Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh trong dạy học bài Ngữ cảnh (Ngữ văn 11) - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

---------***---------

TRẦN VĂN GIÁP

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI “NGỮ CẢNH”
(NGỮ VĂN 11)

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI – 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

---------***---------

TRẦN VĂN GIÁP

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI “NGỮ CẢNH”
(NGỮ VĂN 11)
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học:



Trần Văn Giáp


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

SỐ THỨ TỰ

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CHỮ VIẾT TẮT

1

Học sinh

HS

2

Giáo viên

GV

3

Kỹ năng giao tiếp

KNGT


5.1. Phương pháp tổng hợp các vấn đề lí thuyết ................................... 5
5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu ..................................................... 6
5.3. Phương pháp thử nghiệm ................................................................ 6
5.4. Phương pháp thống kê ..................................................................... 6
6. Bố cục của khoá luận ............................................................................. 6
NỘI DUNG ...................................................................................................... 7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ............................. 7
1.1. Kỹ năng và kỹ năng giao tiếp ............................................................. 7
1.1.1. Kỹ năng .......................................................................................... 7
1.1.2. Kỹ năng giao tiếp ........................................................................... 8
1.1.2.1.Khái niệm kỹ năng giao tiếp .................................................... 8
1.1.2.2. Các kỹ năng giao tiếp .............................................................. 9
1.1.3. Quy trình hình thành kỹ năng .................................................... 11
1.2. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ................................................. 13
1.2.1. Khái niệm hoạt động giao tiếp .................................................... 13


1.2.2. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp .......................................... 14
1.2.2.1. Nhân vật giao tiếp ................................................................. 14
1.2.2.2. Nội dung giao tiếp ................................................................. 14
1.2.2.3. Mục đích giao tiếp ................................................................. 14
1.2.2.4. Phương tiện và cách thức giao tiếp ...................................... 15
1.2.2.5. Hoàn cảnh giao tiếp .............................................................. 15
1.2.3. Ngữ cảnh ..................................................................................... 16
1.3. Kỹ năng giao tiếp của học sinh THPT ............................................ 17
1.3.1. Kỹ năng giao tiếp tiếng Việt ........................................................ 17
1.3.2. Đặc điểm tư duy của HS THPT trong hoạt động giao tiếp ....... 18
1.3.3. Khả năng giao tiếp của HS THPT ............................................. 19
1.3.4. Những biểu hiện cơ bản trong kỹ năng giao tiếp của HS THPT
................................................................................................................. 19

2.4.4. Rèn luyện theo mẫu .................................................................... 35
Chương 3. THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM .......... Error! Bookmark not defined.
3.1. Mục đích thử nghiệm ........................ Error! Bookmark not defined.
3.2. Đối tượng thử nghiệm ....................... Error! Bookmark not defined.
3.3. Chủ thể thử nghiệm .......................... Error! Bookmark not defined.
3.4. Thời gian thử nghiệm ........................ Error! Bookmark not defined.
3.5. Nội dung thử nghiệm ........................ Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ................................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO


[Type the document title]

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục
tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học- từ chỗ quan tâm tới
việc học sinh (HS) học được gì đến chỗ quan tâm tới việc HS học được cái gì
qua việc học. Để thực hiện điều đó, hoạt động dạy học phải hướng tới các
nhiệm vụ là tập trung hình thành và rèn luyện cho chủ thể học tập cách vận
dụng kiến thức, cách rèn luyện kỹ năng, phát triển năng lực và phẩm chất
người học. Có thể khẳng định trong giai đoạn hiện nay, việc dạy học định
hướng phát triển kỹ năng giao tiếp của người học thực sự có ý nghĩa thực tế.
Cùng với những biến đổi to lớn của thế giới, sự phát triển của cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ đã đưa thế giới chuyển từ kỉ nguyên công
nghệ sang kỉ nguyên thông tin và tri thức. Điều đó chứng tỏ quá trình hội
nhập toàn cầu đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển
giữa các nước trở nên nhanh hơn. Với bối cảnh toàn cầu hoá hội nhập quốc tế
đó, xã hội có những thay đổi về vị thế người lao động. Một trong những đòi
hỏi đó là mỗi công dân khi tham gia hoạt động xã hội phải có khả năng hội

một số công trình khoa học.
Trong cuốn “Những thủ thuật trong dạy học - các chiến lược nghiên
cứu và lí thuyết về dạy học dành cho các giảng viên Đại học và Cao đẳng”,
tác giả Wilbrt J.Mckeachie đã dựa trên quan điểm thực tiễn của phương pháp
dạy học hiện nay cho rằng “Theo chương trình dạy học tiếng Pháp, phải dựa
trên việc thực hành ngôn ngữ trong và ngoài lớp học tiếng Pháp, HS phải luôn
luôn được đặt vào tình huống giao tiếp”. Theo đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh
“Cơ bản là phải đặt HS trong một tình huống giao tiếp làm sản sinh hoặc
thông hiểu lời nói” [21]. Nhận định trên đã khẳng định vai trò và ý nghĩa là
việc dạy học ngôn ngữ theo hướng giao tiếp. Để có thể hướng quá trình dạy
học ngôn ngữ chú trọng tới giao tiếp, GV cần phải tạo ra những tình huống có
vấn đề để chủ thể học tập tham gia vào hoạt động giao tiếp. Đây là nhận định

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 2


[Type the document title]

có ý nghĩa quan trọng để GV Ngữ văn có thể tổ chức quá trình dạy học những
tri thức tiếng Việt đạt hiệu quả cao.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt”, các tác giả Lê A, Nguyễn
Quang Ninh, Bùi Minh Toán đã đưa ra một số phương pháp dạy học tiếng
Việt thường được sử dụng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến phương pháp
giao tiếp. Trong sách có viết “Phương pháp giao tiếp là phương pháp quan
trọng trong dạy học tiếng Việt. Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng
dẫn HS vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình
giao tiếp, chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao
tiếp” [1, 69-70]. Đặc biệt các tác giả còn nhấn mạnh “Phương pháp này có thể

Tóm lại giao tiếp chính là một quan điểm dạy học hiện đại. Cho đến nay
có rất nhiều tài liệu, công trình và nhiều quan điểm khác nhau về việc dạy học
tiếng mẹ đẻ theo hướng giao tiếp. Nhưng những tài liệu trên mới chỉ đề xuất
việc dạy tiếng Việt theo quan điểm này chứ chưa có công trình nào đề xuất
việc rèn luyện KNGT cho HS trong một bài dạy tiếng Việt cụ thể. Từ nhận
thức đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho
học sinh THPT trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (SGK Ngữ văn 11)” với hi
vọng sẽ đóng góp một phần nào đó vào việc nghiên cứu, áp dụng hướng giao
tiếp vào dạy học nói trên, từ đó nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt nói
riêng và dạy học Ngữ văn nói chung.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm xác định được những vấn đề cần thiết để
tổ chức dạy học tiếng mẹ đẻ có chú trọng tới việc hình thành và phát triển
KNGT cho HS (bao gồm kỹ năng tạo lập, sản sinh lời nói, khả năng tiếp nhận
lời nói khi giao tiếp) trong quá trình dạy học Tiếng Việt. Từ đó, giúp cho các
em không chỉ có những hiểu biết về tiếng mẹ đẻ mà chủ thể học tập còn có
KNGT trong quá trình học tập và trong suốt cuộc đời các em.

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 4


[Type the document title]

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài “Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh THPT
trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (sách giáo khoa Ngữ văn 11)”, chúng tôi xác
định những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:

nhìn toàn diện cho vấn đề. Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong việc
phân tích những cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hình thành, củng cố và
phát triển KNGT của HS.
5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
So sánh đối chiếu là thao tác tư duy để phân biệt hiện tượng, khái niệm
với các hiện tượng, khái niệm khác. Trong khóa luận này, phương pháp so
sánh, đối chiếu được sử dụng khi chúng tôi quan sát đặc điểm tâm lý của chủ
thể học tập trước và sau khi được rèn luyện kỹ năng giao tiếp, so sánh giữa
lớp dạy bình thường với lớp học thực hiện theo những đề xuất mà chúng tôi
nêu trong khóa luận này để có những điều chỉnh cho phù hợp.
5.3. Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp này được thực hiện trên những phương diện đó là:
Thiết kế nội dung dạy học theo hướng nghiên cứu của đề tài và thử tổ
chức dạy học ở trường THPT.
Quan sát và rút ra nhận xét về thái độ, hứng thú học tập của HS trong
giờ học theo đề xuất.
5.4. Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng để phân loại và phân tích kết quả khảo
sát thực trạng của HS trước khi tiến hành thực nghiệm.
6. Bố cục của khoá luận
Khoá luận được triển khai thành ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần nội dung của khoá luận được cấu trúc với 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Dạy học bài “Ngữ cảnh” (Ngữ văn 11) theo hướng rèn luyện
kỹ năng giao tiếp cho học sinh THPT
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 6

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 7


[Type the document title]

+ Kỹ năng bậc một là kỹ năng thực hiện đúng hành động, hoạt động
phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, Cho
dù hành động cụ thể hay hành động trí tuệ. Loại kỹ năng này thông qua luyện
tập tới mức hoàn hảo, các thao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hoá không
cần có sự hiện diện của ý thức hoặc sự tham gia của ý thức rất ít thì biến
thành kỹ xảo.
+ Kỹ năng bậc hai là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một
cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với những mục tiêu trong
những điều kiện khác nhau. Trong kỹ năng bậc hai yếu tố linh hoạt sáng tạo
là yếu tố cơ bản, đó là cơ sở cho hoạt động đạt hiệu quả cao.
Theo Lê A – Nguyễn Trí, quan niệm về kỹ năng được hiểu như một
khả năng của con người có thể hoàn thành các nhiệm vụ trong những điều
kiện mới, dựa trên những tri thức và kinh nghiệm đã được tích luỹ và một
loạt các kỹ xảo trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong quá trình lĩnh
hội và sáng tạo văn bản, kỹ năng và kỹ xảo luôn có mối quan hệ biện chứng
với nhau.
Như vậy kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được
trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.
1.1.2. Kỹ năng giao tiếp
1.1.2.1. Khái niệm kỹ năng giao tiếp
Từ quan niệm về kỹ năng, chúng tôi cho rằng kỹ năng giao tiếp của mỗi
cá nhân là khả năng nhận biết nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và diễn
biến tâm lí bên trong, đồng thời cá nhân đó biết sử dụng ngôn ngữ và phi

+ Biết ghi nhanh, ghi đúng, ghi đầy đủ.
+ Duy trì sự chú ý liên tục trong suốt quá trình nghe.
Kỹ năng thứ hai của việc sử dụng ngôn ngữ là kỹ năng nói. Kỹ năng
này được thể hiện rõ trong quá trình các nhân vật giao tiếp (người phát tin)
chuyển nội dung suy nghĩ, nội dung thông báo của người nói vốn thuộc lĩnh
vực tinh thần sang dạng vật chất, dạng mã hóa ngôn ngữ nhằm mục đích là
truyền đạt cách nói là hoạt động thể hiện ngôn bản bằng lời, thông qua sự hiểu
biết của mình về một kinh nghiệm hay sự việc nào đó mà người nghe hiểu
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 9


[Type the document title]

được điều mình muốn nói. Hoạt động nói chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
Nhân vật giao tiếp, đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao
tiếp…
Những điều kiện để nói hiệu quả:
+ Nội dung bài nói tốt.
+ Hiểu biết sâu rộng, kỹ càng về nội dung cần trình bày.
+ Xác định đúng đối tượng nói và mục đích nói.
+ Xác định đúng nội dung cần trình bày.
+ Biết giao tiếp với người nghe, Biết tuân thủ những nguyên tắc giao
tiếp bằng ngôn ngữ.
+ Biết làm chủ lời nói của mình, cần khiêm tốn, thận trọng, trách
nhiệm…
+ Biết sử dụng ngôn ngữ nói một cách tinh tế (nói uyển chuyển, khi dí
dỏm, khi vui tươi…).
Một kỹ năng khác, cũng gắn liền với quá trình tiếp nhận nội dung giao

thể hiện qua khẩu ngữ để truyền đạt thông tin, biểu đạt tư tưởng, tình cảm một
cách chính xác, sinh động, có sức thuyết phục. Kỹ năng nói được quyết định
bởi ba yếu tố sự phát âm, khả năng diễn đạt và sự phát âm chính xác. Sự phát
âm có các đặc trưng về cao độ, trường độ, cường độ. Khả năng diễn đạt liên
quan đến cách phát âm và sự bất cần trong khi nói cũng như điểm mạnh và
điểm yếu của tiếng địa phương. Phát âm lẫn lộn một số chữ ở các vùng lấy
tiếng phổ thông của một quốc gia làm chuẩn. Sử dụng ngôn từ tốt sẽ giúp
truyền đạt thông tin và giải quyết công việc nhanh chóng, hiệu quả. Tạo mối
quan hệ tốt đẹp trong giao tiếp, giúp con người nâng cao uy tín bản thân, tự
khẳng định và là công cụ ảnh hưởng đối với người khác.
1.1.3. Quy trình hình thành kỹ năng
Vấn đề hình thành kỹ năng được nhiều nhà tâm lí học trong và ngoài
nước quan tâm. Mỗi tác giả, mỗi trường phái có ý kiến khác nhau, xong đều
thống nhất với nhau rằng: Kỹ năng được hình thành trong hoạt động, bất cứ kĩ
năng nào cũng cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết đó là kiến thức. Sở dĩ như
vậy là vì xuất phát từ cấu trúc kỹ năng (phải hiểu biết mục đích, cách thức đi
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 11


[Type the document title]

đến kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai cách thức đó). Sự
vận dụng kiến thức để khám phá, biến đổi chính là kỹ năng. Quá trình hình
thành kỹ năng thường bao gồm 3 bước:
Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành
động.
Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu.
Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều

1.2.1. Khái niệm hoạt động giao tiếp
Trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, con người cần phải giao tiếp
với nhau. Xã hội càng phát triển, nhu cầu giao tiếp của con người càng nhiều.
Vì thế, giao tiếp được coi là một phương tiện xã hội, giao tiếp là cách thức,
hoạt động để tiếp nhận các thông tin của đời sống, để trao đổi mọi tư tưởng,
tình cảm giữa người và người trong mọi mặt của đời sống.
Giao tiếp là một quá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình
thông tin quan hệ giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn
nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi cảm xúc lẫn nhau. Ở khoá luận này
chúng tôi sử dụng quan niệm của nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Uẩn trong
cuốn “Tâm lí lọc đại cương” NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996- một quan
niệm phản ánh được phương diện cốt lõi của giao tiếp bằng ngôn ngữ. Đó là:
“Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người thông qua đó con người
trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác
động qua lại với nhau. Hay nói khác đi giao tiếp là xác lập và vận dụng các
quan hệ người- người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với
chủ thể khác” [14,35].
Như vậy, có thể khẳng định, giao tiếp là hoạt động diễn ra thường
xuyên giữa mọi người trong xã hội. Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở
dạng lời nói nhưng cũng có khi tồn tại ở dạng viết. Giao tiếp cũng có thể được
tiến hành bằng nhiều phương tiện “ngôn ngữ” khác như: cử chỉ, điệu bộ, hành
động, nét mặt, các phương tiện kỹ thuật... Tuy nhiên phương tiện quan trọng
nhất, phổ biến nhất và hiệu quả tối ưu nhất vẫn là ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ và

SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 13


[Type the document title]

Trang 14


[Type the document title]

[Trần Đình Sử. 2005, tr. 135]. Như vậy, có thể nói mục đích cơ bản của
cuộc giao tiếp là nhằm truyền đạt thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc
của mình. Qua đó còn phải tác động đến người tiếp nhận một tình cảm nào đó.
Mục đích giao tiếp là kết quả cuối cùng mà cuộc giao tiếp mong muốn đạt được.
Có thể nói một cuộc giao tiếp đực gọi là thành công khi cuộc giao tiếp đạt được
mục đích đã đề ra. Mục đích giao tiếp là động lực giúp con người hướng đến và
thực hiện hoạt động giao tiếp.
1.2.2.4. Phương tiện và cách thức giao tiếp
Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ. Điều đầu tiên để cả người phát
và người nhận có thể hiểu thông điệp của nhau là ngôn ngữ trong giao tiếp phải
có tính chất chung đối với cả hai và ngôn ngữ trong văn bản viết phải khác với
ngôn ngữ trong văn bản nói. Để đạt được điều này người giao tiếp phải biết cách
sử dụng phương tiện ngôn ngữ sao cho phù hợp với đối tượng giao tiếp, nội
dung giao tiếp, sử dụng vốn ngôn ngữ mang tính chất cộng đồng… để người
nhận có thể tiếp thu, có thể hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền đạt.
Cách thức giao tiếp là cánh sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp. Trong
hoàn cảnh giao tiếp khác nhau ta có cách thức giao tiếp khác nhau.
1.2.2.5. Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là không gian, thời gian và những đặc điểm của nơi
diễn ra cuộc giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia làm hai loại: hoàn cảnh
giao tiếp rộng và hoà cảnh giao tiếp hẹp. Hoàn cảnh giao tiếp rộng là những hiểu
biết về chính trị, văn hoá, xã hội… tại thời điểm diễn ra cuộc giao tiếp. Tất cả
những hiểu biết này tạo ra tiền giả định để các nhân vật giao tiếp huy động theo
những cách khác nhau vào cuộc giao tiếp. Khi tiến hành cuộc giao tiếp thì các
nhân vật giao tiếp phải có chung tiền giả định. Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là không

hoạt động… diễn ra trong thực tế và các trạng thái, tâm trạng, tình cảm của
con người.
Nhân tố cuối cùng là văn cảnh. Theo các nhà ngôn ngữ thì nhân tố này
bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ cùng có mặt trong văn bản, đi trước hoặc
sau một yếu tố ngôn ngữ nào đó. Văn cảnh có ở dạng ngôn ngữ viết và ngôn
ngữ nói.
SVTH: Trần Văn Giáp

Trang 16


[Type the document title]

Ngữ cảnh có vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp. Đó chính là
môi trường để tạo lập, sản sinh lời nói, câu văn. Do đó ngữ cảnh luôn luôn
ảnh hưởng và tri phối nội dung và hình thức của câu. Câu nói cần được sản
sinh ra sao cho thích hợp với ngữ cảnh (với các nhân vật giao tiếp, với bối
cảnh rộng và hẹp, với hiện thực được đề cập đến, với văn cảnh…). Hơn nữa,
chính ngữ cảnh để lại dấu ấn trong câu. Đây chính là mối quan hệ giữa môi
trường và sản phẩm tạo ra trong môi trường ấy.
1.3. Kỹ năng giao tiếp của học sinh THPT
1.3.1. Kỹ năng giao tiếp tiếng Việt
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe,
nhằm đạt được một mục đích nào đó. Việc trao đổi thông tin được thực hiện
bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong
giao tiếp là ngôn ngữ. Kỹ năng giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng
các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các
phương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh, ngữ cảnh cụ thể, nhằm
đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những
con người với nhau trong xã hội. Kỹ năng giao tiếp bao gồm các thành tố: sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status