Phát triển kinh tế trang trại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sĩ - Pdf 43

Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các
thầy giáo, cô giáo trong khoa Kinh tế - Học viện Báo chí và Tuyên
truyền. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo,
tiến sĩ Vũ Văn Yên. Cảm ơn thầy đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn
em trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện khóa
luận
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới UBND, Sở Nông nghiệp
và phát triển nông thôn, Sở thống kê tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ tôi
trong quá trình điều tra, thu nhập số liệu phục vụ cho việc hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp:
“Phát triển kinh tế trang trại theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay”.
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Phương Mai

1


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt

Nguyên nghĩa

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CNH, HĐH

nước trở thành một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Tháng 9 năm 1960, Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng đề ra chủ trương CNH xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc. Tháng 7 năm 1991, chủ trương này được mở rộng trên
phạm vi cả nước. Từ đây, Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta đồng tâm
hiệp lực thực hiện CNH, HĐH với một quyết tâm cao độ.
Mặc dù có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, nhưng nước ta vẫn là
một nước nông nghiệp truyền thống lạc hậu, kinh tế chậm phát triển.Việc
giải quyết những vấn đề trọng tâm trong nông nghiệp, nông thôn trở thành
điều tất yếu của quá trình CNH, HĐH ở nước ta. Nhận thức được vai trò đó,
trong suốt hơn 20 năm Đổi mới cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là mặt trận hàng đầu trong toàn bộ nội
dung của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Với sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, nông nghiệp nông
thôn nước ta đã có những đổi mới và phát triển vượt bậc, trước hết là ở sự
đổi mới về tư duy kinh tế nông nghiệp.
Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa 4 (tháng 1/1981)
với nội dung cải tiến và mở rộng công tác khoán sản phẩm đến nhóm và
người lao động trong HTX nông nghiệp đã bắt đầu khẳng định vai trò làm
chủ của hộ nông dân. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4/1988) một lần
nữa nhấn mạnh tính tự chủ của người nông dân trong phát triển kinh tế hộ
với quan điểm “ Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”. Thành tựu đạt được
của công cuộc Đổi mới (1986) đã thúc đẩy nông nghiệp nước ta có những
bước tiến đáng kể, nhiều hộ nông dân bắt đầu có tích lũy vốn. Đặc biệt, sự ra
1


đời của Luật đất đai năm 1993 đánh dấu hộ nông dân từ đây có quyền tự
chủ, sử dụng ruộng đất lâu dài và ổn định trên ruộng đất của mình; có thể
thừa kế, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp ruộng đất mình sở hữu. Những chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khuyến nông, tín dụng, quy

những giải pháp phù hợp giải quyết những vấn đề còn tồn tại? Làm thế nào
để người nông dân Nghệ An ngày càng gắn bó và tâm huyết với KTTT?
Làm thế nào để đưa KTTT ở Nghệ An trở thành một bộ phận không thể
thiếu của nông nghiệp tỉnh nhà? Mong muốn trả lời được những vấn đề trên,
tìm ra giải pháp đưa KTTT ở Nghệ An phát triển hơn nữa là lý do khiến tôi
suy nghĩ và mạnh dạn lựa chọn một đề tài cũ mà không cũ, đó là: “Phát triển
kinh tế trang trại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An
trong giai đoạn hiện nay” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Trên thế giới
KTTT đã xuất hiện từ lâu, trải qua hàng trăm năm tồn tại và phát triển.
KTTT là đối tượng được nhiều chuyên gia kinh tế, học giả nghiên cứu, được
in thành sách, trên các tạp chí, tài liệu khoa học, góp phần bổ sung vào hệ
thống lý luận về KTTT những nội dung quan trọng, có ý nghĩa trong thực
tiễn đời sống. Điển hình là các tác phẩm:
- FAO (1989), “Farming Systems Development”, Rome, nghiên cứu
về sự phát triển hệ thống của trang trại.
- New Letter West Bengal (9/1990), “Farming systems research and
extension”, Ấn Độ
- FAO (1990), “Ways forward for farming systems Approach is Asia
and the Pacific”, Rome đã nghiên cứu về sự xuất hiện và xu hướng phát triển
KTTT ở Châu Á – Thái Bình Dương…

3


Ngoài ra, có hàng loạt đề tài, tổng kết, báo cáo về KTTT ở từng địa
phương trong phạm vi vùng, khu vực, quốc gia cung cấp thông tin chính xác,
khoa học cho các nhà lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách quốc gia
làm căn cứ đưa ra chủ trương, chính sách kinh tế phù hợp thúc đẩy KTTT

KTTT ở Nghệ An thời gian tới.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ lý luận về KTTT và thực tiễn đặt ra trong quá trình
phát triển KTTT ở Nghệ An, khóa luận đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm
phát triển KTTT tương xứng với tiềm năng của tỉnh cũng như phù hợp với
định hướng CNH, HĐH mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu, khóa luận cần thực hiện những nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về KTTT
- Đánh giá tình hình phát triển KTTT theo hướng CNH, HĐH ở Nghệ
An trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp thúc đẩy sự phát triển KTTT theo
hướng CNH, HĐH ở Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy sự phát triển KTTT theo hướng CNH, HĐH ở Nghệ An làm
đối tượng nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Dưới góc độ kinh tế chính trị và quản lý kinh tế, đề tài nghiên cứu tình
hình phát triển KTTT theo hướng CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay ở
Nghệ An trên quy mô toàn tỉnh. Từ đó đặt ra phương hướng, mục tiêu, giải
pháp phát triển mô hình kinh tế này ở tỉnh Nghệ An
5


5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh làm phương pháp nghiên cứu của đề tài. Bên cạnh đó,
còn vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp nghiên cứu khác: lôgic kết hợp

thuê. CNH tác động mạnh mẽ đến nhiều ngành kinh tế khác nhau trong cơ
cấu kinh tế, đặc biệt là công nghiệp. Sự tác động đó đã khiến cho nhiều
người lầm tưởng rằng, để có thể trụ được trong nền kinh tế hàng hóa đang
diễn ra sôi động như vậy thì bản thân nông nghiệp cũng phải xây dựng như
công nghiệp theo hướng tập trung có quy mô lớn. Vì thế người ta đã có
nhiều biện pháp khác nhau để tích tụ, tập trung ruộng đất, xây dựng hàng
loạt xí nghiệp nông nghiệp tư bản. Đồng thời xóa bỏ hệ thống các trang trại
gia đình với hy vọng mô hình sản xuất nông nghiệp này sẽ cho hiệu quả cao
hơn nhiều lần so với mô hình trang trại gia đình cũ trước đó.
Thực tế, đối tượng của nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi khác với
công nghiệp. Đặc điểm này không phù hợp với hình thức sản xuất tập trung
quy mô lớn và sử dụng nhiều nhân công của ngành công nghiệp. C.Mác
cũng đã từng lầm tưởng vấn đề này. Mác nhận thấy một trong những con
đường tất yếu của ngành nông nghiệp trong quá trình CNH tư bản chủ nghĩa
là xây dựng xí nghiệp nông nghiệp theo hướng tập trung quy mô lớn. Sau
đó, bằng thực tiễn phát triển của ngành nông nghiệp, C.Mác khẳng định
quan điểm đó là sai. Với nền công nghiệp phát triển như Anh, hình thức sản
xuất nông nghiệp có lợi nhất lại là các trang trại gia đình không dùng lao
động làm thuê. Thực ra, chủ nghĩa tư bản cũng không thích thú đầu tư nông
nghiệp vì đó là ngành phụ thuộc vào thiên nhiên, kinh doanh nhiều rủi ro,

7


mà tỷ suất lợi nhuận và giá trị lao động thấp. Điều đó chứng tỏ trang trại gia
đình là mô hình kinh tế phù hợp với hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Cuối thế kỷ 20, mô hình sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp thế
giới vẫn là trang trại gia đình - có sức chống đỡ lớn trong các cuộc khủng
hoảng. Đến nay, KTTT vẫn được đánh giá cao và là lựa chọn đúng đắn của
nhiều gia đình muốn làm giàu từ nông nghiệp.

đánh dấu việc coi trọng sự phát triển KTTT. Chỉ thị về khoán sản phẩm đến
người lao động, giúp hộ gia đình chủ động sử dụng lao động và thu nhập
của mình để phát triển kinh tế. Đây là cơ sở cho sự phát triển KTTT ở nước
ta. Tháng 4/1988, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị nâng cao hơn nữa mức tự
chủ kinh doanh của xã viên trên cả ba mặt. Về TLSX, giao khoán ruộng đất
từ 15 năm trở lên, không hạn chế việc mua sắm TLSX khác. Các xã viên trở
thành chủ thể chính trong sản xuất nông nghiệp. Đảng và Nhà nước thừa
nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ tạo môi trường thể chế thuận lợi
cho kinh tế hộ tự do phát triển sản xuất, bình đẳng trong quan hệ kinh tế.
Ngày 14/7/1993, Luật đất đai được Quốc hội thông qua thực hiện giao
đất lâu dài cho nông dân, thừa nhận năm quyền sử dụng đất của nông dân.
Nghị quyết 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về KTTT đã
đưa ra nhiều nội dung phát triển KTTT lâu dài: khuyến khích phát triển và
bảo hộ KTTT; giao và cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ổn định, lâu dài theo pháp luật; khuyến khích phát triển KTTT sử dụng ít
đất, nhiều lao động, thâm canh gắn với chế biến và thương mại, dịch vụ…
Đảng và Nhà nước ta thấy được sự xuất hiện, tồn tại và phát triển tất
yếu của KTTT theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay.
KTTT ở nước ta có vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, khai
thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực góp phần phát triển nông nghiệp bền

9


vững, chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến
trình CNH nông nghiệp, nông thôn.
Quan điểm của Mác, Lê nin cũng như của Đảng và Nhà nước ta đã
chứng tỏ vị trí và xu thế phát triển của KTTT đối với sự phát triển nông
nghiệp của các quốc gia trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng.
Trên cơ sở những quan điểm đó, chúng ta có cái nhìn khách quan, khoa học

được sản lượng nông nghiệp tối đa trên một héc ta ruộng đất và năng suất
lao động được nâng lên mức cao hơn(…). Kinh tế nhiều ngành cũng thúc
đẩy việc sử dụng tốt hơn kỹ thuật, ruộng đất và tư liệu sản xuất của nông
trang tập thể (…). Kinh tế nhiều ngành đòi hỏi các nông trang tập thể tiến
hành chuyên môn hóa theo các ngành chủ đạo, các loại cây trồng và súc vật
nhằm lợi dụng được hết mọi điều kiện tự nhiên và kinh tế của từng nông
trang tập thể, cũng như các nguồn lao động và kinh nghiệm sản xuất của
từng nông trang”. [1, 259].
Ở nước ta cũng có nhiều khái niệm khác nhau về KTTT. Nhóm tác
giả Nguyễn Điền, Trần Đức, Trần Huy Năng: “Trang trại gia đình là loại
hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân, hình thành và phát
triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường từ khi phương thức sản xuất
tư bản thay thế cho phương thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ nhất ở các nước châu Âu” [2, 5]. GS.TS Nguyễn
Đình Hương, tập thể các cán bộ khoa học của trường Đại học Kinh tế quốc
dân: “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư
nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa. TLSX thuộc quyền sở
hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành
trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách
thức tổ chức và quản lý tiên tiến, trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và
luôn gắn với thị trường” [3, 19]. Khái niệm đã chỉ ra được KTTT là hình
11


thức tổ chức sản xuất cơ sở, trực tiếp tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của
xã hội, các khâu trong quá trình tái sản xuất của trang trại (sản xuất, phân
phối, trao đổi, tiêu dùng) và một số đặc điểm của trang trại (mục đích sản
xuất, TLSX, phương thức sản xuất).
Dưới góc độ xã hội, trang trại được coi là một tổ chức cơ sở xã hội,
trong đó các quan hệ xã hội đan xen nhau giữa các thành viên của trang trại,

kinh tế tiểu nông. Chủ trang trại sản xuất và bán tất cả, kể cả thóc giống.
Tiểu nông sản xuất và tự tiêu thụ sản phẩm làm ra, mua bán càng ít càng tốt.
Như vậy, đặc trưng cơ bản của KTTT là ở mục đích sản xuất. KTTT sản
xuất nông sản hàng hóa theo nhu cầu thị trường. Đặc trưng này chi phối các
đặc trưng khác của KTTT. Tính chất và trình độ sản xuất hàng hóa của
KTTT đã thu hẹp tính tự cấp tự túc của kinh tế hộ. Mục đích sản xuất hàng
hóa được đánh giá thông qua một số tiêu chí như tổng giá trị sản xuất hàng
hóa sản xuất trong năm, sản lượng nông sản hàng hóa sản xuất trong năm, tỷ
suất hàng hóa của trang trại,…
KTTT còn có một số đặc trưng khác như sau:
- Nhu cầu lao động của trang trại vượt quá khả năng về nguồn lao
động của hộ gia đình, làm xuất hiện tình trạng thuê mướn lao động. Thuê
mướn lao động gồm hai hình thức thuê thường xuyên và thuê thời vụ. Việc
lựa chọn hình thức nào là phụ thuộc vào qui mô và trình độ sản xuất của
trang trại.
- TLSX trong trang trại thuộc về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng
của một người chủ độc lập. Chủ trang trại hoàn toàn có quyền tự chủ quyết
định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. Sự hoàn toàn quyết
định đó không có nghĩa là phân lập, là tách biệt mối quan hệ liên kết mật
thiết với các HTX, các tổ chức nông nghiệp, các trang trại khác. Mối quan
hệ giữa các đối tượng này vẫn ngày càng được thiết lập chặt chẽ.
13


- Chủ trang trại là người trực tiếp sản xuất và quản lý, có ý chí và
năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất và những
hiểu biết nhất định về kinh doanh nông nghiệp. Đây là những tố chất cần
thiết để tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. Nó
không có ở những chủ nông hộ sản xuất tự cấp, tự túc. Những tố chất mà
chủ trang trại có được là kết quả của quá trình lao động nghiêm túc, những

của từng nước, từng vùng trong từng giai đoạn nhất định. Khóa luận này đề
cập đến bốn cách phân loại KTTT:
1.2.3.1 Phân loại theo cơ cấu sản xuất
Trang trại kinh doanh tổng hợp: sản xuất kinh doanh nhiều sản phẩm
kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp, nông
nghiệp với lâm nghiệp, phổ biến ở nhiều nước châu Á và Bắc Âu.
Trang trại sản xuất theo hướng chuyên môn hóa: sản xuất một loại sản
phẩm nhất định, như trang trại chăn nuôi bò sữa, chuyên trồng cây ăn quả,
trang trại chăn nuôi thủy sản,…và khá phổ biến ở các nước phát triển như
Mỹ, Ca-na-đa, Tây Âu,…
Trang trại chuyên sản xuất nông sản hoặc lâm sản làm nguyên liệu
cho công nghiệp chế biến: có khi còn kết hợp sản xuất với chế biến nông,
lâm sản ở trình độ sơ chế hoặc tinh chế
1.2.3.2 Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
Dựa theo hình thức sở hữu TLSX, trang trại được chia theo ba loại
hình. Chủ trang trại sở hữu toàn bộ TLSX: gồm đất đai, máy móc, chuồng
trại, kho bãi,…Đối với từng TLSX khác nhau, ở mỗi nước có một tỷ lệ sở
hữu khác nhau. Tỷ lệ sở hữu hoàn toàn ruộng đất của chủ trang trại ở Mỹ
năm 1982 là 59.0%, nhưng Thụy Điển lại chỉ có khoảng 30%.

15


Chủ trang trại sở hữu một phần TLSX, còn một phần đi thuê của
người khác. Có những trang trại, chủ sở hữu có đất đai nhưng phải thuê máy
móc, nhà xưởng,…để sản xuất
Chủ trang trại thuê toàn bộ TLSX: chủ sở hữu trang trại hoàn toàn
không có TLSX, phải thuê toàn bộ cơ sở của một trang trại nào đó để sản
xuất
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì vấn đề về sở hữu

nghiệp nông nghiệp lớn nhất ở Mỹ). Loại trang trại này chiếm từ 3 đến 5%
trong tổng số trang trại hiện nay, phổ biến nhất là ở Mỹ.
Cách phân loại thứ nhất là phổ biến ở nhiều nước, trong đó có Việt
Nam. Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển KTTT ở
nước ta, các nhà quản lý kinh tế, nhà nghiên cứu đã phân loại lại dựa vào
tính chất và qui mô sở hữu của trang trại. Theo đó, ở nước ta có ba loại hình
trang trại chủ yếu sau:
- Trang trại gia đình: sử dụng lao động gia đình là chủ yếu
- Trang trại tiểu chủ: sử dụng lao động thuê mướn là chính
- Trang trại tư nhân: sử dụng hoàn toàn lao động làm thuê.
Ở nước ta hiện nay, cần ưu tiên khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển
KTTT gia đình. Đó là con đường tất yếu, quan trọng nhằm đưa KTTT ở
nước ta tiến lên sản xuất hàng hóa, góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH
nông nghiệp nông thôn. Nghệ An là một tỉnh có KTTT khá phát triển. Trang
trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu, quy mô vừa và nhỏ. Quy hoạch
đất đai gặp khó khăn ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô trang trại. Các
chủ trang trại ở Nghệ An chủ yếu là nông dân tự vay vốn làm ăn, không có
hoặc ít người có trình độ quản lý, kiến thức hạn chế, thiếu kinh nghiệm,
không có những ý tưởng đầu tư táo bạo hướng vào phát triển KTTT mà chỉ
áp dụng mô hình quen thuộc là trang trại gia đình vừa đủ sức, ít nhiều có
17


kinh nghiệm. Sự quan tâm đến KTTT hiện nay ở Nghệ An là một việc làm
đúng đắn của lãnh đạo tỉnh, khẳng định con đường phát triển đúng đắn, hợp
lý của địa phương theo hướng CNH, HĐH
1.2.4 Tiêu chí nhận dạng
1.2.4.1 Về mặt định tính
KTTT phải là mô hình kinh tế sản xuất nông sản hàng hóa.
1.2.4.2 Về mặt định lượng

dẫn tiêu chí về xác định KTTT như sau:
- Các đối tượng và ngành sản xuất được xem xét xác định là KTTT
gồm hộ nông dân, công nhân viên Nhà nước, lực lượng vũ trang đã nghỉ
hưu, các hộ thành thị và cá nhân chuyên sản xuất hoặc sản xuất nông nghiệp
là chính, kiêm nhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn
- Các đặc trưng chủ yếu của KTTT: sản xuất nông sản hàng hoá với
quy mô lớn. Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các yếu tố sản xuất
cao hơn so với sản xuất nông hộ. Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm
trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng khoa học kỹ thuật; sử dụng lao
động gia đình và bên ngoài, hiệu quả cao, thu nhập vượt trội so với kinh tế
hộ.
- Tiêu chí định lượng xác định KTTT:
+ Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được
xác định là trang trại phải đạt cả hai tiêu chí định lượng: Giá trị sản lượng
hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải
miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên và từ 50 triệu đồng trở lên với các tỉnh
phía Nam và Tây Nguyên. Quy mô sản xuất tương đối lớn, vượt trội so với
kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
+ Đối với trang trại trồng trọt: Trang trại trồng cây hàng năm từ 2 ha
trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung, từ 3 ha trở lên
19


đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên. Trang trại trồng cây lâu năm từ 3
ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung, từ 5 ha trở lên
đối với ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên. Riêng trang trại trồng hồ tiêu từ
0,5 ha trở lên. Trang trại lâm nghiệp từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong
cả nước.
+ Đối với trang trại chăn nuôi: Chăn nuôi đại gia súc là sinh sản, lấy
sữa thường xuyên từ 10 con trở lên, lấy thịt thường xuyên từ 50 con trở lên.

càng có sức cạnh tranh trên trị trường trong nước, khu vực và thế giới
KTTT góp phần tạo nên những vùng chuyên môn hóa cao và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. KTTT thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ
sản xuất nông nghiệp. Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn tạo ra
nhiều vùng sản xuất nông lâm ngư nghiệp hàng hóa tập trung, tạo điều kiện
cho công nghiệp chế biến nông sản phát triển, đa dạng các ngành dịch vụ phi
nông nghiệp. KTTT sản xuất ra những nông sản có chất lượng, tạo nên
thương hiệu, thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường nông sản thế giới. Từ đó,
KTTT góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc dân
1.3.1.2 Về xã hội
KTTT đã góp phần làm tăng số hộ giàu trong nông thôn. Hiệu quả mà
KTTT đem lại làm tăng sự tin tưởng của người nông dân, trên cơ sở đó có
điều kiện thuận lợi huy động nguồn vốn dân cư xây dựng kết cấu tầng, đầu
tư mở rộng sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn.
KTTT có vai trò quan trọng trong giải quyết vấn đề lao động và việc
làm đang bức thiết hiện nay ở nước ta. Năm 2000, nước ta có khoảng
113.000 trang trại, giải quyết việc làm cho khoảng 30 vạn lao động, thuê
mướn 30 triệu ngày công lao động mỗi năm. Đây là động lực quan trọng góp
phần thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, làm giàu cho
gia đình và đất nước. Phát triển KTTT đem lại bài học cho các chủ trang trại
21


về cách thức tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh, phát huy quyền tự chủ,
tính sáng tạo, năng động, độc lập trong kinh doanh.
1.3.1.3 Về môi trường
KTTT khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn lực
TNTN. Quá trình đó có tác dụng tận dụng và sử dụng hiệu quả đất trống đồi
trọc, vùng đất hoang hóa,…Năm 2000, diện tích đất sử dụng của cả nước lên
đến con số 20-30 vạn ha. Phát triển KTTT góp phần quan trọng vào việc

thực sự trở thành nhân tố bao trùm và quyết định nhất của các nhân tố hợp
thành, qui định thành bại của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và nông
thôn
Với tư cách chủ thể trực tiếp thực hiện quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp và nông thôn, con người được xem xét ở đây phải đảm bảo những
yêu cầu toàn diện sau:
- Có nhận thức đúng đắn về vai trò và trách nhiệm với quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp và nông thôn
- Có tri thức và kỹ năng cần thiết tương xứng với yêu cầu áp dụng và
phát triển KHCN
- Xóa bỏ tư duy kiểu tiểu nông, có tư duy và phương pháp lao động
mới, gồm cả phương pháp tổ chức quá trình lao động và quá trình quản lý
đáp ứng yêu cầu phát triển theo hướng CNH, HĐH
- Có sức khỏe tốt, thích ứng với yêu cầu của sự phát triển
Ba là nhân tố thể chế:
Thể chế cần được xem xét đến như một mảng phạm trù rộng lớn, bao
gồm các luật lệ, chủ trương, chính sách, tổ chứ, quy chế, điều lệ, tập tục…
được qui định, qui ước thành văn bản để thực hiện phát triển kinh tế xã hội.
Thể chế phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là các hành vi tác động
qua lại giữa ba chủ thể: nhà nướ, dân cư và thị trường, trong đó nhà nước có
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status