Rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh giai đoạn đầu cấp tiểu học (LV00546) - Pdf 37

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH GIAI ĐOẠN ĐẦU
CẤP TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. VŨ THỊ SƠN

HÀ NỘI, 2011


2

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong suốt cuộc đời con người có rất nhiều nhu cầu cần được thỏa mãn.
Nhưng nhu cầu đầu tiên chính là nhu cầu về giao tiếp. C.Mác đã từng nói:
“Nhu cầu vĩ đại nhất, phong phú nhất của con người là nhu cầu tiếp xúc với
người khác. Nhu cầu này không ngang hàng với nhu cầu khác, sự phát triển
của nó trong một con người chính là một điều kiện làm cho con người trở
thành con người”. Như vậy, giao tiếp trở thành điều kiện tồn tại và phát triển
của con người, là nhân tố cơ bản và hùng mạnh của việc hình thành và phát

bắt đầu phải vận hành cùng một lúc nhiều mối quan hệ khác nhau, với các
tính chất khác nhau: quan hệ với thầy, cô giáo; quan hệ bạn bè cùng trang lứa;
quan hệ với anh chị em cùng trường… Nếu trước đây, quan hệ của trẻ đối với
người khác chủ yếu mang tính chất giao tiếp xúc cảm, thì giờ đây, trong các
mối quan hệ điển hình trên, giao tiếp công việc chiếm ưu thế. Như vậy, nhập
vào các mối quan hệ này, trẻ vừa phải đương đầu với những đòi hỏi mới của
cuộc sống, lại vừa có được các cơ hội để xã hội hóa các mối quan hệ của mình
và chiếm lĩnh các phương thức ứng xử phù hợp.
Nhận thức được tầm quan trọng của kĩ năng giao tiếp, từ lâu dạy học
trong nhà trường đã hướng tới mục đích giao tiếp và sử dụng phương pháp
giao tiếp. Nó là cơ sở của một trong bốn trụ cột giáo dục quan trọng đó là
“Học để cùng sống với nhau, học để sống với những người khác”. Từ những
đổi mới này đòi hỏi mọi thành viên phải hiểu biết lẫn nhau, phải trao đổi với
nhau một cách hòa bình. Tuy nhiên, hiện nay việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp
cho các em chưa thực sự được chú ý. Vấn đề giáo dục kĩ năng sống nói chung
và kĩ năng giao tiếp nói riêng vẫn chưa được chú trọng đúng mức trong chính
sách giáo dục ở Việt Nam. Dạy học vẫn chủ yếu đề cao việc truyền tải kiến
thức, chưa hướng vào làm nảy sinh những nhu cầu, những mong muốn rèn
luyện, chiếm lĩnh và phát triển kĩ năng giao tiếp thông qua môn học và các


4

hoạt động ngoài giờ lên lớp. Chương trình đã chú ý nhưng chưa nhiều đến
thực hành giao tiếp. Sự rèn luyện kĩ năng giao tiếp của học sinh còn thiếu
đồng bộ, toàn diện… Vì vậy, nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học
sinh tiểu học ngày càng cấp thiết và đòi hỏi sự đầu tư nhiều hơn vì những lợi
ích mà nó mang lại cho các em.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài : “Rèn luyện kĩ năng
giao tiếp cho học sinh giai đoạn đầu cấp Tiểu học” một mặt chuẩn bị cơ sở

năng giao tiếp trong nhà trường tiểu học hiện nay.
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Sử dụng các phiếu hỏi để khảo sát,
thăm dò ý kiến của giáo viên, học sinh.
- Phương pháp thống kê: Xử lí các số liệu đã được điều tra và làm căn cứ
khẳng định độ tin cậy kết quả nghiên cứu.
6. Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh
giai đoạn đầu cấp Tiểu học
Chương 2: Thực trạng rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh giai đoạn đầu
cấp Tiểu học
Chương 3: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh giai
đoạn đầu cấp Tiểu học
Kết luận và khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
7. Giả thuyết khoa học
Kĩ năng giao tiếp của học sinh giai đoạn đầu cấp tiểu học sẽ được phát
triển tốt nếu được rèn luyện một cách đồng bộ (cả về kiến thức, thái độ, kĩ
năng) và toàn diện (thông qua các môn học, hoạt động tập thể và các tình
huống có thật trong cuộc sống).


6

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
GIAO TIẾP CHO HỌC SINH GIAI ĐOẠN ĐẦU CẤP TIỂU HỌC
1.1. Giao tiếp
1.1.1. Khái niệm

động là hai phạm trù đồng đẳng nhau, chúng “khác nhau về chất”, nhưng
không đối lập nhau mà “gắn bó mật thiết với nhau”, “chúng chuyển tiếp và
chuyển hóa lẫn nhau từ mặt này sang mặt kia”1, “giao tiếp là hình thức độc
lập và đặc thù của tính tích cực của chủ thể”4. Trong hoạt động, điều cơ bản là
chủ thể tập trung vào đối tượng, tích cực tiến hành các hành động, thao tác
với công cụ tương ứng để cải biến, chiếm lĩnh đối tượng, đáp ứng mục đích,
động cơ của chủ thể. Theo đó, giao tiếp xảy ra chỉ là phương tiện hỗ trợ cho
quá trình hoạt động. Như vậy, trong cuộc sống, giao tiếp và hoạt động có mối
quan hệ khăng khít với nhau. Mối quan hệ này có thể diễn ra theo hai cách
sau đây: cách thứ nhất, giao tiếp diễn ra như là một điều kiện để tiến hành các
hoạt động khác; cách thứ hai, hoạt động là điều kiện để thực hiện mối quan hệ
giao tiếp giữa con người. Vì thế, hoạt động và giao tiếp là hai mặt không thể
thiếu của cuộc sống, của hoạt động cùng nhau giữa những con người với con
người trong thực tiễn.
Trong giáo dục học, Giáo sư Phạm Minh Hạc [26, tr.10] cho rằng “Giao
tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người – người, hiện thực
hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”. Ở đây, tác giả
trước hết nhấn mạnh các quan hệ giữa người với người được tạo lập, mở rộng
và phát triển thông qua hoạt động giao tiếp. Đồng thời nhấn mạnh đến tính
chủ thể trong giao tiếp. Tính chủ thể ở đây được dùng ở cả 2 khía cạnh: i) tính
1

B.Ph.Lomop (2000), Những vấn đề lí luận và phương pháp luận tâm lí học, Nxb ĐHQG HN, tr
382
4

B.Ph.Lomop (2000), Sđd, tr 383


8

1.1.2. Các phương tiện giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình tương tác xã hội bao gồm các biểu hiện rất đa
dạng và phong phú, có thể thực hiện qua ngôn ngữ nói và viết, qua nét mặt,
cử chỉ, tư thế, giọng nói, trang phục, cách sử dụng không quan giao tiếp….
Các phương tiện giao tiếp được nhiều ngành khoa học và nhiều tác giả quan
tâm. Song hầu hết các nhà nghiên cứu như Hoàng Anh, Nguyễn Thanh Bình,
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa… thống nhất giao tiếp được thực hiện
bằng ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ.
Phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ:
Định nghĩa đã nêu rõ ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc thù của con
người. Tính đặc thù này không chỉ đơn thuần chỉ ra ngôn ngữ là phương tiện
giao tiếp mà là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và là phương tiện đặc
trưng của con người.
Nói như V.Lenin “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
của con người”. Bằng ngôn ngữ con người có thể truyền đi bất kì một loại
thông tin nào giữa các thế hệ với nhau và trong cùng một thế hệ để tạo thành
một cộng đồng, một xã hội. Ngoài ra, chính nhờ có ngôn ngữ mà con người
có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động, diễn đạt chính xác, rõ
ràng các tư tưởng tình cảm. Thêm vào đó các tác giả như Mai Ngọc Chừ, Vũ
Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt) còn cho
rằng trong xã hội loài người, phần lớn nhất và trọng yếu nhất của thông tin
được tàng trữ và lưu hành nhờ ngôn ngữ. Trên góc độ lịch sử và toàn diện mà
xét, không một phương tiện giao tiếp nào có thể sánh được với ngôn ngữ. Cho
dù ngôn ngữ có bị những hạn chế về không gian và thời gian, cho dù ngoài
ngôn ngữ con người còn dùng những phương tiện giao tiếp khác nữa nhưng ở
vị trí trên hết và trước hết, vẫn phải là ngôn ngữ. Bất kể cuộc giao tiếp nào mà
muốn tiến hành được cũng phải dựa vào một ngôn ngữ cụ thể, cũng sử dụng


10

11

trò chuyện, một người Phần Lan chỉ sử dụng điệu bộ có một lần, trong khi đó
người Italia dùng đến 80 lần, người Pháp 120 lần và người Mexico 180 lần.
Về vai trò của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ, Birdwhistell đã quan sát
và nhận thấy rằng trong một cuộc trò chuyện trực diện thì yếu tố lời nói chiếm
chưa đến 35% còn trên 65% là giao tiếp không lời. Từ những số liệu đó chúng
ta thấy được mức độ sử dụng, sự ảnh hưởng và hiệu quả của các phương tiện
phi ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp là không nhỏ. Hơn nữa, nếu như ngôn
ngữ gắn liền với ý thức và được sử dụng một cách có chủ định của ý thức thì
các yếu tố phi ngôn ngữ ít hoặc không gắn liền với ý thức, nó có thể được
biểu lộ một cách tự động, máy móc trong quá trình giao tiếp. Vì vậy, giao tiếp
phi ngôn ngữ thường được cho rằng là thật hơn và có giá trị giao tiếp cao.
Nghiên cứu về phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ các tác giả phân chia theo
hệ thống: giao tiếp qua nét mặt; điệu bộ, cử chỉ; khoảng cách và không gian
giao tiếp.
- Giao tiếp qua nét mặt: Nhiều người cho rằng giao tiếp có thể được thực
hiện thông qua nét mặt. Sự phối hợp vận động của các cơ, các giác quan, các
bộ phận trên mặt tạo thành nhiều bộ mặt mang trạng thái cảm xúc khác nhau.
Theo bộ ảnh chuẩn của E.I.Zard thì nét mặt của con người biểu lộ 6 cảm xúc:
vui mừng, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi, ghê tởm. Trong nét mặt có hai
thành phần nổi bật là ánh mắt và nụ cười. Kết quả nghiên cứu của các nhà
khoa học thừa nhận rằng trong số các giác quan của con người, đôi mắt có thể
chuyền tải lượng thông tin nhiều nhất (trên 80%) và bộc lộ rõ nhất cảm xúc
của con người. Những khái niệm như thông hiểu, ngầm bảo, cảm thông đều
thể hiện qua sự truyền cảm của đôi mắt. Mặt khác, nụ cười trong giao tiếp
cũng thể hiện tình cảm, thái độ của con người. Nụ cười khiến cho giao tiếp trở
nên tinh tế và ý nhị hơn.



1.1.3. Các nguyên tắc giao tiếp
Trong giao tiếp, con người muốn đạt kết quả thì ngoài việc hiểu mục
đích, nội dung, phương pháp, cấu trúc, phương tiện…giao tiếp, mỗi cá nhân
rất cần nắm được các nguyên tắc giao tiếp cơ bản.
Tác giả Vũ Dũng cho rằng: “Nguyên tắc giao tiếp là những yêu cầu mang tính
chỉ đạo, định hướng cho hành vi, ứng xử, thái độ trong quá trình trao đổi, tiếp
xúc của các chủ thể giao tiếp nhằm đảm bảo hiệu quả của quá trình giao tiếp
đó” [1, tr.71].
Khi bàn về vấn đề này, các tác giả Hoàng Anh, Nguyễn Thanh Bình,
Nguyễn Văn Lũy, Trần Thị Tuyết Hoa [24, tr.11] cho rằng: “ Nguyên tắc giao
tiếp là hệ thống những quan điểm chỉ đạo, định hướng thái độ và hành vi ứng
xử, đồng thời chỉ đạo việc lựa chọn các phương pháp, phương tiện giao tiếp
của cá nhân”.
Như vậy, về cơ bản, các tác giả đều thống nhất nguyên tắc giao tiếp
thuộc về tầng tư tưởng, phương pháp luận mang tính chỉ đạo cho lĩnh vực
giao tiếp. Cụ thể, chúng chỉ đạo, định hướng tới thái độ, hành vi ứng xử cá
nhân; quy định việc lựa chọn các phương pháp và phương tiện giao tiếp.
Đồng thời các tác giả cũng cho rằng sự tiếp thu các nguyên tắc giao tiếp diễn
ra một cách tự phát thông qua sự nhận thức lí luận, sự trải nghiệm và rèn
luyện của bản thân mỗi người. Tuy nhiên, giao tiếp có được phải có sự tồn tại
và cùng tham gia của tất cả các chủ thể giao tiếp, cùng chịu trách nhiệm thực
hiện mục đích giao tiếp. Do đó nguyên tắc giao tiếp mang tính chất tương đối
ổn định và bền vững trong xã hội. Theo các tác giả này, để giao tiếp đạt hiệu
quả, con người cần nắm được những nguyên tắc sau:
Tôn trọng nhân cách của đối tượng giao tiếp
Trong quan hệ xã hội ai cũng có nhu cầu được người khác tôn trọng. Vì
vậy trong giao tiếp cần phải tôn trọng phẩm giá, tâm tư, nguyện vọng và tính


14

15

- Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp còn thể hiện qua hành vi giao
tiếp có văn hóa
Giao tiếp bất luận trong trường hợp nào cũng không được dùng ngôn
ngữ có tính miệt thị, xỉ vả, xúc phạm nhân cách của nhau, nhất là ở những chỗ
đông người, nơi công cộng. Ngoài ra, các cử chỉ, động tác… trong giao tiếp
cần phải phù hợp với phong tục, truyền thống văn hóa địa phương, dân tộc
của đối tượng giao tiếp.
- Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp còn được thể hiện ở trang
phục, đầu tóc gọn gàng, sạch sẽ, đúng kiểu cách.
Trong các điều kiện giao tiếp khác nhau, người ta có thể có trang phục,
kiểu cách khác nhau. Song ăn mặc lôi thôi, luộm thuộm, bẩn thỉu, nhàu
nát…đều là biểu hiện thiếu tôn trọng đối tượng giao tiếp và cũng chính là
thiếu tôn trọng nhân cách bản thân.
Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp là nguyên tắc cơ bản đòi hỏi
mỗi người phải tuân thủ trong quá trình giao tiếp mới có thể gặt hái thành
công trong quan hệ xã hội.
Có thiện ý trong giao tiếp
Thiện ý trong giao tiếp là luôn mong muốn đem lại điều tốt đẹp cho
người mà mình giao tiếp. Thiện ý được hiểu như cái “tâm”, “tính thiện”,
“lòng nhân hậu”… của con người.
- Thiện ý thể hiện trước hết ở sự tin tưởng đối tượng giao tiếp. Trong
giao tiếp chúng ta nên hi vọng và tin tưởng vào những mặt tốt, ưu điểm của
đối tượng giao tiếp. Điều này có tác dụng khích lệ họ cố gắng để xứng đáng
với lòng tin mà ta gửi gắm họ, nhờ vậy họ sẽ cố gắng vươn tới sự hoàn thiện
hơn, tốt đẹp hơn.
- Một biểu hiện khác của thiện ý trong giao tiếp là chân thành và công
bằng trong nhận xét đánh giá về nội dung vấn đề mà đối tượng giao tiếp đang




17

sẽ đưa ra lời trao còn người nghe sẽ đưa ra lời đáp. Sau đó người nói trở thành
người nghe. Nghe xong họ đưa ra lời trao. Giao tiếp cứ thế tiếp diễn. Như vậy
luôn có sự đổi vai trong một cuộc giao tiếp.
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật tham gia giao tiếp biểu hiện ở
các phạm vi: vị thế xã hội, vị thế giao tiếp và quan hệ thân cận.
+ Vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp phụ thuộc vào chức
quyền, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội, địa vị trong gia đình… của họ. Các
yếu tố này thường tác động trực tiếp đến cuộc giao tiếp. Tuy nhiên, ở mỗi
cuộc giao tiếp, các yếu tố này tác động đậm nhạt, mạnh yếu khác nhau. Điều
đáng chú ý là các yếu tố thể hiện vị thế xã hội của người tham gia thường cố
định, ít thay đổi trong suốt cuộc giao tiếp.2
+ Quan hệ thân cận là quan hệ thiên về tình cảm giữa những người tham
gia giao tiếp. Quan hệ thân cận biểu hiện trên các mức độ: thân hay sơ, nồng
nàn thắm thiết hay lạnh nhạt, quý mến hay xa lạ… Mối quan hệ này có thể
biến đổi trong và sau cuộc giao tiếp.
+ Những người tham gia giao tiếp còn bị chi phối bởi vị thế giao tiếp.
Trong một cuộc giao tiếp bao giờ cũng có ở vị thế mạnh, người ở vị thế yếu.
Người ở vị thế giao tiếp mạnh sẽ chi phối một cách tự giác hoặc ngẫu nhiên,
có chủ đích hoặc không có chủ đích cuộc giao tiếp. Ngược lại, người ở vị thế
giao tiếp yếu sẽ bị chi phối, bị lôi theo các nội dung do người ở vị thế giao
tiếp mạnh nêu ra.
- Hiện thực được nói tới: Đây là nhân tố nội dung giao tiếp. Bao gồm
toàn bộ thế giới tự nhiên và xã hội và các biểu hiện tâm lí của con người. Nó
tạo thành đề tài và nội dung của hoạt động giao tiếp, trả lời cho câu hỏi: Nói
cái gì? Về cái gì?
2

hay hoạt động.
Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như Ph.N.Gônôbôlin,
V.A.Krutretxki, A.G.Covalov, Trần Trọng Thủy…


19

Theo V.A.Krutretxki [2, tr. 96] “Kĩ năng là phương thức thực hiện hoạt
động – cái mà con người lĩnh hội được”. V.A.Krutretxki không đề cập đến
kết quả của hành động. Tác giả cho rằng chỉ cần nắm vững cách thức thực
hiện hành động, nắm vững các tri thức về hành động và thực hiện được nó
trong thực tiễn là đã có kĩ năng hành động.
A.G.Covalov cũng đồng quan điểm trên và nhấn mạnh “kĩ năng là
phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của
hành động” mà không đề cập đến kết quả của hành động. Theo tác giả, kết
quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là
năng lực con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động
thì đem lại kết quả tương ứng.
Quan niệm thứ hai: coi kĩ năng không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành
động mà nó còn là một biểu hiện về năng lực của con người. Đại diện cho
quan niệm này có các tác giả như N.Đ.Lêvitov, K.K.Platonov, Nguyễn Quang
Uẩn, Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh…
N.Đ.Lêvitov cho rằng, kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác
nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những
cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định. Người có kĩ năng
hành động trước hết phải có tri thức hành động. Sau đó, vận dụng đúng đắn,
có kết quả trong thực tiễn. Sau nữa, kĩ năng phải tính đến sự ổn định, bền
vững, mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo trong bất kì điều kiện và thời gian nào.
Theo K.K.Platonov thì người có kĩ năng không chỉ hành động có kết quả
trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong

Từ những kết quả ở trên có thể hiểu kĩ năng giao tiếp (KNGT) là những
thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi, ngôn ngữ được chủ thể giao tiếp phối hợp
hài hòa, hợp lí nhằm đảm bảo kết quả cao trong quá trình giao tiếp của con
người.


21

Theo nhiều nhà nghiên cứu, KNGT thực chất là sự phối hợp phức tạp
giữa những chuẩn mực hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ
mắt, ánh mắt, nụ cười (vận động môi, miệng), tư thế đầu, cổ, vai, tay, chân,
đồng thời với ngôn ngữ nói, viết của chủ thể giao tiếp. Sự phối hợp hài hòa,
hợp lí giữa các vận động mang một nội dung tâm lí nhất định, phù hợp với
mục đích, ngôn ngữ và nhiệm vụ giao tiếp cần đạt được của chủ thể giao tiếp.
1.2.2. Con đường hình thành kĩ năng giao tiếp
Theo Nguyễn Văn Lũy, Trần Thị Tuyết Hoa [24] quá trình biến trẻ em từ
một thực thể tự nhiên thành một con người xã hội, quá trình hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ được thực hiện qua giao tiếp. Giao tiếp vừa là
điều kiện vừa phương thức hình thành nhân cách. Do đó, tác giả cho rằng kĩ
năng giao tiếp được thực hiện bằng 2 con đường:
- Con đường tự phát (chủ yếu là bắt chước): Con đường tự phát là sự
tiếp nhận một cách tự nhiên các chuẩn mực hành vi xã hội trong giao tiếp.
Trên cơ sở nền tảng những thành tựu con người đạt được mà sự bắt chước
hành vi ra đời. Tác giả đưa ra ví dụ trẻ mẫu giáo đã có thể sử dụng những câu
nói đơn giản để giao tiếp với cha mẹ, người lớn, cô giáo và bạn bè xung
quanh để thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản. Trẻ đã có khả năng làm chủ một số
hành vi ngôn ngữ, hành vi chân tay, biết tự mình làm một số việc theo sự chỉ
dẫn của người lớn. Trên cơ sở đó, trẻ bắt chước các hành vi giống các hành vi
của người lớn trong giao tiếp.
Bắt chước là sự tập nhiễm (thấm vào, nhiễm vào rồi dần dần trở thành

Nói về vai trò của kĩ năng lắng nghe tiến sĩ Joyce Brothers cho rằng
“lắng nghe, chứ không phải bắt chước, là biểu hiện chân thành nhất của sự
ủng hộ hay khen ngợi”. Lắng nghe không phải là bản năng mà là nghệ thuật,
là kĩ năng cần phải rèn luyện lâu dài.
- Trong hoạt động giao tiếp nghe, nói là những hoạt động cơ bản trong
việc giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người. Hiệu quả của việc giao tiếp –


23

người nói/viết có diễn đạt đúng ý của mình hay không và người nghe/đọc có
hiểu chính xác, đầy đủ nội dung thông báo của người nói hay không – tùy
thuộc vào mức độ thuần thục của bốn hoạt động nghe, nói, đọc, viết. Đó là
những hoạt động không thể thiếu trong hoạt động giao tiếp. Nếu chúng ta chỉ
biết nói mà không biết nghe, chỉ biết đọc mà không biết viết thì việc giao tiếp
không thể đạt được như mong muốn, khó có thể hiểu hết ý định của người
khác. Bởi vậy, bên cạnh việc rèn luyện kĩ năng nói, chúng ta cần phải rèn
luyện kĩ năng nghe. Luyện nghe chính là luyện một loại hoạt động của con
người, luyện hoạt động giao tiếp.
Trong giao tiếp, nghe tạo thành cơ chế của việc nhận tin, nói tạo thành
cơ chế của việc phát tin. Trong khi nghe, tín hiệu vật chất tác động đến người
nghe là những sóng âm thanh. Khi phát tin, người nói chuyển nội dung thông
báo vốn trừu tượng, tồn tạo trong óc của mình thành những tín hiệu âm thanh
ngôn ngữ để truyền tới người nghe. Khi nhận tin, người nghe tìm cách luận
giải tín hiệu ngôn ngữ dưới dạng các chuỗi âm thanh để khôi phục lại nội
dung thông báo người nói đã truyền đi. Không luận giải được nhanh chóng,
chính xác và đầy đủ các tín hiệu đã truyền đi trong các quá trình này, người
nghe sẽ bị hạn chế rất nhiều trong việc thu nhận thông báo. Vì vậy, rèn luyện
kĩ năng lắng nghe chính là rèn luyện kĩ năng phân tích, luận giải văn bản ở
dạng nói. Đây là kĩ năng không thể thiếu trong hoạt động giao tiếp.

hưởng lớn tới chất lượng của việc nghe. Kiến thức ở người nghe càng rộng,
càng sâu thì việc nghe càng đạt được hiệu quả mong muốn.
Cần có trí nhớ tốt: Trí nhớ tốt đó là kết quả của việc rèn luyện trí tuệ
thường xuyên. Trí nhớ giúp cho người nghe nắm bắt nhanh chóng, dễ dàng
các sự kiện, hiện tượng, vấn đề được người nói trình bày. Từ việc lưu giữ
được nội dung nói, người nghe có thể xâu chuỗi, lý giải một cách chính xác
vấn đề và rút ra được những điều cần thiết, phù hợp với mục đích của mình.


25

Sức khỏe và hoàn cảnh (như thời gian, không gian, tiếng ồn…) cũng có
ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng nghe. Âm thanh phù hợp giúp cho người
nghe luận giải nội dung rõ ràng hơn, đỡ tốn sức lực hơn. Âm thanh bị nhiễu
làm cho người nghe mệt mỏi và làm giảm đi một cách rõ rệt hiệu quả của việc
nghe.
* Cách nghe:
Đối với mỗi đề tài, mỗi loại bài nói đều cần có cách nghe riêng. Chẳng
hạn, với những bài giảng khoa học, nội dung chính cần nắm là những luận
điểm và mối quan hệ giữa các luận điểm đó. Với những câu chuyện, nội dung
cần nắm lại là những tình tiết, những diễn biến, xung đột. Còn với những tin
tức thời sự thì đó lại là những biến cố, những sự kiện diễn ra trong không gian
và thời gian…Chính vì vậy, với mỗi loại đề tài, loại bài nói phải có cách nghe
phù hợp mới có thể nắm được những vấn đề cốt lõi nhất, quan trọng nhất,
không bị sa vào những chi tiết phụ.
Điểm quan trọng khi nghe để nắm vững nội dung bài nói không phải chỉ
ở những luận điểm, sự kiện, tình tiết… mà còn là việc nắm cho được cách dẫn
dắt, cách lập trình, trình bày vấn đề của người nói. Điều này cho phép người
nghe hiểu chính xác logic của các sự kiện, mối quan hệ khăng khít giữa các
luận điểm và từ đó lại càng hiểu đầy đủ hơn bản chất của các luận điểm và sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status