ngành: Giáo dục, đào tạo, y tế. Trình độ chất
lượng lao động, khả năng tiếp nhận chuyển giao khoa học và công nghệ mới,..
+ Nhóm thông tin về chính sách có liên quan đến bảo vệ và phát triển
rừng: Các tài liệu về chính sách được lấy từ các văn bản pháp quy do Nhà nước
ban hành, như: Hiến pháp, Luật, Chỉ thị, Nghị quyết, Thông tư, Quyết định…
- Nhóm thông tin về tình hình phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trên địa
bàn huyện: Đánh giá hiện trạng phát triển, tình hình quản lý à các định hướng
phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện.
- Hệ thống bản đồ hiện trạng, quy hoach tài nguyên rừng của huyện Như
Xuân.
2.4.3. Phương pháp thu thập số liệu:
2.4.3.1. Thu thập số liệu thứ cấp, kế thừa tài liệu :
- Thu thập các văn bản pháp luật, chính sách, chiến lược phát triển, thành
quả quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch 3 loại rừng, các Chương trình, Đề án, dự
án,.. của Trung ương, và tỉnh, huyện có liên quan đến hoạt động quy hoạch bảo
vệ và phát triển rừng.