TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
NGUYỄN HUYỀN PHƯƠNG
RÈN LUYỆN MỘT SỐ
KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC BÀI “ TRÌNH BÀY
MỘT VẤN ĐỀ” (NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, ThS.
Dương Thị Mỹ Hằng - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để
tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới các thầy, cô giáo trong khoa
Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các bạn sinh viên trong nhóm khóa luận đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Huyền Phương
Trung học phổ thông
THPT
Phương pháp
PP
Sách giáo khoa
SGK
Câu hỏi
CH
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................6
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..............................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................7
6. Đóng góp của khóa luận ..........................................................................................7
7. Bố cục của khóa luận ..............................................................................................8
NỘI DUNG .................................................................................................................9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ....................................................9
1.1. Những vấn đề chung của rèn luyện kỹ năng ........................................................9
2.2.4. Rèn kỹ năng triển khai vấn đề .........................................................................40
2.2.5. Rèn kỹ năng kết thúc vấn đề ...........................................................................44
2.2.6. Rèn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong trình bày một vấn đề ................48
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .............................................................52
3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................................52
3.2. Đối tượng thực nghiệm ......................................................................................52
3.3. Ý nghĩa ...............................................................................................................53
3.4. Địa bàn thực nghiệm ..........................................................................................53
3.5. Thời gian thực nghiệm .......................................................................................53
3.6. Nội dung thực nghiệm ........................................................................................53
KẾT LUẬN ...............................................................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng mềm cực kỳ quan trọng
trong thế kỷ 21. Đó là một tập hợp những quy tắc, nghệ thuật, cách ứng xử, đối đáp
được đúc rút qua kinh nghiệm thực tế hằng ngày giúp mọi người giao tiếp hiệu quả
thuyết phục. Có thể nói kỹ năng giao tiếp đã được nâng lên thành nghệ thuật giao
tiếp bởi nó chứa rất nhiều kỹ năng nhỏ khác như kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu, sử
dụng ngôn ngữ cơ thể, sử dụng ngôn từ, kỹ năng mở đầu, triển khai hay kết thúc…
Để có được kỹ năng giao tiếp tốt đòi hỏi người sử dụng phải thực hành thường
xuyên, áp dụng vào mọi hoàn cảnh để nâng cao và cải thiện trình độ.
1.2. Trình bày một vấn đề là một kỹ năng giao tiếp quan trọng trong nhà
trường và trong cuộc sống hàng ngày. Đây là hoạt động đặc thù của con người, giúp
con người sinh sống, hoạt động, thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình.
Thông qua trình bày vấn đề, con người lĩnh hội được các kinh nghiệm lịch sử - xã
hội biến chúng thành kinh nghiệm của bản thân.. Trình bày một vấn đề có vai trò
động và vận dụng hợp lý quy trình rèn luyện kỹ năng.
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: Rèn luyện một số kỹ năng giao tiếp
cho học sinh trong dạy học bài “Trình bày một vấn đề” (Ngữ văn 10) với mong
muốn đóng góp vào công cuộc đổi mới PP dạy học , nâng cao chất lượng dạy học
Làm văn ở THPT.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Các tài liệu nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp
Bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống, của xã hội và quay trở lại phục vụ cuộc
sống xã hội, giao tiếp có vai trò to lớn đối với mỗi con người. Cũng bởi thế, các nhà
nghiên cứu đã dành nhiều sự quan tâm và nghiên cứu về kỹ năng này.
Các nhà khoa học khi nghiên cứu về giao tiếp đều khẳng định: Sự tồn
tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
những cộng đồng xã hội nhất định. Không ai có thể sống, hoạt động ngoài gia
đình, bạn bè, địa phương, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội. Trong quá trình
sống và hoạt động, giữa chúng ta và người khác luôn tồn tại nhiều mối quan hệ.
Đó có thể là quan hệ dòng họ, huyết thống như cha mẹ - con cái, ông bà – cháu
2
chắt; quan hệ hành chính – công việc như thủ trưởng – nhân viên, nhân viên –
nhân viên; quan hệ tâm lí như bạn bè, thiện cảm, ác cảm… Trong các mối quan
hệ đó thì chỉ có một số ít là có sẵn ngay từ khi chúng ta cất tiếng khóc chào đời
(chẳng hạn quan hệ huyết thống, họ hàng), còn đa số các mối quan hệ còn lại là
được hình thành và phát triển trong quá trình chúng ta sống và hoạt động trong
cộng đồng xã hội, thông qua các hình thức tiếp xúc, gặp gỡ, liên lạc đa dạng với
người khác mà chúng ta gọi là giao tiếp.
Vậy giao tiếp là gì? Trong cuốn Kỹ năng giao tiếp của nhóm tác giả Chu
Văn Đức đã đưa ra khái niệm về giao tiếp, đó là: Giao tiếp là hoạt động xác lập,
vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thỏa mãn những
của việc giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, thì bài viết còn đề cập đến một khía
cạnh quan trọng của giao tiếp đó là: các phương tiện cơ bản khi giao tiếp (phương
tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) và đặc biệt đó là việc đưa ra những
kỹ năng cơ bản và cần thiết khi giao tiếp, cụ thể như: Kỹ năng nói, kỹ năng viết, kỹ
năng lắng nghe, kỹ năng thuyết phục…
Như vậy, cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn về kỹ năng
giao tiếp. Đa phần các công trình nghiên cứu đó mới chỉ đề cập đến vai trò, vị trí,
chức năng và cách thức giao tiếp một cách chung chung mà chưa có sự vận dụng cụ
thể. Trong khi đó, trình bày một vấn đề lại không được tách ra thành một kỹ năng
cơ bản và riêng biệt mà nhiều lúc nó được đưa ra dưới dạng thức là những yêu cầu
gắn với thuyết trình, hùng biện.
2.2. Các tài liệu nghiên cứu về dạy học bài “Trình bày một vấn đề”
Với đề tài này, có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã bàn về chuyên đề
Rèn luyện một số kỹ năng trong dạy học bài “Trình bày một vấn đề”. Đa số các
nhà nghiên cứu đều đã chỉ ra thực trạng mà phần lớn học sinh đang gặp phải
trong việc trình bày một vấn đề, nhưng ít có nhà nghiên cứu nào đi vào sâu để
chỉ ra những hạn chế và đưa ra các giải pháp phù hợp. Vì vậy, vẫn còn một số
tồn tại, khó khăn mà các em học sinh vẫn còn mắc phải trong quá trình giao tiếp
cũng như trong việc hình thành cho bản thân kỹ năng khi trình bày một vấn đề.
Tác giả Trương Thúy Hà trong Tạp chí Giáo dục & thời đại đăng
ngày 9/9/2014 khi bàn về việc rèn kỹ năng nói trong dạy học Ngữ văn đã nêu ra
một thực trạng đó là: Năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh với tư cách là một
4
công cụ để tư duy, giao tiếp, công cụ để học tập vẫn còn nhiều bất cập. Trong phần
mở đầu, tác giả Trương Thúy Hà viết: “Hiện nay một bộ phận HS còn yếu cả kỹ
năng nghe, nói, đọc, viết. Các em rất ngại nói trong giờ học, có tâm lý ngượng
ngùng, dè dặt, sợ mình nói sai. Sự hạn chế về vốn sống, vốn hiểu biết và kinh
là những gợi dẫn để chúng tôi triển khai đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng đến các mục đích sau:
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích: đưa ra công cụ rèn luyện một số kỹ năng giao
tiếp trong dạy học bài: “Trình bày một vấn đề”(SGK Ngữ văn 10) để nâng cao chất
lượng dạy và học làm văn nói chung và dạy học kiểu bài rèn luyện kỹ năng nói cho
học sinh nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp những tri thức cơ bản về kỹ năng giao tiếp và cách thức rèn luyện
kỹ năng trình bày một vấn đề.
- Khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Nêu ra cách vận dụng những kiến thức để thực hành kỹ năng trình bày
trong giờ Trình bày một vấn đề.
- Bước đầu kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất được nêu ra.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung vào việc đưa ra một số giải pháp và phương án phù
hợp, tích cực trong việc Rèn luyện một số kỹ năng giao tiếp cho HS trong dạy học
bài “Trình bày một vấn đề” (Ngữ Văn 10) tại trường THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Gắn với nội dung đề tài, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu là bài “Trình
bày một vấn đề”, được dạy cho HS lớp 10 - THPT. Hạn định đưa ra một số kỹ năng
và hệ thống các bài tập để rèn luyện các kỹ năng như: Kỹ năng định hướng giao
tiếp; kỹ năng lập dàn ý; kỹ năng mở đầu; triển khai; kết thúc vấn đề và sử dụng
ngôn ngữ cơ thể.
6
6.2. Về thực tiễn
- Phát hiện được thực trạng nhận thức của học sinh về kỹ năng trình bày một
vấn đề.
- Phát hiện thực trạng vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức rèn
luyện kỹ năng trong bài “Trình bày một vấn đề”
- Thực nghiệm sư phạm chứng minh các biện pháp mà khoa luận đề xuất là
khả thi và áp dụng hiệu quả, có góp phần nâng cao chất lượng rèn luyện cho học
sinh.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung
của khóa luận được triển khai cụ thể thành 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
- Chương 2. Cách thức rèn luyện một số kỹ năng giao tiếp cho HS trong dạy
học bài “Trình bày một vấn đề”.
- Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
8
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Những vấn đề chung của rèn luyện kỹ năng
1.1.1. Khái niệm kỹ năng
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng. Những định nghĩa này
thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người
viết. Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành
khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kỹ năng học được do quá trình
lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn có
chủ đích và định hướng rõ ràng.
sau:
* Tăng cấp
Trong giai đoạn này ta phải tưởng tượng và thiết kế những động tác, thao tác,
cấu trúc chuẩn. Ngoài ra chúng ta cũng cần phải thiết kế các động tác, hoạt động hỗ
trợ để giúp cho việc tập luyện kỹ năng được hiệu quả. Nhờ có quá trình tổng hợp,
thiết kế nên một cấu trúc cơ bản, khi thực hiện bạn dễ dàng thực hiện nó tập trung
vào những hành động hiệu quả có ích cho việc hình thành kỹ năng cho công việc
đó, hạn chế thời gian hao phí bởi những hành động thừa mà không hiệu quả.
* Tập luyện
Sau khi chúng ta đã có một tập hợp các động tác, thao tác, cấu trúc chuẩn
được thiết kế vượt trội, việc tiếp theo đó là tập luyện. Tập luyện là đầu tư thời gian,
công sức cho công việc mới, cấp độ vừa được tăng lên. Tập luyện thì phải đảm bảo
độ chính xác các động tác, thao tác và cấu trúc cơ bản. Ngoài ra chúng ta cần phải
đảm bảo một điều nữa là tập luyện liên tục và đúng giờ.
* Tinh thông
Khi quá trình tập luyện đúng chuẩn và đủ về thời gian, tần suất thì các động
tác, thao tác, cấu trúc cơ bản trở thành các phản xạ cận bản năng. Nghĩa là các động
tác đó được thực hiện một cách tự nhiên mà không cần đến sự điều khiển của lý trí.
Mỗi khi gặp những tình huống cụ thể hoặc não bộ tiếp nhận những thông tin cụ thể
phù hợp thì các động tác, thao tác, cấu trúc cơ bản đó sẽ được tự động kích hoạt
10
phối hợp với nhau tạo thành kỹ năng thực hiện một tác vụ cụ thể. Điều đó gọi là
tinh thông.
Tinh thông nghĩa là làm không cần nghĩ, thành phản xạ tự nhiên. Hiểu bản
chất, phân tích và tập kỹ để nâng tầm lên một mức cao hơn hẳn người bình thường.
Để có được thông tuệ thì phải tập luyện một cách quyết liệt, nhuần nhuyễn. Tinh
thông là có thể làm việc một cách máy móc, tự động, không tư duy, không tính toán
đẩy” hợp lý để có được các kỹ năng xuất sắc vượt trội.
1.1.3. Cơ sở tâm lý học của việc rèn luyện kỹ năng
Xuất phát từ cấu trúc chung của mọi hoạt động trong triết học Mác - Lênin
với vai trò nổi bật của công cụ và tính chất gián tiếp của hoạt động đến đối tượng
thông qua công cụ, các nhà tâm lý học đã xây dựng nên nguyên tắc gián tiếp của
hoạt động tâm lý thông qua công cụ với nhận định : “Trong các quá trình tâm lý
con người, có thể tìm ra phần gián tiếp đóng vai trò công cụ tâm lý đặc thù”.
Từ đó phạm trù tâm lý chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống tâm lý học của
LX.Vuwgosky.
Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xác định cấu trúc của rèn luyện
kỹ năng, theo đó cấu trúc rèn luyện kỹ năng có thể được xem là mối quan hệ tác
động qua lại giữa ba thành tố “Cán bộ hướng dẫn - Rèn luyện kỹ năng - Học sinh”
diễn ra trong không gian trường THPT, với vai trò chủ thể của cán bộ hướng dẫn và
tính chất biến đổi của kỹ năng, môi trường học tập và học sinh thể hiện qua trình độ
và cách tiếp thu kiến thức.
Trong tâm lý học, kỹ năng được coi như một loại hoạt động. Hoạt động này
diễn ra trong mối quan hệ người - người nhằm mục đích thiết lập sự hiểu biết lẫn
nhau và làm thay đổi mối quan hệ lẫn nhau, nhằm tác động đến tri thức, tình cảm và
nhân cách, đó là sự tác động trực tiếp người - người diễn ra trong mối quan hệ đó.
Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Petrovxki: “Kỹ năng là giai đoạn nắm
vững cách hành động dựa trên quy tắc nào đó và hành động phù hợp với quy tắc ấy
trong quá trình giải quyết nhiệm vụ đã xác định”.
Tác giả A.V. Petrovxki cho rằng: “Kỹ năng là cách thức hành động dựa trên
cơ sở tổ hợp những tri thức và kỹ xảo. Kỹ năng được hình thành bằng con đường
luyện tập tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều
kiện quen thuộc mà ngay cả trong điều kiện thay đổi”.
12
13
Để hiểu rõ về khái niệm kỹ năng chúng ta cần phân biệt nó với khái niệm kỹ
xảo. Kỹ năng và kỹ xảo đều là cách thức của hành động, là thành phần không thể
thiếu của hành động, song giữa chúng có những khác biệt cơ bản như sau:
Bảng : So sánh giữa kỹ năng và kỹ xảo
Một số tiêu chí
Kỹ năng
Kỹ xảo
Độ linh hoạt, sáng tạo
Thấp, máy móc, khuôn mẫu
Cao
Sự tham gia của ý thức
Ý thức được giải phóng
Có sự tham gia của ý thức
Thời gian xuất hiện
Có trước
Có sau
của mình. Trước, trong và sau khi trình bày trong ý thức của người viết luôn diễn ra
quá trình suy nghĩ, đặt vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề. Đây chính là điều kiện
để họ tự hoàn thiện cả về nhận thức và hành động. Mặc khác đối tượng để người nói
14
trình bày thể hiện kỹ năng của mình khá là rộng rãi vì vậy muốn trình bày vấn đế
phải có sự chuẩn bị chu đáo từ cách suy nghĩ, sắp xếp từ ngữ, logic đến cách trình
bày ý tưởng, lập luận, dẫn chứng. Quá trình này giúp người nghe người nói nhận
thức và có những điều chỉnh hợp lý. Đây là con đường giáo dục hiệu quả nhất mà
ngành giáo dục đang tiến đến.
1.3. Kỹ năng giao tiếp
1.3.1. Khái niệm
- Kỹ năng giao tiếp: Là khả năng nhận biết nhanh chóng những biểu hiện bên
ngoài và diễn biến tâm lí bên trong, đồng thời biết sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn
ngữ, biết cách định hướng và điều khiển quá trình giao tiếp đạt được mục đích nhất
định.
1.3.2. Các kỹ năng giao tiếp
- Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng chủ đạo của
chiến lược dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông. Hiện nay các nước trên thế
giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp là một căn cứ để hình
thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực giao tiếp gồm bốn
kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết.
1.3.2.1. Kỹ năng nghe.
- Nghe là hoạt động tiếp nhận thông tin bằng thính giác. Nghe một cách có ý
nghĩa là nghe và hiểu được nó, phản hồi được một cách sáng tạo cái điều chúng ta
nghe thấy. Như vậy nghe không phải là hoạt động thụ động mà là một kỹ năng cần
sử dụng để nhận biết nội dung, mục đích, ý đồ của người nói. Có ba cách nghe khác
nhau: nghe chủ động, nghe thụ động, nghe với định kiến.
học, nghệ thuật,... của HS cũng sẽ tăng dần lên. Vốn từ vựng và ngữ pháp của các
em ngày một phong phú, vững vàng, có tác dụng tích cực cho việc rèn luyện tư duy,
rèn kỹ năng diễn đạt gọn gàng, trong sáng.
- Các dạng đọc: Đọc thầm, đọc thành tiếng, đọc đồng thanh và đọc diễn cảm…
- Các kỹ năng đọc cần rèn luyện:
+ Biết nắm bắt nhanh chóng tư tưởng cơ bản của một tác phẩm văn học nghệ
thuật.
+ Biết vận dụng các loại ngữ điệu vào việc đọc.
16
+ Biết sử dụng cường độ của giọng đọc một cách hợp lí.
+ Biết sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (tư thế, nét mặt, cử chỉ,…).
1.3.2.4. Kỹ năng viết.
- Viết là hoạt động tạo lập ngôn bản bằng chữ viết. Viết một cách có ý nghĩa là
viết để trao đổi những ý kiến, suy nghĩ, những nội dung thông tin nào đó.
Trước khi viết cần chú ý: Viết về chủ đề gì? Viết nhằm mục đích gì? Viết như
thế nào? Nên cho học sinh tập nói trước khi viết thành bài. Cần xây dựng dàn ý: Đặt
vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề. Cần giúp học sinh sử dụng được các
kiểu câu, các loại văn bản .
Như vậy, những kỹ năng này luôn đi cùng nhau và hỗ trợ cho nhau. Trong đó kỹ
năng nói liên quan chặt chẽ với kỹ năng nghe, đọc, viết. Muốn nói và viết tốt người
nói cần có kỹ năng tiếp nhận thông tin (nghe, đọc). Kỹ năng nói hiệu quả là khả
năng biểu đạt bằng lời nói, là một loại năng lực được thể hiện qua khẩu ngữ để
truyền đạt thông tin, biểu đạt tư tưởng, tình cảm một cách chính xác, sinh động, có
sức thuyết phục. Kỹ năng nói được quyết định bởi 3 yếu tố: sự phát âm, khả năng
diễn đạt và sự phát âm chính xác. Sự phát âm có các đặc trưng về: cao độ, trường
độ, cường độ. Khả năng diễn đạt liên quan đến cách phát âm và sự cố bất cẩn trong
khi nói cũng như điểm mạnh và yếu của tiếng địa phương. Phát âm chính xác liên
- Để bài nói đạt được hiệu quả như ý muốn, người trình bày nhất thiết phải chú ý
đến các yếu tố như: khẩu ngữ giao tiếp, âm thanh lời nói, cử chỉ, điệu bộ.
1.4.3. Tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề
Kỹ năng trình bày một vấn đề là một tập hợp những quy tắc, nghệ thuật, cách
bày tỏ quan điểm chứng kiến của mình về một vấn đề, đối đáp được đúc rút qua
kinh nghiệm thực tế hằng ngày. Có thể nói kỹ năng trình bày một vấn đề đã được
nâng lên thành nghệ thuật bởi trong bộ kỹ năng này có rất nhiều kỹ năng nhỏ khác
như kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể, kỹ năng sử
dụng ngôn từ, âm điệu… Để có được kỹ năng trình bày một vấn đề tốt đòi hỏi
người sử dụng phải thực hành thường xuyên, áp dụng vào mọi hoàn cảnh mới có thể
cải thiện tốt kỹ năng của mình.
Kỹ năng trình bày một vấn đề là một kỹ năng sống quan trọng nhất trong cuộc
đời mỗi người từ học sinh – sinh viên, người đi làm, chủ doanh nghiệp, bà nội trợ,
đến ông bà, cha mẹ, mọi đối tượng cần có kỹ năng khéo léo, ứng xử hiệu quả trong
18
các tình huống của cuộc sống, và xã hội. Khi trình bày một vấn đề với người nghe
cần ăn nói trung thực, thẳng thắn, thuyết phục, lịch sự và suy nghĩ trước khi
nói…Vì vậy tầm quan trọng của kỹ năng trình bày một vấn đề chính là chìa khóa
thành công và hạnh phúc. Chúng ta cần phải rèn luyện kỹ năng này nếu muốn đạt
được những kỹ năng cao hơn như: nói trước công chúng, dẫn chương trình hay diễn
thuyết.
Trình bày còn là yếu tố quan trọng trong giao tiếp ứng xử thuyết phục, hiệu
quả. Vì vậy, kỹ năng trình bày rất cần thiết cho mỗi cá nhân.
Kỹ năng trình bày một vấn đề được rèn luyện ở những cấp bậc cao hơn thì kỹ
năng hoàn toàn có thể nâng cao khả năng thuyết phục và tạo ra một sức hút mãnh
liệt với người nghe từ đó mang lại những kết quả tốt nhất cho công việc sự nghiệp
của mình.