Rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5A5 trường tiểu học Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
=====o0o=====

PHÓ THỊ MINH PHƢỢNG

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
CHO HỌC SINH LỚP 5A5 TRƢỜNG
TIỂU HỌC TÍCH SƠN, THÀNH PHỐ VĨNH YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Giáo viên Việt Nam luôn ghi nhớ lời Bác dạy. Để làm đƣợc điều đó thì
giáo viên luôn phải trau dồi kiến thức cho bản thân, tìm tòi, nghiên cứu, sáng
tạo. Là một giáo viên trong tƣơng lai bản thân tôi luôn mong muốn thực hiện
và hoàn thành tốt nhiệm vụ mà nhà trƣờng đã giao phó, cố gắng phấn đấu để
đƣợc lòng tin yêu của học sinh và đồng nghiệp. Đó là một quá trình rèn luyện
nghiêm túc, đặc biệt trong thời gian còn ngồi trên ghế nhà trƣờng, thời gian
dành cho việc học tập và nghiên cứu. Khi bắt tay vào nghiên cứu khóa luận
tốt nghiệp này tôi cũng gặp phải một số khó khăn, nhƣng đáp lại tôi cũng học
đƣợc rất nhiều kiến thức cơ bản. Đó cũng là cơ sở để tôi hoàn thiện một trong
những quá trình thực nghiệm giảng dạy sau này.
Hoàn thành đƣợc khóa luận về đề tài “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho
học sinh lớp 5A5 trường Tiểu học Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh

4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 5
8. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
CHƢƠNG1. CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỌC
DIỂN CẢM TRONG GIỜ TẬP ĐỌC Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC..................... 7
1.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................. 7
1.1.1.Vị trí của dạy đọc ở Tiểu học ................................................................... 7
1.1.2. Nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học ............................................................ 8
1.1.3. Quan điểm về đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật .............................. 9
1.1.3.1. Đọc diễn cảm........................................................................................ 9
1.1.3.2. Đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật ................................................ 10
1.1.3.3. Bản chất của việc đọc diễn cảm ......................................................... 11
1.1.4. Các cơ sở lý luận của đọc diễn cảm ...................................................... 13
1.1.4.1. Cơ sở giao tiếp của đọc diễn cảm ...................................................... 13
1.1.4.2. Cơ sở ngôn ngữ học của đọc diễn cảm .............................................. 15
1.1.4.3. Cơ sở sinh lí học và tâm lí học của đọc diễn cảm .............................. 21
1.1.3.4. Vai trò của đọc diễn cảm trong việc hình thành và phát triển nhân
cách cho học sinh Tiểu học ............................................................................. 23
1.1.3.5. Đọc diễn cảm là một nghệ thuật đọc văn trong nhà trƣờng Tiểu học.. 25


1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 26
1.2.1. Chƣơng trình Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 và phân môn Tập đọc .... 26
1.2.2. Thực trạng dạy và học tập đọc ở lớp 5A5 trƣờng Tiểu học Tích Sơn,
thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc............................................................. 28
CHƢƠNG 2.BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM CÁC VĂN
BẢN NGHỆ THUẬT CHO HỌC SINH LỚP 5A5 TRƢỜNG TIỂU HỌC

CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................... 71
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO. .............................................................................. 94


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Giáo dục là chìa khóa vàng cho mọi quốc gia, mọi dân tộc tiến tới
tƣơng lai. Chính vì vậy Đảng và nhà nƣớc ta rất quan tâm đến sự nghiệp giáo
dục của nƣớc nhà. Coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Ngày nay, tất cả các
quốc gia trên thế giới đều quan tâm tới giáo dục trong đó có giáo dục Tiểu học.
1.2. Tiểu học đƣợc xem là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc
hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con ngƣời, đặt nền tảng vững chắc
cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong chƣơng trình ở Tiểu học môn Tiếng việt có vị trí, ý nghĩa quan
trọng nhất là phân môn Tập đọc. Tập đọc hình thành cho học sinh kĩ năng
đọc. Mỗi con ngƣời khi sinh ra từ bé cho đến lớn đã“bập bẹ”, đã“ê a” và cho
đến khi cắp sách tới trƣờng nên việc đọc đã trở thành việc cấp thiết của mỗi
ngƣời đi học. Muốn đọc để học cho tốt, các em phải đọc nhƣ thế nào cho
đúng , cho hay và tạo đƣợc hứng thú cho ngƣời nghe. Đọc tạo ra hứng thú và
động cơ học tập, có tác dụng mạnh mẽ trong giáo dục mĩ cảm, giúp cho học
sinh biết yêu cái đẹp của xã hội và cái đẹp của văn chƣơng. Nhờ đọc mà các
em có thể bày tỏ ý kiến của mình từ đó giúp các em tự học và hiểu biết các
môn học khác. Đọc là cầu nối của mọi tri thức của mọi môn học. Bởi vậy, dạy
cho học sinh biết đọc, đọc đúng và đọc diễn cảm là việc làm cần thiết và có ý
nghĩa quan trọng.
1.3. Dạy đọc cho học sinh Tiểu học là một quá trình. Lớp 1 đến lớp 2
trang bị cho các em có thể biết đọc đúng hay nói cách khác là trang bị cho các
em kĩ năng đọc trơn, đọc thầm. Vấn đề đoc diễn cảm đặt ra đối với học sinh
lớp 4, 5. Giai đoạn này hình thành cho các em khả năng biểu lộ những cảm

Lê Phƣơng Nga NXB ĐHSP đã cho rằng:“Đọc diễn cả ở đây được hiểu là
đọc hay, là một yêu cầu đặt ra khi học những văn bản, văn chương hoặc các
yếu tố ngôn ngữ của văn chương”.

-2-


Đọc diễn cảm phản ánh cách hiểu bài văn bài thơ và việc hiểu là cơ sở
của việc đọc diễn cảm. Vì vậy, đọc diễn cảm trƣớc hết là xác định nội dung ý
nghĩa của bài đọc, sắc thái tình cảm, cảm xúc, giọng điệu nói chung của bài.
Trong cuốn “Phương pháp đọc diễn cảm” (2007) - Hà Nguyễn
KimGiang- NXB ĐHSP khẳng định: “Đọc diễn cảm, hoạt dộng đọc nói
chung là hoạt động lao động và sáng tạo. Đọc diễn cảm là một quá trình bao
gồm quá trình tiếp nhận văn bản viết và quá trình thông báo, truyền đạt
những văn bản viết thành văn bản đọc. Đó là quá trình tái tạo, chuyển đổi giá
trị nội dung, ý nghĩa nghê thuật của văn bản thành âm thanh, nhịp điệu, tốc
độ, sự ngừng nghỉ và sắc thái thẩm mĩ, sắc thái thẩm mĩ, cảm xúc thẩm mĩ và
thái độ thẩm mĩ của người đọc.”
Trên tạp chí“Văn học tuổi trẻ” số 9 (2006) NXB GD - Bộ GD và ĐT có
viết: “Muốn đọc diễn cảm một văn bản phải lựa chọn được giọng điệu, ngữ
điệu, phù hợp với tình huống miêu tả, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc
điểm của nhân vật hay tình cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật và nội
dung miêu tả”.
Việc nghiên cứu phƣơng pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học
sinh ở bậc Tiểu học không còn là vấn đề mới mẻ, nó đã đƣợc đề cập một cách
khách quan hay cụ thể hơn trên các bài báo, tạp chí, trong các công trình khoa
học và các cuốn sách nhƣ: “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh Tiểu
học”- Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Thị Thu Hƣơng; “Dạy học Tập đọc ở
Tiểu học” - Lê Phƣơng Nga; “Nghệ thuật đọc diễn cảm” - Vũ Nho; “Phƣơng
pháp dạy học Tiếng Việt” - Nguyễn Trí, Lê Phƣơng Nga; “Tìm vẻ đẹp bài văn

Đề tài nhằm tìm ra các biện pháp góp phần nâng cao chất lƣợng, hiệu
quả phân môn tập đọc nói chung và chất lƣợng đọc diễn cảm cho học sinh lớp
5 ở mức độ ban đầu (đọc diễn cảm một đoạn văn, khổ thơ). Học sinh đƣợc
thực hành luyện tập từng bƣớc để có thể đáp ứng nhu cầu ở các lớp cao hơn.

-4-


4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy đọc trong giờ tập đọc và
biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh tiểu học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Kĩ năng đọc diễn cảm của học sinh lớp 5A5
trƣờng Tiểu học Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Sƣu tầm tài liệu, tìm hiểu cơ sở lý luận của việc dạy Tập đọc và rèn kĩ
năng đọc diễn cảm.
Tìm hiểu thực trạng dạy đọc diễn cảm cho học sinh lớp ở lớp 5A5 truòng
Tiểu học Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp
5A5 trƣờng Tiểu học Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc,
Tổ chức dạy thử nghiệm một số giờ tập đọc.
6.Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận.
Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn.
 Phƣơng pháp phân tích, điều tra, khảo sát, quan sát.
 Phƣơng pháp thống kê, phân loại.
 Phƣơng pháp tổng hợp.
 Phƣơng pháp thực nghiệm.
7. Giả thuyết khoa học
Vấn đề rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh cho học sinh lớp 5

đọc, viết.“Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng
thức chữ sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc
thành tiếng) là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn
vị nghĩa không có âm thanh ứng với đọc thầm)”.
(M.R.Lơ vốp - Cẩm nang dạy học tiếng Nga)
* Ý nghĩa của việc đọc
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tƣ
tƣởng, tình cảm, của các thế hệ trƣớc và cả những ngƣời đƣơng thời phần lớn
đã đƣợc ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc con ngƣời không thể tiếp
thu nền văn minh của loài ngƣời.
Biết đọc con ngƣời đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây con
ngƣời có thể biết đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã
hội, tƣ duy.
Biết đọc con ngƣời có khả năng chế ngự một phƣơng tiện văn hóa cơ bản
giúp họ giao tiếp đƣợc với thế giới bên trong của ngƣời khác. Đặc biệt khi
đọc các tác phẩm văn chƣơng, con ngƣời không chỉ thức tỉnh nhận thức mà
còn rung động tình cảm, nảy nở những ƣớc mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực
hành động, sức mạnh sáng tạo cũng nhƣ đƣợc bồi dƣỡng tâm hồn. Không biết

-7-


đọc con ngƣời không có điều kiện hƣởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho
họ, không thể hình thành đƣợc một nhân cách toàn diện. Đặc biệt trong thời
đại bùng nổ công nghệ thông tin thì biết đọc ngày càng có vai trò quan trọng
vì nó sẽ giúp ngƣời ta sử dụng nguồn thông tin. Đọc chính là học, học nữa ,
học mãi, đọc để tự học, học cả đời. Vì những lẽ trên dạy đọc có ý nghĩa to lớn
ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với mỗi ngƣời đi
học, đọc giúp trẻ chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập.
Nó là công cụ để học các môn khác. Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập.

trong những con đƣờng đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ
và phát triển.
Vì đọc không thể tách rời những nội dung đƣợc đọc nên bên cạnh những
nhiệm vụ kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, tập đọc còn có nhiệm vụ sau:
+) Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho
học sinh.
+) Phát triển ngôn ngữ và tƣ duy cho học sinh.
+) Giáo dục tƣ tƣởng, tình cảm, đạo đức, thị hiếu thẩm mĩ của học sinh.
1.1.3. Quan điểm về đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật
1.1.3.1. Đọc diễn cảm
Đọc diễn cảm là một kĩ năng đƣợc đặt ra trong phân môn tập đọc đƣợc
đề cập từ bậc Tiểu học - THPT (lớp 4 - 12). Ở tiểu học đọc diễn cảm đƣợc đặt
ra với học sinh lớp 4, 5 khi học sinh đã có thể hiểu đƣợc nội dung của đoạn
văn mà mình học, hiểu đƣợc hàm ý trong câu, giá trị nghệ thuật của văn bản,
văn học và có sự liên hệ với thực tế cuộc sống.
Đọc diễn cảm là một quá trình, bao gồm quá trình tiếp nhận văn bản và
quá trình truyền đạt, thông báo những văn bản viết thành văn bản đọc. Đó là
quá trình tái tạo, chuyển đổi nội dung ý nghĩa nghệ thuật của văn bản thành
âm thanh, nhịp điệu, tốc độ, sự ngừng nghỉ và sắc thái thẩm mĩ, cảm xúc thẩm
mĩ và thái độ thẩm mĩ của ngƣời đọc. Ngoài ra, đọc diễn cảm còn bao gồm cả

-9-


quá trình hoạt động ngôn ngữ và văn học, quá trình tâm lí và sƣ phạm, quá
trình thông tin và giao tiếp. Tác giả Lê Phƣơng Nga - Đặng KimNga đã nêu
trong cuốn“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” cho rằng: “Đọc diễn
cảm ở đây được hiểu là đọc hay, là một yêu cầu đặt ra khi đọc những văn bản
văn chương hoặc các yếu tố ngôn ngữ văn chương”.Tác giả Hà Nguyễn Kim
Giang nêu trong cuốn Phương pháp đọc diễn cảm, cho rằng: “Đọc diễn cảm

sống của từng độc giả. Thông tin thẩm mĩ trong cấu trúc ngôn ngữ bao gồm
những từ đắt, những lời hay, những đoạn hấp dẫn vừa trong sáng vừa mới mẻ.
Có thể nói từ cấu trúc ngôn ngữ đến cấu trúc hình tƣợng thẩm mĩ là quá trình
chuyển biến “hóa sinh” từ nội dung hiện thực đến hình thức nghệ thuật, từ
cuộc sống thực đến sự sáng tạo ra một đời sống ảo để ngƣời đọc thể nghiệm
những giá trị nhân sinh.
Vì vậy ngay từ cấu trúc cụ thể trong ngôn ngữ tƣ tƣởng và định hƣớng
sáng tạo đã có mặt, góp phần quyết định giá trị đích thực của tác phẩm nghệ
thuật. Sự lĩnh hội tác phẩm văn chƣơng thông qua hoạt động đọc bao giờ cũng
xen lẫn vào đó thiên hƣớng chủ quan không thể loại trừ “cái tôi” của ngƣơi
đọc ra ngoài quá trình tiếp nhận. Cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm văn chƣơng là
cấu trúc mở, “là” kết cấu vẫy gọi, sự tham gia sáng tạo của mọi ngƣời. Vì
vậy, văn chƣơng là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, là một quá trình phát
hiện và khám phá nội dung ý nghĩa xã hội, con ngƣời, thời đại.
1.1.3.3. Bản chất của việc đọc diễn cảm
Cũng nhƣ việc đọc nói chung và việc đọc diễn cảm là hình thức biến chữ
viết văn bản thành hình thức âm thanh của tiếng nói, là làm cho ngƣời nghe
hiểu đƣợc ý nghĩa của ngƣời viết. Các nhà ngôn ngữ học đã đƣa ra định nghĩa
về đọc diễn cảm: “Đọc tức là biến hình thức chữ viết của văn bản thành hình
thức âm thanh của ngôn ngữ để làm cho người nghe hiểu được những điều
mà tác giả đã nói qua chữ viết”
Việc thực hiện thấu đáo yêu câu đọc trên là không hề đơn giản. Chữ viết
là phƣơng tiện ghi âm, dù hoàn thiện đến đâu chữ viết cũng chỉ ghi âm một

-11-


cách khái quát việc thông hiểu phải phụ thuộc vào ngƣời tiếp nhận nó. Vì vậy
khi muốn làm nổi bật một tác phẩm nào đó thì có rất nhiều cách thể hiện khác
nhau, phụ thuộc vào ngƣời trình bày nó. Vì thế, đọc diễn cảm cũng mang tính

Nếu nhƣ trong nghệ thuật đọc không khẳng định một “trƣờng phái” nào,
thì việc đọc diễn cảm lại càng không phải khẳng định nó. Chỉ có sự khác nhau
là đặc điểm riêng biệt của nhà trƣờng phổ thông đòi hỏi các phƣơng pháp đọc
cần phải đƣợc xem xét từ góc độ thích hợp đối với từng trƣờng hợp cụ thể, có
nghĩa là tính đến thể loại, khuynh hƣớng văn học, thế giới quan và tƣ tƣởng
của tác giả, mà còn từ góc độ sƣ phạm của những tác phẩm đó và sự dễ hiểu
của chúng đối với từng lứa tuổi học sinh.
Từ những điều trình bày trên ta có thể khái quát về đặc trƣng bản chất
của đọc diễn cảm nhƣ sau:
+) Đọc diễn cảm là lao động sáng tạo.
+) Là biểu diễn nghệ thuật đọc.
+) Truyền đạt mọi cái hay cho người nghe.
+) Phát huy màu sắc của tác phẩm.
+) Đó là một phương pháp khoa học và là một khoa học.
1.1.4. Các cơ sở lý luận của đọc diễn cảm
1.1.4.1. Cơ sở giao tiếp của đọc diễn cảm
Theo từ điển Tiếng Việt “diễn cảm có tác dụng biểu đạt tình cảm một
cách rõ nét, từ diễn đạt ở đây có chứa một ý nghĩa là diễn xuất là thể hiện ra
bên ngoài những cảm xúc”[15,tr.310].
Trong giao tiếp hàng ngày đòi hỏi phần lớn phải vận dụng ngôn ngữ nói
và những yếu tố phi ngôn ngữ nhƣ ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ... hay tỏ thái độ
đồng tình hoặc không đồng tình. Những xúc cảm đó chỉ nảy sinh trong tình
huống giao tiếp và mục đích giao tiếp. Nó bắt đầu từ ý đồ chủ quan của ngôn
ngữ giao tiếp.
Đọc diễn cảm cũng là hình thức giao tiếp nó nhằm tới đối tƣợng nghe
mình đọc. Nguồn xúc cảm trong đọc văn là nguồn xúc cảm thẩm mĩ phát sinh

-13-




1.1.4.2. Cơ sở ngôn ngữ học của đọc diễn cảm
a. Cơ sở về âm thanh
* Chính âm
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ và có hiệu lực về
mặt xã hội. Chính âm sẽ quyết định nội dung luyện phát âm ở tiểu học. Hiện nay
trong trƣờng tiểu học vẫn chƣa có có văn bản quyết định thành tiếng (luyện đọc
đúng, luyện đọc nhanh, đọc diễn cảm) ở tiểu học gặp nhiều khó khăn và lúng
túng trong xác định nội dung đọc đúng, đọc diễn cảm cho học sinh.
Để luyện phát âm đúng cho học sinh, trƣớc hết phải giải quyết vấn đề
phƣơng ngữ. Mục tiêu của chúng ta đặt ra là luyện cho học sinh đọc đúng,
hay trong phạm vi giao tiếp rộng hơn phƣơng ngữ hẹp của mình. Trong bốn
thập kỉ gần đây, giới Việt ngữ học có nhiều quan điểm khác nhau về chuẩn
mực ngữ âm. Tiếng việt, trong đó có ý kiến lấy phƣơng ngữ Bắc Bộ (tiêu biểu
là thủ đô Hà Nội) là cơ sở để xác định chuẩn mực ngữ âm. Đây là quan điểm
đƣợc nhiều ngƣời tán thành. Đó là cách phát âm lấy phƣơng ngữ Bắc Bộ (tiêu
biểu là thủ đô Hà Nội) bổ sung thêm ba phụ âm để quặt lƣỡi tr/s/v và hai vần
ươu, ưu. Đây là cách phát âm có sự khác biệt âm vị học tối đa của chữ viết để
khắc phục những âm đã mất đi học biến dạng của tiếng địa phƣơng.
Phát âm đúng chuẩn chữ viết sẽ mang lại nhiều lợi ích: Trƣớc hết nó giúp
cho học sinh viết đúng chính tả. Sau đó còn giúp học sinh phát âm dễ dàng hơn
khi học ngoại ngữ. Song chúng ta không nên đẩy tất cả các gánh nặng của
chính tả sang ngữ âm. Vì phát âm sai nên viết sai chính tả nhƣng điều đó không
có nghĩa là để viết đúng chỉ có cách luyện âm, mà phải khắc phục điều này
bằng cách dạy ý thức chính tả cho học sinh ngay từ đầu cấp học.
Thực ra không phải lúc nào cũng bắt học sinh phát âm theo đúng chuẩn
phát âm. Điều này không cần thiết, nếu làm nhƣ vậy sẽ gây khó khăn cho việc
trau dồi cách phát âm chuẩn mực trong nhà trƣờng. Vì vậy, để luyện phát âm

-15-


-16-


Ngắt ở từ “trong” nghĩa là trọng âm rơi vào từ “suối” “sẽ hiểu nghĩa câu
thơ này là nhấn mạnh độ trong của tiếng suối. Còn nếu ngắt hơi ở từ“như” thì
trọng âm của câu sẽ rơi vào từ “trong” nhấn mạnh sự so sánh “tiếng suối”
nhƣ “tiếng hát xa”.
Sự kết thúc mỗi ngữ đoạn bằng một trọng âm là căn cứ quan trọng để
xác định chỗ ngắt nghỉ trong câu văn, câu thơ, cũng nhƣ căn cứ để xác định
những chỗ cần ngắt giọng trong bài.
b. Ngữ điệu của lời nói khi đọc diễn cảm
Trong khi nói về nghệ thuật đọc, ngƣời ta thƣờng xác định rằng đó là
nghệ thuật của ngữ điệu. Sự tồn tại các ngữ điệu đa dạng khác nhau đã cho
phép ngƣời ta phân biệt lời nói diễn cảm và lời nói không diễn cảm.“Người
nói phải biết sử dụng thành thạo những phương tiện không có tính nhưng lại
rất quan trọng về mặt tâm lí để biểu hiện ý nghĩa”. Trƣớc hết đó là “ngữ
điệu”. Thế nào là ngữ điệu?
Theo từ điển Tiếng Việt: “Ngữ điệu là sự diễn biến của cao độ, cường
độ, tốc độ âm thanh của một ngữ đoạn lời nói, biểu thị một số ý nghĩa hình
thái bổ sung”
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc là sự lên
cao hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói. Theo nghĩa rộng, ngữ điệu là sự thống
nhất của một phƣơng tiện siêu đoạn có quan hệ tƣơng tác lẫn nhau sử dụng ở
bình diện nhƣ: cao độ (độ cao thấp của âm thanh), tốc độ (độ nhanh, chậm,
ngắt nghỉ), trƣờng độ (độ dài ngắn của âm thanh) và âm sắc. Những yếu tố
này không tồn tại cô lập mà không thống nhất thành một tổ hợp phản ánh
đúng thái độ, tình cảm, cảm xúc của tác giả, khi mô tả ngữ điệu. Ngữ điệu là
sự hòa đồng về âm hƣởng của bài đọc [tr. 20 theo 4 tr. 44]
Theo định nghĩa của các nhà tâm lí học thì ngữ điệu của lời nói bao gồm

là hình thức quan trọng để giao tiếp xã hội.
Mục đích rõ ràng của hoạt động lời nói đƣợc xác định bằng những cách
phân chia sự nhấn giọng trong câu, bởi tính đa dạng của ngữ điệu, bởi sắc thái

-18-


nhịp điệu của giọng trong câu, bởi tính đa dạng của ngữ điệu, bởi sắc thái
nhịp điệu của giọng, tức là bởi tất cả nhƣng phƣơng tiện bởi lời nói diễn cảm.
Ngoài ra trong khi trả lời và đọc thuộc lòng, học sinh thƣờng đọc máy móc
hoặc lúng túng. Thói quen này của học sinh cần đƣợc khắc phục.
Cần phải làm sao cho khi đọc bài văn, học sinh cần phải truyền đạt nội
dung đã đƣợc tiếp thụ một cách cụ thể (nhƣ tƣởng tƣợng, hình ảnh, sự đánh
giá và ý định của tác giả trong tác phẩm), làm cho khi đọc bài văn, học sinh
cần phải truyền đạt lại nội dung đã đƣợc tiếp thu một cách cụ thể, làm cho
ngƣời nghe có thể hiểu đƣợc những điều đã nói trong văn bản bằng những
hình ảnh cụ thể, nghĩa là làm cho ngƣời đọc giao tiếp với ngƣời nghe một
cách chân thực và có mục đích rõ ràng. Đây là một thủ thuật rất quan trọng,
có tính chất tích cực, một mặt nó nâng cao đƣợc tính linh hoạt và diễn cảm
của ngôn ngữ, mặt khác làm cho ngƣời nghe thêm chú ý và dễ ghi nhớ.
d. Tính hình tƣợng của ngôn ngữ
Tƣởng tƣợng là sự sáng tạo ra hình ảnh, một khái niệm, một tƣ tƣởng
mới, sau đó chúng lại đƣợc thể hiện bằng sự vật hoặc một hành động thực
tiễn. Trong đọc diễn cảm thì đó là sự sáng tạo hình tƣợng hay khái niệm đƣợc
thể hiện bằng lời nói. Không có tƣởng tƣợng thì không có sự sáng tạo nghệ
thuật nào. Cơ sở sinh lí học của tƣởng tƣợng là sự hình thành những tổ hợp
mới trên cơ sở những liên kết tạm thời đƣợc hình thành trong những kinh
nghiệm cũ. Vì vậy kinh nghiệm càng phong phú thì càng có nhiều khả năng
để tƣởng tƣợng. Tƣởng tƣợng khác với quá trình ghi nhớ bình thƣờng ở chỗ
hình ảnh thu nhận đƣợc nhờ những liên kết mới là hình ảnh chƣa có kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status