B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
-------&-------
Lấ MNH HNG
RèN LUYệN Kỹ NĂNG GIAO TIếP CHO HọC SINH
TRUNG HọC PHổ THÔNG TRONG DạY HọC
PHầN CÔNG DÂN VớI ĐạO ĐứC
Chuyờn ngnh
Mó s
: LL&PP Ging dy Giỏo dc chớnh tr
: 60.14.01.11
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: TS. Phm Vit Thng
HÀ NỘI - 2014
2
LờI CảM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Chủ nhiệm và các thầy cô giáo
Khoa Lí luận Chính trị Giáo dục công dân, Trờng Đại học S phạm Hà Nội đã
tận tình truyền đạt những tri thức quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ
khóa học và luận văn.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Phạm Việt Thắng đã
: Giáo dục công dân
HS
: Học sinh
KN
: Kĩ năng
KNGT
: Kĩ năng giao tiếp
KNS
: Kĩ năng sống
PPDH
: Phương pháp dạy học
SGK
: Sách giáo khoa
SL
: Số lượng
công việc. Đó vừa là biểu hiện văn hóa của mỗi con người, vừa biểu hiện mức độ
văn minh của xã hội. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, khoa học - kĩ thuật,
công nghệ, giao tiếp của con người được mở rộng với đa dạng các loại hình, quá
trình giao tiếp diễn ra dễ dàng và nhanh chóng hơn song nó cũng đòi hỏi con người
đáp ứng những yêu cầu mới đặt ra. Tiên học lễ, hậu học văn - lời răn dạy của người
xưa từ lâu đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của công tác giáo dục và
đào tạo ở nước ta, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
Học sinh phổ thông chính là những chủ nhân tương lai của đất nước. Hành
trang vững chắc cho các em bước vào cuộc sống tương lai ngoài tư cách, phẩm chất
đạo đức tốt, bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, kiến thức sâu rộng, tư duy khoa học…, là
KNS, trong đó không thể không kể đến KNGT, năng lực giao tiếp. Vì vậy, việc rèn
luyện KNGT cho HS THPT là rất cần thiết, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân
lực mới, toàn diện.
Không chỉ cung cấp kiến thức về đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị, triết học,
mĩ học,... phù hợp với đặc điểm lứa tuổi mà điều quan trọng hơn, GDCD ở trường THPT
là môn học rất thuận lợi góp phần hình thành và phát triển những kĩ năng cần thiết, đặc
biệt là KNGT.
1
Cùng với đổi mới nội dung, chương trình, PPDH,…vấn đề rèn luyện KNGT
cho HS cũng đang là đòi hỏi cấp thiết được đặt ra. Thực tế cho thấy, ở các nhà
trường phổ thông, tầm quan trọng của môn học này chưa được quan tâm đúng mức,
nhiều GV giảng dạy chưa vận dụng và khai thác tiềm năng thế mạnh của nó trong
việc rèn luyện KNGT cho HS. Vì thế, giao tiếp ở một bộ phận HS có chiều hướng
thu hẹp về phạm vi và mức độ, các em ít cởi mở với nhau, dẫn đến hành động bột
phát mang tính cá nhân, tình trạng tự kỉ... Không ít HS phải chật vật khi giao tiếp vì
không thể trao đổi những suy nghĩ và ý tưởng của mình một cách hiệu quả - cả ở
dạng nói hay viết, trong khi truyền đạt được thông điệp của mình là yếu tố tối quan
trọng để phát triển. Sự hạn chế này, khiến các em gần như không thể thể hiện được
Nhà giáo dục lỗi lạc người Nga J.A Comenxki là người sáng lập ra hình thức tổ
chức dạy học trường lớp, tạo môi trường giao tiếp rộng mở cho người học. Tư tưởng
giáo dục của J.A Comenxki là kết hợp giữa giáo dục nhà trường với hoạt động thực
hành bên ngoài cuộc sống, nhằm giải phóng hình thức học tập của hệ thống nhà trường
giáo hội thời trung cổ. Ông khẳng định: “Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong
sách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ trong cuộc sống’’ [12, 53].
Giữa thế kỉ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen - hai nhà triết học duy vật biện chứng
– lịch sử đã nêu ra những phát hiện quan trọng liên quan đến giao tiếp khi nghiên cứu
lịch sử phát triển xã hội loài người và đưa ra kết luận: Một trong hai điều kiện quyết
định để biến vượn người thành người chính là ‘‘lao động’’ và giao tiếp bằng ‘‘ngôn
ngữ’’ [21, 168]. C.Mác đã có tư tưởng về nhu cầu giao tiếp xã hội giữa con người
với con người. Ông nhấn mạnh: “Sự phát triển của một cá thể phụ thuộc vào sự phát
triển của nhiều cá thể khác mà nó đã giao tiếp trực tiếp hay gián tiếp” [44, 493]. Như
vậy, hai ông đã đánh giá cao vai trò của ngôn ngữ nói chung, rèn luyện KNGT nói
riêng trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người.
Từ những năm đầu của thế kỷ XX, rèn luyện KNGT cũng trở thành lĩnh vực
thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như:
nhà triết học và tâm lý học người Mỹ G.Mit, nhà bác học người Đức C.Giaspe, nhà
triết học hiện sinh Nhật Bản Mactin Babơ, nhà triết học người Pháp Gien Marơsen,
nhà triết học người Nga B.M. Beccheriev... Các công trình nghiên cứu của họ đã
chú ý đến hiện tượng tiếp xúc giữa con người với con người.
3
Từ những năm 70 của thế kỷ trước, nhiều công trình nghiên cứu của B.Ph
Lotnov, AA .Bodaliov... đã khẳng định giao tiếp là một phạm trù cơ bản.
KNGT đã được các nhà tâm lí học Liên Xô cũ (A.A.Bodalev,
V.A.Cancalich, N.V.Cuđơnia, A.N.Leonchiev) tìm hiểu về các giai đoạn, các nhóm
KNGT. Ngoài ra A.Cubanova, M.Rakhmatulina cũng đã đi sâu phân tích các loại
KNGT…
năm 1963, Đỗ Long đã có bài luận Các Mác và phạm trù giao tiếp và đây được coi
là tác phẩm đầu tiên đề cập về cơ sở lý luận của vấn đề rèn luyện KNGT ở nước ta.
Tháng 12/1982, tại Hội nghị Tâm lí học toàn quốc lần thứ 6, bản báo cáo
khoa học dưới đầu đề: “Giao tiếp - tâm lí - nhân cách” của tác giả Trần Trọng Thuỷ
được công bố. Tác giả khẳng định vai trò quan trọng của rèn luyện KNGT trong sự
hình thành và phát triển tâm lí - ý thức - nhân cách [59, 5].
Sau đó, nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp và rèn luyện KNGT đã
được công bố như Giao tiếp và ứng xử sư phạm của Ngô Công Hoàn (1987),
Luyện giao tiếp sư phạm của Nguyễn Thạc và Hoàng Anh (1991), Giáo trình tâm lí
học giao tiếp của Hoàng Anh (chủ biên) (1995), Giáo trình tâm lí học của Bùi Văn
Huệ (2000), Nhập môn khoa học giao tiếp của Nguyễn Sinh Huy và Trần Trọng
Thủy (2002), Giáo trình Giao tiếp sư phạm của Nguyễn Văn Lũy và Lê Quang Sơn
(2014), … Các nhà nghiên cứu trên đã đề cập khá kĩ những vấn đề lí luận và giao
tiếp trong tâm lí học. Nhiều công trình bàn đến giao tiếp ở đối tượng HS, sinh viên
trên các mặt như: đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp, phạm
vi giao tiếp, KNGT… Đồng thời, họ cũng đã đề xuất được một số tác động, biện
pháp nhất định nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp của các đối tượng này.
Nghiên cứu về KNGT sư phạm của sinh viên dưới góc độ Tâm lý học, tác
giả Hoàng Anh - trong luận án PTS của mình đã đề xuất quy trình rèn luyện kĩ năng
sư phạm cho sinh viên các trường sư phạm. Năm 1995, Lưu Thu Thủy đã nghiên
cứu quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa với bạn cùng lứa tuổi cho HS
lớp 4, lớp 5 trường tiểu học. Tác giả đã nghiên cứu hành vi giao tiếp có văn hóa của
HS dưới hai góc độ: Các nét tính cách bộc lộ qua giao tiếp và các KNGT của HS;
‘‘thiết kế quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho học sinh lớp 4, lớp 5
trong phạm vi trường học’’ [60, 4]. Tuy nhiên, những hành vi giao tiếp bên ngoài
trường học của HS chưa được quan tâm, nghiên cứu.
5
Như vậy, dưới góc độ tâm lý, các nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò to
điểm khoa học đáng tin cậy. Trong đó, chủ yếu dựa trên quan điểm tiếp cận hoạt
động - nhân cách, quan điểm phản ánh và quan điểm hành vi hiện đại.
Từ những công trình nghiên cứu đã nêu trên, có thể thấy rằng vấn đề giao
tiếp, rèn luyện KNGT đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm,
nhiều công trình thực sự có giá trị. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên
cứu sâu về rèn luyện KNGT cho HS THPT trong dạy học môn GDCD nói chung,
cho HS THPT trong dạy học phần Công dân với đạo đức nói riêng. Vấn đề rèn
luyện KNGT cho HS THPT trong dạy học phần Công dân với đạo đức vẫn còn là
“khoảng trống” chưa được quan tâm nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nghiên cứu một số phương pháp dạy học
phần Công dân với đạo đức nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện KNGT cho HS
THPT.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những KNGT cơ bản và cần thiết để rèn luyện cho HS THPT trong dạy
học phần Công dân với đạo đức hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lí luận của việc rèn luyện KNGT cho HS THPT trong dạy
học phần Công dân với đạo đức hiện nay.
- Khảo sát thực trạng việc rèn luyện KNGT cho HS THPT trong dạy học phần
Công dân với đạo đức tại 3 trường THPT của huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm việc rèn luyện KNGT cho HS THPT trong
dạy học phần Công dân với đạo đức tại Trường THPT Lạng Giang số 1, huyện
Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
Luận văn góp phần bổ sung, hệ thống hoá, làm sáng tỏ tầm quan trọng và
yêu cầu của việc rèn luyện KNGT cho HS THPT trong dạy học phần Công dân với
đạo đức.
PHẦN CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC
1.1. Cơ sở lý luận của việc rèn luyện KNGT cho học sinh THPT trong dạy học phần
Công dân với đạo đức
1.1.1. Kĩ năng giao tiếp
* Kỹ năng
Kĩ năng là một vấn đề rất phức tạp. Cho đến nay, trên thế giới và ở nước
ta vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng và nó được nhìn dưới những
góc độ khác nhau.
Một số tác giả nước ngoài, tiêu biểu là K.K.Platonov, G.G. Golubev,
X.I.Kixegof có quan niệm sâu sắc về kĩ năng. Kĩ năng theo họ là biểu hiện năng
lực hành động của con người. Chẳng hạn K.K. Platonov cho rằng ‘‘Kĩ năng là
năng lực thực hiện có kết quả công việc trong những điều kiện nhất định, bao
hàm cả điều kiện thời gian’’ [50, 10]. Theo ông, bất kì một kĩ năng nào cũng
gồm các yếu tố: biểu tượng, khái niệm, vốn tri thức, khả năng tập trung, khả
năng tự kiểm tra, tự điều chỉnh quá trình hoạt động. Trong quá trình hoạt động,
các yếu tố này sẽ được mở rộng hơn, sâu sắc và hoàn thiện hơn, tạo thành một
nhân tố phức hợp có thể gọi là năng lực mới cá nhân. Kĩ năng theo quan niệm
của ông được hình thành trên cơ sở của tri thức và những kĩ xảo đã có. Nó không
bó hẹp ở mặt kĩ thuật của hành động cho nên không thể quan niệm rằng nó ở
mức độ thấp hơn kĩ xảo. Chính nhờ những kĩ xảo có tính chất nền tảng như kĩ
xảo tập trung, kĩ xảo tự kiểm tra, tự điều chỉnh đã hình thành trước đó mà kĩ
năng mới có thể hình thành và phát triển. Đi sâu nghiên cứu theo hướng này, ông
còn phát hiện thấy trong cấu trúc của kĩ năng không chỉ có tri thức, kĩ xảo mà
còn có một yếu tố hết sức quan trọng đó là tư duy sáng tạo.
Sau này, trong các công trình nghiên cứu của mình, một số tác giả Việt Nam
(như: Nguyễn Ánh tuyết, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc
9
Thành…) đã thể hiện rõ chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm kĩ năng là biểu hiện
kết quả cao với sự tiêu hao năng lượng tinh thần, cơ bắp ít nhất trong những điều
kiện thay đổi” [23, 69]. Theo cách hiểu này, kĩ năng không chỉ là sự phối hợp hài
hòa, hợp lý các thao tác, cử chỉ mà còn cả những vận dụng của chân tay và trí tuệ
như “ bàn tay vàng”, “ nghệ thuật sư phạm”. Kĩ năng chính là khâu cuối cùng của
quá trình xã hội hóa được bộc lộ trong hoạt động, đó là sự chín muồi của các phẩm
chất, nhân cách và năng lực của một cá nhân trong một nghề nhiệp nhất định. Kĩ
năng có tiền đề vật chất là cấu tạo và chức năng hoạt động của các giác quan, hệ
thần kinh, cơ bắp, tim mạch…, những cái đó không phải là cái quyết định. Cái
quyết định là tri thức và sự tập luyện, rèn luyện trong thực tế của con người ở
những hoạt động nhất định. Vì thế, muốn có kĩ năng cần phải rèn luyện nhiều và
thực hiện một cách thường xuyên.
Tác giả Nguyễn Văn Đồng cho rằng, “Kĩ năng là năng lực vận dụng những
tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện hiệu quả một hoạt động tương ứng trong
những điều kiện cụ thể” [18, 33].
Nguyễn Quang Uẩn có quan niệm: ‘‘Kĩ năng là năng lực của con người biết
vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình” [64, 44].
Theo tác giả Nguyễn Văn Lũy và Lê Quang Sơn đưa ra khái niệm: ‘‘Kĩ
năng là khả năng thực hiện một công việc có kết quả bằng cách vận dụng những
tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện
cho phép’’ [43, 79].
Từ những quan niệm của những nhà nghiên cứu trên, cho thấy những điểm
chung về kĩ năng:
+ Tri thức là cơ sở, là nền tảng của kĩ năng. Tri thức ở đây bao gồm tri thức
về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động.
+ Kĩ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động của cá nhân.
+ Kĩ năng luôn gắn với một hành động hoặc hoạt động nhất định nhằm đạt
được mục đích đặt ra.
Như vậy, kĩ năng được xem xét theo nhiều quan điểm khác nhau. Song, các
quan điểm đó không hề mâu thuẫn với nhau, mà chỉ khác ở chỗ thu hẹp hay mở
người, sản phẩm của giao tiếp là sự hiểu biết, nhận thức lẫn nhau và từ đó các quan
hệ liên nhân được hình thành.
12
Nhìn chung, các tác giả đã phần nào nêu lên được bản chất của giao tiếp,
khẳng định giao tiếp là quá trình thông qua quá trình này con người không đơn
thuần là sự trao đổi thông tin mà còn nhận thức, hiểu biết lẫn nhau. Sự nhận thức và
hiểu biết này giúp cho con người có khả năng tự điều khiển, điều chỉnh bản thân để
từ đó hình thành nhân cách.
Ở Việt Nam, trong một số bài viết, giáo trình tâm lý học trước đây thường
dùng thuật ngữ ‘‘giao tiếp’’ để chỉ sự tiếp xúc tâm lí và tác động qua lại giữa con
người với con người. Việc dùng thuật ngữ tuy có khác nhau, song xét về nội hàm
của khái niệm, các tác giả đều thống nhất theo các quan điểm trên.
GS. Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: ‘‘Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa
người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm
xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau’’ [64, 64].
Hiện nay, các tác giả đều có xu hướng thống nhất dùng thuật ngữ ‘‘giao
tiếp’’ để chỉ hoạt động thực hiện hóa mối quan hệ người - người. Trong từ điển
Tiếng Việt: “Giao tiếp là sự trao đổi, tiếp xúc với nhau. Ngôn ngữ là công cụ của
giao tiếp’’ [62, 393].
Như vậy, có thể khẳng định:
- Giao tiếp là hoạt động chỉ có ở người nhằm thiết lập mối quan hệ giữa
người này với người khác. Nhờ có giao tiếp mà các mối quan hệ xã hội giữa con
người được hình thành, vận hành và phát triển.
- Trong quá trình giao tiếp, có hai chủ thể cùng tham gia trao đổi thông tin,
cảm xúc với nhau, tác động lẫn nhau và phản ánh lẫn nhau. Chủ thể này lại chính là
khách thể của chủ thể kia. Quá trình giao tiếp được tiến hành trong thời gian, không
gian, điều kiện cụ thể.
- Kết quả của giao tiếp có thể là sự hiểu biết lẫn nhau, sự thống nhất với nhau
Theo tác giả Võ Sĩ Lục đưa ra quan niệm: “Kĩ năng giao tiếp là sự thực hiện
đến mức nào đó có hiệu quả một hành động nào đó trong hoạt động giao tiếp bằng cách
sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để tác động đến đối tượng, điều
khiển bản thân, tổ chức quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích đề ra’’ [42, 37].
Theo tác giả Hoàng Anh, “KNGT sư phạm là KNGT được vận dụng vào quá
trình tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh trong hoạt động giảng dạy và giáo dục. Đó
là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và diễn biến tâm lí
14
bên trong của bản thân giáo viên và học sinh, là kĩ năng sử dụng các phương tiện
ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình giao
tiếp nhằm đạt mục đích giáo dục’’ [2, 38].
Nguyễn Văn Lũy và Lê Quang Sơn đưa ra khái niệm KNGT như sau: ‘‘Kĩ
năng giao tiếp là khả năng cụ thể của mỗi con người vận dụng những kiến thức thu
được vào quá trình tiếp xúc giữa người với người’’ [43, 79].
Những khái niệm trên cho thấy:
+ KNGT là sự thực hiện một cách có hiệu quả một hành động nào đó trong
hoạt động giao tiếp, kĩ năng là biểu hiện của mặt năng lực, chúng thường gắn với
kết quả của hành động.
+ KNGT bao gồm cả những tri thức và lôgíc các thao tác, hành động và
hướng tới thực hiện mục đích của hoạt động giao tiếp.
+ KNGT là sự vận dụng những quy luật về mối quan hệ của con người vào
quá trình giao tiếp.
+ Khi thực hiện KNGT, con người phải thực hiện các phương tiện giao tiếp
(ngôn ngữ, phi ngôn ngữ…) phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp.
Người có KNGT phải là người có vốn văn hóa, hiểu biết về lĩnh vực giao
tiếp, nắm được bản chất quá trình giao tiếp và nắm được một số quy luật về tâm lí
của con người diễn ra trong quá trình giao tiếp. Đồng thời chủ thể giao tiếp phải
hiểu cả chính quá trình giao tiếp mà mình cần thực hiện, tức là nắm được mục đích
đề có liên quan đến cuộc sống của bản thân, họ sẽ thích thú và học tập tích cực hơn.
Từ những phân tích trên, chúng tôi rút ra kết luận: Rèn luyện KNGT cho HS
THPT là quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm giúp người học hình thành
và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lý thông tin bằng
ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong các mối quan hệ của HS ở gia đình, nhà trường và
xã hội...
1.1.3. Vai trò của rèn luyện KNGT cho HS THPT
Giao tiếp là kênh không thể thiếu giúp con người được tiếp nhận thông tin để
biến nó thành tri thức, KNS của mỗi người. Vì thế, rèn luyện KNGT giữ vai trò đặc
biệt quan trọng:
16
1.1.3.1. Góp phần hình thành và phát triển nhân cách, tạo nên hệ giá trị sống tích
cực của HS
Việc vận dụng KNGT vào trong cuộc sống của mỗi con người chính là năng
lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về giao tiếp, giúp cá nhân tạo dựng được
chỗ đứng trong xã hội. Xét trong quan hệ liên nhân, nếu KNGT tốt sẽ giúp cá nhân
tạo dựng được hình ảnh tốt về bản thân và các mối quan hệ hợp tác tốt trong xã hội.
Đối với HS - lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách thì
KNGT lại càng đóng vai trò quan trọng, bởi nhờ có KNGT các em học tập hiệu quả,
tự tin tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, trải
nghiệm bản thân.....
Nói cách khác, khi có KNGT giúp HS thể hiện được giá trị của bản thân vào
cuộc sống (‘‘12 Giá trị căn bản của cá nhân như: Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung
thực, Khiêm tốn, Yêu thương, Hòa bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan
dung và Đoàn kết’’ [14, 18]); từ đó, các em trưởng thành với một hệ giá trị tích cực.
Bên cạnh đó, việc rèn luyện KNGT còn tạo dựng nét đẹp văn hóa giao tiếp - ứng xử
trong nhà trường.
1.1.3.2. Tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống, thúc đẩy sự phát triển cá
giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng là nhiệm vụ cấp thiết
được đặt ra. Các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, trong Luật Giáo dục năm 2005
đã khẳng định rất rõ điều này.
Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
khẳng định mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục,
SGK phổ thông mới, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ; đáp
ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với
thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các
nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX (4 – 2001) đã đề ra nhiệm vụ
tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, PPDH.
Luật Giáo dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: ‘‘Mục tiêu giáo dục là đào
tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ,
18