Tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân nha, mộc châu, sơn la - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------

NGÔ VĂN BÍCH

TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH TẠI
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN NHA,
MỘC CHÂU, SƠN LA

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ:
60.62.68

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN DƯ

HÀ NỘI, NĂM 2010


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Nha là một trong 86 Khu Bảo tồn
thiên nhiên được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là Thủ tướng chính phủ phê
duyệt thành lập năm 1986 theo quyết định 194-CP ngày 19/8/1986. Rừng Xuân Nha
được ghi nhận là đa dạng về thành phần loài, về hệ sinh thái và trạng thái rừng với

và qui mô của nó. Do vậy rừng vẫn bị xâm phạm và chịu nhiều tác động, đặc biệt là
sức ép của người dân từ cộng đồng các dân tộc có ở nơi đây.
Đã có một số công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở đây [1, 2, 3] nhưng
đó cũng chỉ là những số liệu sơ bộ ban đầu, chưa thật đầy đủ. Vì vậy tôi tiến hành
nghiên cứu “Tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch tại Khu bảo tồn thiên nhiên
Xuân Nha, Mộc Châu, Sơn La” nhằm đánh giá đầy đủ về thành phần loài, nguồn
tài nguyên thực vật và đưa ra các giải pháp bảo tồn chúng, từng bước nâng cao nhận
thức và năng lực quản lý cho cán bộ khu BTTN và người dân địa phương là những
vấn đề cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.


3

Chương 1. TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. NHẬN THỨC VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC
Đối với Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung, vấn đề
nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) đang được quan tâm hàng đầu. Trước
đây, những quan niệm về ĐDSH cũng có những điểm chưa thống nhất, chưa đầy đủ
và chưa rõ ràng.
Trong chương trình hành động ĐDSH Việt Nam cũng nêu ra một khái niệm
về đa dạng sinh học “Là tập hợp tất cả các nguồn sinh vật sống trên hành tinh bao
gồm tổng số các loài động vật và thực vật; tính đa dạng và sự phong phú trong từng
loài, tính đa dạng về hệ sinh thái của các cộng đồng sinh thái khác nhau; hoặc tập
hợp các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau”.
Định nghĩa này là chưa đầy đủ bởi mới chỉ đề cập đến động vật và thực vật, còn các
sinh vật khác thì chưa nói đến.
Một định nghĩa khác do Quỹ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên WWF (1989) đề
xuất như sau: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng
triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và
là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”. Định nghĩa

vật mà chủ yếu là hệ thống phân loại các quần xã thực vật của Braun – Blanquet
(1928), được thực hiện chủ yếu bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp
và hệ thống phân loại các quần thể thực vật được thực hiện bởi những nhà địa thực
vật của Đức (ghi theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004).
Ở Phần Lan, Caiande A.K. chủ trương phân loại rừng dựa vào thực vật
thảm tươi. Ông cho rằng, trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ
phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành
loài cây gỗ của lâm phần. Theo đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính
đồng nhất sinh học của môi trường, kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vật
rừng. Tuy thế, điều này là không hoàn toàn đúng vì thực tế thảm tươi có khả năng
chỉ thị nhưng không có khả năng chỉ thị cho tất cả các điều kiện lập địa. Ngoài ra
các yếu tố bên ngoài như: lửa rừng, khai thác... cũng ảnh hưởng lên thảm tươi (ghi
theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004).
Ở Hoa Kỳ, phân loại rừng chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax) của
Colleman. Phân loại theo Climax tạo cho quần xã thực vật ổn định trong quá trình


5

phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành
từ lâu. Khí hậu là nhân tố để xác định Climax. Ngoài khái niệm Climax, các nhà
lâm học Hoa Kỳ còn đưa ra khái niệm tiền đỉnh cực (á đỉnh cực), đơn đỉnh cực, đa
đỉnh cực (ghi theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004).
Ở vùng nhiệt đới, theo Thái Văn Trừng (1978), có lẽ Schimper (1918) là
người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới (ghi theo
Thái Văn Trừng 1978). Trong đó hệ thống này, Schimper đã phân chia thảm thực
vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi. Trong quần hệ
khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: Rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng
gai; ngoài ra còn có thêm hai kiểu là: Thảo nguyên nhiệt đới và Hoang mạc nhiệt
đới.

2000 loài.
1.3. Ở VIỆT NAM
1.3.1. Về thảm thực vật
Năm 1918, nhà bác học Pháp, Quang Huy là người đầu tiên đã đưa ra một bảng
phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại
thảm thực vật rừng nhiệt đới châu Á đầu tiên trên thế giới). Theo bảng phân loại
này, rừng ở miền Bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu
Từ năm 1960, Loschau đưa ra một khung phân loại rừng theo trạng thái ở
Quảng Ninh, bảng phân loại này đã phân thành 4 trạng thái như sau (ghi theo
Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004).
Rừng loại I: gồm những đất đai hoang trọc, trảng cỏ và cây bụi.
Rừng loại II: gồm những rừng non mới mọc.
Rừng loại III: gồm tất cả những loại rừng đã bị khai thác trở nên nghèo kiệt, tuy
còn có thể khai thác gỗ trụ mỏ.
Rừng loại IV: Rừng nguyên sinh chưa bị khai phá.
Đây là hệ thống phân loại rừng đã được áp dụng khá rộng rãi ở nước ta trong
điều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo khối trạng thái.
Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt nam, tại hội
nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat, 1975), Thái Văn Trừng đã đưa ra
bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm sinh thái, đây được


7

xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt nam phù hợp nhất trên quan điểm
sinh thái cho đến nay.
Trần Ngũ Phương: “Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam” đã tiến
hành phân chia rừng miền Bắn Việt Nam thành 3 đai, 8 kiểu, ngoài ra ông còn chia
ra các kiểu phụ. Trong đai rừng Á nhiệt đới mưa mùa núi cao ông không dùng kiểu
mà chỉ dung loại hình thay cho kiểu, sau loại hình là kiểu phụ.

Một số công trình nghiên cứu, đánh giá về đa dạng sinh học của các Vườn
Quốc gia và khu Bảo tồn thiên nhiên miền bắc Việt Nam gần đây:
Tính đa dạng của quần xã thực vật tại Cúc Phương (Phùng Ngọc Lan,
Nguyến Nghĩa Thìn và Nguyễn Bá Thụ) (1996).
Đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật tại Vườn Quốc gia Xuân
Sơn, tỉnh Phú Thọ (Trần Minh Hợi, Nguyễn Xuân Đặng), (2008).


9

Chương 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. MỤC TIÊU
- Đánh giá tính đa dạng của thảm thực vật có mạch ở khu KBTTN Xuân Nha.
- Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài thực vật có mạch ở khu BTTN Xuân
Nha.
- Đề xuất những biện pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật tại khu BTTN Xuân Nha.
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Nghiên cứu Đa dạng về thảm thực vật và Hệ sinh thái
- Đa dạng thảm thực vật.
- Đa dạng hệ sinh thái.
2.2.2. Đa dạng thành phần loài thực vật
- Đa dạng các bậc taxon ngành và lớp.
- Đa dạng các bậc taxon dưới ngành.
+ Đa dạng về số lượng loài cây.
+ Đa dạng về loài và chi thực vật.
+ Đa dạng về họ thực vật.
2.2.3. Đánh giá về nguồn tài nguyên thực vật
- Nhóm cây cho gỗ.

- Nhóm cây làm thuốc.

tồn (Viện Điều tra qui hoạch rừng, 1991). Tổng hợp kết quả được ghi vào bảng 2.1.
Bảng 2.1. Điều tra các kiểu thảm thực vật tại khu BTTN Xuân Nha
STT

Kiểu thảm thực vật

Trạng thái

Loài thực vật đặc trưng

1
2
...
- Phương pháp điều tra hệ thực vật: Tiến hành thu mẫu và ghi chép ngoài thực
địa, giám định tên cây trong phòng tiêu bản:
Thu thập các mẫu của các loài thực vật, đặc biệt là những loài chưa biết, loài quý
hiếm ngoài thực địa, xử lý mẫu và đem về phòng giám định của Viện Sinh thái Tài
nguyên Sinh vật Việt nam, trên cơ sở đó ghi chép, sắp xếp các loài giám định vào
các chi, họ, lớp, ngành khác nhau theo phương pháp của Brummitt (1992). Kết quả
ghi vào Danh lục thực vật sau:
DANH LỤC THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH
TẠI KHU BTTN XUÂN NHA

STT

1

TÊN NGÀNH,
HỌ


Bảng 2.2. Thành phần thực vật bậc cao có mạch trên tuyến điều tra
Ngày điều tra:…. /..…/2009

Trạng thái rừng: ………………….

Người điều tra: Ngô Văn Bích
Tuyến điều tra: ……………

Xã:………………..
Tên loài

Stt
Tên Việt Nam

Ghi chú
Tên khoa học

1
2

- Điều tra theo ô tiêu chuẩn: Trên mỗi tuyến điều tra tôi thiết lập 4 ô tiêu chuẩn
để thống kê thành phần thực vật, tuỳ theo các kiểu thảm hoặc các sinh cảnh có kích
thước từ 0,025 đến 0,1 ha. Đo đếm và ghi chép thảm thực vật trong từng tiêu chuẩn.
Kết quả thu được ghi vảo bảng 2.3 sau:


12

Bảng 2.3. Điều tra thành phần thực vật trên ô tiêu chuẩn
Ngày điều tra:……../……../2009.

Trên mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành lập 5 ô dạng bản với diện tích mỗi ô là 9 m2
(3m×3m) được thiết lập tại 4 góc (4 ô dạng bản) và vị trí giữa của ô tiêu chuẩn.
Trông ô dạng bản tôi tiến hành điều tra thành phần cây tái sinh, kết quả được ghi
vào bảng 2.4 như sau:
Bảng 2.4. Điều tra tình hình tái sinh của thực vật rừng
tại khu BTTN Xuân Nha
Ngày điều tra:……….../2009

Số thứ tự OTC: ……

Người điều tra: Ngô Văn Bích

Số thứ tự tuyến điều tra:………

Stt
ODB

Tên loài cây
VN

KH

N

Hvn

(cây)

(m)



Stt
ODB

VN

KH

HTB

Tình hình sinh trưởng
T

TB

Ghi chú

X

1
2
3

- Điều tra thông tin của người dân địa phương về việc sử dụng, sưu tầm, khai
thác về những loài thực vật trong khu BTTN.
Sử dụng phương pháp PRA, chọn trong mỗi xã 15 hộ đại diện (5 hộ giầu, 5 hộ trung
bình và 5 hộ nghèo) để đánh giá việc người dân khai thác và sử dụng tài nguyên
thực vật tại khu vực nghiên cứu, đồng thời kết hợp tra cứu tài liệu về công dụng của
cây rừng (Tên cây rừng Việt Nam 2000; Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 2
và tập 3)) . Kết quả được ghi vào bảng 2.6 như sau:

Giang); Phong Thổ (Lai Châu); Tà Sùa (Sơn La); Côpia (Sơn La); Vũ Quang (Hà
Tĩnh); Tân Sơn (Hoà Bình); Pà Cò (Hoà Bình) để so sánh mức độ đa dạng về thành
phần loài thực vật.


15

Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI KHU BẢO
TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN NHA
3.1. VỊ TRÍ VÀ RANH GIỚI
- Toạ độ: Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha có toạ độ địa lý:
Từ 200 84’ 45’’ đến 200 54’ 54’’ vĩ độ Bắc
Từ 1040 28’ 38’’ đến 1040 50’ 28’’ kinh độ Đông
- Địa giới:
Khu bảo tồn nằm trọn trong địa giới 3 xã vùng núi cao của huyện Mộc Châu,
Sơn La.
Phía Bắc giáp các xã Mường Sang, Vân Hồ, Lóng Luông
Phía Nam giáp huyện Mường Lát, huyện Quan Hoá, Thanh Hoá
Phía Đông giáp khu BTTN Pà Cò, Hoà Bình
Phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
- Diện tích (cũ) 38.069 ha. Diện tích hiện tại 16.316,8 ha.
3.2. ĐỊA HÌNH
Khu điều tra tài nguyên thực vật có địa hình núi đất và núi đá vôi xen đồi đất,
dâng cao ở phía Tây Bắc, thấp dần ở phía Đông Nam, có độ cao từ 260m đến
1.900m, trung bình 1.000m so với mặt biển.
Vùng đất phía Tây Bắc của Khu bảo tồn có độ cao trung bình trên 1.100m,
đỉnh Pha Luông 1.886m là đỉnh cao nhất của khu vực và nằm trên ranh giới xã
Chiềng Sơn với nước Lào. Vùng giữa và phía Đông Khu bảo tồn có độ cao thấp
hơn, trung bình 500-600m. Đỉnh núi cao nhất trong khu bảo tồn thuộc xã Xuân Nha
(cao 936 m). Địa hình phần nhiều là các dông núi của 3 hệ thống núi khởi đầu của

+ Đá Trầm tích mà Đá vôi, Cuội, Sỏi kết là đại diện cơ bản, rộng khắp
+ Đá Macma axít với các loại đá phổ biến như Granit, Sa thạch khối, Phấn sa,
Đá sét… có rải rác.
+ Đá biến chất với nhiều loại khác nhau nhưng không nhiều.
Trừ hệ thống đá vôi phân bố theo dải, còn các loại đá mẹ khác như Đá sét,
Phiến thạch sét, Phấn sa, Sa thạch thô, Cuội kết thường không đại diện, chúng phân
bố theo vệt, theo vùng nhỏ trên nền đá vôi cổ. Sự đa dạng về đá mẹ đã tạo ra các
loại đất khác nhau, là điều kiện cho nhiều loài cây ưa thích đất đá khác nhau phân
bố trong khu vực.


17

- Các loại đất chính trong khu vực:
Đất Feralit mùn vàng nâu núi cao phát triển trên hang hốc núi đá vôi. Đá biến
chất, đá Mácma axit tầng dày, thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình thường phân
bố ở độ cao trên 1.700m (rất ít).
+ Đất Feralit màu vàng sẫm phát triển trên đá sét hoặc Đá biến chất, tầng đất
dày, thành phần cơ giới trung bình (ở độ cao 700-1.700m).
+ Đất Feralit màu vàng nâu phát triển trên sản phẩm đá vôi hoặc Đá vôi biến
chất, tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình (ở độ cao 700-1.700m).
+ Đất Feralit màu vàng nhạt phát triển trên đá sét hoặc đá biến chất, tầng đất
dày, thành phần cơ giới trung bình (ở độ cao 700-1.700m).
+ Đất Feralit màu vàng nhạt hoặc vàng xám phát triển trên phiến thạch sét,
Phấn sa, Đá cát, Sa thạch, Sỏi cuội kết, tầng đất dày thành phần cơ giới trung bình
hay nhẹ thường ở vùng đồi núi thấp (độ cao 300-1.000m hoặc xen kẽ nhau).
+ Đất Feralit màu xám biến đổi do trồng lúa, có thành phần cơ giới trung bình,
phân bố quanh làng bản và trên các sườn núi có nguồn nước.
+ Đất dốc tụ chân núi, ven suối có thành phần cơ giới trung bình, nhẹ có nhiều
đá lăn.

đổ xuống vùng trung tâm. Các suối kể trên có đoạn lộ, đoạn mất, không thường
xuyên có nước quanh năm. Mật độ suối thấp, tuy độ dốc lớn nhưng có nhiều hút
nước, sông ngầm, hang động vùng đá vôi nên chỉ có lũ cục bộ trong những ngày
mưa lớn và rất ít nước vào mùa khô.
Tóm lại, Khu bảo tồn là vùng núi cao của huyện Mộc Châu, có khí hậu nhiệt đới
gió mùa, có hai mùa trong năm, mùa nóng nhiệt độ cao và mưa nhiều, mùa đông có
nhiệt độ thấp, lạnh nhẹ và hơi khô, riêng mùa đông lại có sương mù nên ít gây cản
trở tới sinh trưởng và phát triển của cây.
3.5. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ KHU HỆ THỰC VẬT
Rừng Xuân Nha được hình thành cách ngày nay khoảng 220 triệu năm trên nền
núi đá vôi thời kỳ Ladini, thuộc kỷ Đệ tam. Bộ mặt nguyên vẹn của rừng được nhìn
thấy một phần ở các nơi hiểm trở người dân không thể khai thác được. Trước năm
1985, theo nhiều tài liệu và người dân sống lâu năm ở đây đều khẳng định trong
rừng Xuân Nha có nhiều cây lớn, chủ yếu là các loài Nghiến, Đinh, Trai, Chò chỉ,


19

Lát hoa, Chò nhai, Chò xanh, Chò đãi, Cà lồi, Cà ổi, Xoan đào, Nhò vàng, Màu cau,
Sồi đá, Kháo vàng, Trường sâng, Trường mật, Lát xoan, Sấu, Phay. Trải qua nhiều
thập kỷ bị tàn phá, ngày nay Xuân Nha chỉ còn lại thảm thực vật nhỏ bé, thưa thớt.
Do một loạt các nguyên nhân như nạn đốt nương làm rẫy tràn lan lâu dài, do khai
thác trái phép gỗ xây dựng và đặc biệt là củi đun nên diện tích rừng ở đây bị thu
hẹp, tính đa dạng giảm.
Khu hệ thực vật trong Khu bảo tồn không đồng nhất. Phần lớn diện tích rừng ở
đây không còn tự nhiên, nguyên vẹn. Rừng nguyên sinh ít bị tác động chỉ tồn tại
từng vùng nhỏ ở những nơi cao, xa xôi, hiểm trở hoặc theo dải, theo đám dọc theo
các khe suối đá, sườn núi đá.
Thực vật rừng trong Khu bảo tồn phong phú về thành phần loài nhưng kích
thước cá thể trung bình loài nhỏ; nhiều loài cây gỗ quí không chỉ giảm về số lượng

ngạnh, Dẻ cau, Giổi mỡ, Giổi bà, Thích lá bóng, Xoan đào, Máu chó, Thông pà cò,
Súm, Sặt, Chè rừng.
- Có nhiều họ thực vật có phân bố rộng ở Nhiệt đới và Á nhiệt đới như các loài
trong các họ Cỏ (Poaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Vang
(Caesalpiniaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae), họ Khoai lang (Convolvulaceae), họ
Nhân sâm (Araliaceae), họ Cau (Arecaceae), họ Chè (Theaceae), phân họ Tre
(Bambusoideae).
- Có nhiều họ thực vật lá kim có phân bố ở vùng Á nhiệt đới núi thấp và vừa
trong khu vực mà đại diện là các loài Bách tán (Cupressaceae), Thông pà cò
(Pinaceae), Thông tre, Thông nàng (Podocarpaceae), Dây gắm (Gretaceae).
- Yếu tố nhập nội dẫn giống chủ yếu với các đại diện chính như các loài Keo
lá tràm, Keo tai tượng, Xà cừ, Phượng vĩ, Lim sẹt cảnh, Trứng gà, Hồng xiêm...
Nhìn chung Thực vật rừng trong khu bảo tồn còn giữ được sự phong phú về
loài nhưng nghèo về số lượng các cá thể trong các loài, kích thước trung bình cá thể
của loài nhỏ; nhiều loài cây gỗ quí như Lát hoa, Du sam, Chò chỉ, Đinh thối, Giổi
xanh, Kim giao, Thông nàng… nhiều loài cây thuốc quý có giá trị sử dụng cao: Hài
gấm, Hoàng đằng, Thạch hộc, Lan một lá, Huyết đằng v.v. trở nên hiếm hoi, nhiều
loài thực vật ưa sáng như Màng tang, Chè đuôi lươn, Bui lui, Ba soi, Cọc rào, Hèo
gân dày và nhiều loài thân cỏ như: Cỏ tranh, Cỏ chít, Cỏ lá tre, Cỏ lông, Đơn buốt,
Ngải cứu v.v. tăng vụt về số lượng cá thể trong loài. Tuy rừng bị tàn phá nhiều


21

nhưng còn khá nhiều loài cây có giá trị bảo tồn, nghiên cứu khoa học như: Trai lý,
Nghiến, Chò chỉ, Chờ nhai, Chò nâu, Cây đăng, Sấu, Trám trắng, Trám đen, Trám
ba cạnh, Vàng anh, Lim xẹt, Dẻ gai, Cà ổi… Thành phần thực vật Xuân Nha chủ
yếu là thực vật Nhiệt đới; thực vật Á nhiệt đới. Thực vật Xuân Nha tuy có nhiều
loài cây tại chỗ nhưng có tỷ lệ đặc hữu thấp, không thể vượt quá 17,9% như con số
mà Nguyễn Nghĩa Thìn nêu ra khi nghiên cứu về thực vật đặc hữu ở Hoàng Liên,

bản Suối Thín, bản Pha Luông.
Số bản nằm trong khu bảo tồn:
- Vùng phục hồi sinh thái gồm bản: Suối Thín, Pha Luông.
- Vùng đệm: bản Nà Tén, bản Dân Quân, bản Co Phơng, bản Hin Pén.
c- Số bản xã Xuân Nha:
Số bản nằm trong khu bảo tồn:
- Vùng nghiêm ngặt 5 bản gồm: Bản Lún, Láy, A Lang, Cột Mốc, Sa Lai.
- Vùng phục hồi sinh thái gồm 10 bản: Bản Kho Hồng, Chiềng Na, Pù Lầu,
Tưn, Tà, Lớt, Ngà, Thín, Đông Tà Lào, Tây Tà Lào.
- Vùng đệm: Số bản còn lại của xã đều nằm trong vùng đệm của KBTTN
Xuân Nha.
23 bản gồm: Bản Mường An, Nà An, Tưn, Pù Lầu, Nậm Dên, An, A Lang, Na
Sang, Dúp Lắc Kén, Khò Hồng, Chiềng Hin, Thín, Chiềng Na, Nà Hiềng, Đông Tà
Lào, Tây Tà Lào, Bớt, Cột Mốc, Sa Lai, Bún, Ngà và bản Láy, Sai Lai mới.
3.7. TẬP QUÁN CANH TÁC, SINH HOẠT VĂN HOÁ
3.7.1. Tập quán canh tác
Trong khu vực 3 xã nói chung và khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha nói
riêng, người dân tộc Thái và dân tộc Mường có canh tác lúa nước ở các khu vực
thấp gần giống như người dân tộc Kinh, đã ổn định. Còn dân tộc HMông và các dân
tộc khác ở trên cao, họ có kinh nghiệm tạo ra các ruộng nước bậc thang theo đường
bình độ ven núi có giá trị lớn đối với cuộc sống hàng ngày của họ, song sống chủ
yếu vẫn là phát nương làm rẫy là chính.


23

Tổng diện tích đất nông nghiệp của 3 xã là 4.117 ha trong đó ruộng nước là
406 ha. Bình quân 0,22 ha đất nương/người/năm, bình quân 0,02 ha lúa nước/
người/năm.
Ruộng đất trồng lúa nước hẹp và thiếu nên nhìn chung đồng bào các dân tộc ở

Do thiếu ruộng nước canh tác, khó khăn về lương thực và thiếu thốn về thực
phẩm của các cộng đồng nằm trong khu bảo tồn, đặc biệt vùng nghiêm ngặt và phục
hồi sinh thái. Do vậy tình trạng đốt nương làm rẫy một vài nơi vẫn xảy ra và tình
trạng du canh du cư đã làm ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, ảnh hưởng tới giá
trị bảo tồn nguyên vẹn, tới phục hồi hệ sinh thái nguồn gen động thực vật rừng.
Mặt khác do sức ép gia tăng dân số tự nhiên, tăng dân số cơ giới do di dân tự
do làm cho sự quản lý của chính quyền địa phương còn gặp nhiều khó khăn, từ đó
trực tiếp hoặc gián tiếp đã ảnh hưởng tiêu cực vào khu BTTN Xuân Nha.
Mức thu nhập bình quân đầu người trong vùng qui ra thóc từ 150-250
kg/người/năm, trong đó có Gạo, Ngô là 2 loại lương thực chính đạt 65-70%, còn lại
là Sắn, Khoai và các loại nông sản khác.
Cụ thể bình quân lương thực của 3 xã như sau:
- Xã Lóng Sập: 708 kg/người/năm
- Xã Chiềng Sơn: 1460 kg/người/năm
- Xã Xuân Nha: 603 kg/người/năm
Nhìn chung đời sống của người dân ven và trong vùng Bảo tồn thiên nhiên
còn gặp nhiều khó khăn. Những khó khăn trong sản xuất mùa vụ đã làm cho nhiều
hộ gia đình bị thiếu ăn từ 5-6 tháng, những hộ này thường tập trung vào vùng phục
hồi sinh thái và vùng cao nơi bảo tồn nguyên vẹn của Khu bảo tồn thiên nhiên.
Do vậy đầu tư vào sản xuất đối với các đối tượng này cần sự quan tâm và ưu
tiên đúng mức để góp phần tích cực khôi phục hệ sinh thái rừng ở Xuân Nha.
3.8.3. Phân mức độ giàu nghèo
- Mật độ trung bình tính chung cả 3 xã là 36 người/km2.
- Mật độ trung bình tính riêng 3 xã trong khu BTTN Xuân Nha là 46 người/km2.
- Nhìn chung mật độ dân số phân bố thuộc diện thấp, khả năng cho phép qui
hoạch khu dân cư và Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha để phục vụ chủ trương phát
triển kinh tế, xã hội của địa phương nói riêng và trong hệ thống phát triển kinh tế xã
hội đất nước nói chung.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status