TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
PHẠM THỊ HỒNG HẠNH
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO
TRẺ MẪU GIÁO THÔNG QUA
CÁC BÀI THƠ PHÁT TRIỂN
KĨ NĂNG SỐNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Phương pháp Phát triển ngôn ngữ
HÀ NỘI - 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
PHẠM THỊ HỒNG HẠNH
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO
TRẺ MẪU GIÁO THÔNG QUA
CÁC BÀI THƠ PHÁT TRIỂN
KĨ NĂNG SỐNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Phương pháp Phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI - 2017
Sinh viên
Phạm Thị Hồng Hạnh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.................................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................ 4
4. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................... 4
5. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................... 4
7. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 5
8. Cấu trúc khoá luận ................................................................................................ 5
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN VỐN TỪ
CHO TRẺ MẪU GIÁO THÔNG QUA CÁC BÀI THƠ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
SỐNG .......................................................................................................................... 6
1.1
Cơ sở lí luận ...................................................................................................... 6
1.1.1
Cơ sở ngôn ngữ học ................................................................................... 6
1.1.2
Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo ..................................... 12
2.1.1
Vai trò của thơ ca đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo....... 28
2.1.2
Vai trò của thơ ca đối với sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo ............ 28
2.1.3
Thơ phát triển kĩ năng sống với sự phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo .. 30
2.2
Phát triển vốn từ kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động học tậpError! Book
2.2.1
Biện pháp đọc diễn cảm thơ phát triển kĩ năng sống ............................... 31
2.2.2
Biện pháp đàm thoại giảng giải nội dung ................................................ 34
2.2.3
Biện pháp giải nghĩa từ khó ..................................................................... 37
2.2.4
3.5
Phân tích kết quả điều tra ................................................................................ 45
3.6
Giáo án ............................................................................................................ 49
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 60
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân, nó có tầm quan trọng trong việc đặt nền móng đầu tiên cho việc giáo dục
hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Chính vì thế mà bậc học mầm non luôn
được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm. Việc chăm sóc giáo dục trẻ toàn
diện là một vấn đề quan trọng trong chiến lược phát huy nhân tố con người
của Đảng và nhà nước cũng chính là mục tiêu của giáo dục mầm non. Một
trong những nhiệm vụ hàng đầu ở trường mầm non là phát triển ngôn ngữ
mạch lạc- làm giàu vốn từ cho trẻ. Công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ được
nhà giáo dục mầm non nôỉ tiếng Eiti- Khêva xem là khâu chủ yếu nhất của
việc hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề thành công của các công tác
khác.
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người. Ngôn ngữ
là công cụ để giao tiếp, học tập, vui chơi, ngôn ngữ giữ vai trò quyết định phát
triển tâm lý trẻ em. Trẻ em có nhu cầu rất lớn trong việc tìm hiểu thế giới
xung quanh và ngôn ngữ là phương tiện cần thiết nhất để giúp trẻ khám phá
thế giới xung quanh.Ngôn ngữ phát triển tốt đồng nghĩa với nhận thức và giao
dễ dàng tiếp thu và cảm nhận giá trị của cuộc sống. Thơ ca là phương thức
đắc lực bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ mà không gì có thể thay thế được.
Trẻ tuổi mẫu giáo các con đang chập chững những bước đầu tiên trên
đường đời, bắt đầu tự lập hơn bắt đầu được giáo dục một cách hệ thống. Trẻ
cần được trao tặng những hành trang để vào đời. Chính vì vậy việc phát triển
vốn từ và giáo dục kĩ năng sống là vô cùng cần thiết. Là giáo viên mầm non
tương lai hiểu được tầm quan trọng của ngôn ngữ và nhiệm vụ phát triển vốn
từ cho trẻ mầm non, cùng với niềm đam mê của mình đối với lĩnh vực phát
triển vốn từ thông qua các bài thơ phát triển kĩ năng sống. Chúng tôi quyết
định chọn đề tài: Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo thông qua các bài thơ
phát triển kĩ năng sống.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển
rất mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm
lịch sử - xã hội của nền văn hoá loài người. Vấn đề phát triển ngôn ngữ cho
trẻ đã được các nhà nghiên cứu khoa học hết sức quan tâm. Đã có rất nhiều
những công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này đã được ghi nhận.
Trong cuấn Tiếng Việt tập 1 và Tiếng Việt tập 2, tác giả Nguyễn Xuân
Khoa cung cấp những kiến thức cơ bản về Tiếng Việt, từ đó giáo viên có vốn
kiến thức tốt để phát triển tiếng mẹ đẻ cho trẻ. Cuốn sách là tài liệu cần thiết
và bổ ích cho giáo viên cũng như sinh viên ngành Giáo dục mầm non.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa với Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo đã đưa ra một số hình thức, phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo một cách chi tiết và cụ thể.
Tác giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với
Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi. Tác giả đã đưa ra các
phương pháp để giúp tăng vốn từ của trẻ.
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích phát triển vốn từ cho
trẻ mẫu giáo thông qua các bài thơ phát triển kĩ năng sống.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là những bài thơ phát triển kĩ năng sống.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của khoá luận chúng tôi chỉ nghiên cứu vấn đề phát
triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo thông qua các bài thơ phát triển kĩ năng sống ở
trường mần non Ngô Quyền- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Chúng tôi nghiên cứu nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
4
- Đưa ra một số biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
thông qua các bài thơ phát triển kĩ năng sống.
- Thực nghiệm sư phạm tại lớp mẫu giáo trường mầm non Ngô QuyềnVĩnh Yên- Vĩnh Phúc.
7. Phương pháp nghiên cứu
Trong khoá luận này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp.
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp so sánh khái quát.
- Phương pháp điều tra thực nghiệm.
8. Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển vốn từ cho trẻ mẫu
giáo thông qua các bài thơ phát triển kĩ năng sống
Chương 2: Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo thông
còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển giáo dục trẻ là một điều
kiện quan trọng để trẻ tham gia mọi hoạt động và hình thành nhân cách trẻ.
Ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động của trẻ và ngược lại, mọi hoạt động
tạo điều kiện thúc đẩy ngôn ngữ của trẻ phát triển.
Sự phát triển ngôn ngữ hay vốn từ của trẻ bị ảnh hưởng nhiều bởi tác
phẩm văn học đặc biệt là thơ ca. Trong hoạt động học tập khi mà trẻ được
nghe những bài thơ hay và học những bài thơ đó sẽ giúp trẻ mở rộng vốn từ
6
một cách dễ dàng và hiệu quả. Vì trẻ mầm non rất dễ bắt nhịp với vần điệu,
nhịp điệu dễ nhớ, dễ thuộc của thơ ca. Qua đó làm giàu vốn từ cho trẻ bằng
những từ mới, giải ghĩa từ khó cho trẻ hiểu, đào sâu phân tích, chính xác hóa
vốn từ để trẻ hiểu chính xác nghĩa của từ; tích cực hóa vốn từ cho trẻ. Bằng
vốn ngôn ngữ của mình trẻ có thể biểu đạt sự hiểu biết của mình để người
khác hiểu cũng như hiểu lời nói của người khác. Trong giáo dục mầm non,
giáo viên cần chú ý rèn luyện phát triển ngôn ngữ đặc biệt là phát triên vốn từ
cho trẻ để trẻ có thể áp dụng vào cuộc sống hằng ngày.
1.1.1.1
Khái niệm từ
Dưới góc độ ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ học đã định nghĩa về Từ
Tiếng Việt như sau:
Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn
chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời
nói để tạo nên câu.
Từ là đơn vị nhỏ nhất, là một âm hay một tổ hợp âm có nghĩa của một
ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây
dựng nên câu.
Dựa vào tần số sử dụng của các từ trong đời sống xã hội, người ta phân
chia vốn từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động.
Vốn từ tích cực là những từ được con người nắm vững, có tần số sử
dụng cao trong cuộc sống hằng ngày.
Vốn từ thụ động: gồm những từ ít hoặc không được sử dụng. Đó là
những từ không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại (bao cấp, tem phiếu...)
hoặc mang nghĩa riêng, chưa được sử dụng rộng rãi.
Đối với trẻ mầm non, vốn từ tích cực là những từ trẻ hiểu được và biết
vận dụng trong các tình huống giao tiếp. Còn vốn từ thụ động là những từ trẻ
chưa hiểu ý nghĩa hoặc có hiểu nhưng không biết vận dụng trong giao tiếp
(không nói ra được).
*Các tiểu hệ thống cấu tạo nên vốn từ
Vốn từ của trẻ được cấu thành từ các tiểu hệ thống đó là âm thanh, ngữ
nghĩa, câu trúc chung và cách sử dụng trong giao lưu hàng ngày, cách tổng
8
hợp vào hệ thống sinh hoạt hàng ngày. Chúng đều phụ thuộc vào các yếu tố
sau:
Phát âm: dạy trẻ phát âm các âm tiếng Việt, phát âm các danh từ, động
từ, tính từ…phát âm các từ trong câu, phát âm cả câu, biểu đạt sự phát âm
bằng cách hạ giọng, nhấn mạnh sự kéo dài từ, thể hiện những biểu cảm cùng
những cử chỉ, lời nói.
Ngữ nghĩa: là một khái niệm nào đó được diễn đạt trong một từ hay
trong một tập hợp từ. Khi trẻ mới sử dụng từ thì từ đó không có ý nghĩa giống
như người lớn. Để xây dựng vốn từ từ hàng ngàn từ và liên kết chúng bằng
mạng lưới có liên quan đến nhau. Qua thời gian trẻ lớn lên về mặt tâm lí, sinh
lí, tham gia vào nhiểu hoạt động xã hội trẻ không những sử dụng một cách
chính xác mà còn có ý thức với ngữ nghĩa của từ và thực hiện chúng một cách
rời nhau. Trường mầm non có nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ cả về số
lượng và chất lượng. Dạy trẻ không chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sử
dụng từ đúng, loại ra những từ không đẹp trong lời nói của trẻ, dạy trẻ biết
cách sử dụng một số biện pháp tu từ đơn giản trong giao tiếp hàng ngày.
Phát triển vốn từ được hiểu như là một quá trình lâu dài trẻ tích lũy vốn
từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tình huống giao
tiếp cụ thể. Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ được sử dụng trong câu,
trong lời nói. Vì vậy, công tác phát triển vốn từ cần được tiến hành chặt chẽ
với việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ. Xem xét quá trình hình thành và
phát triển vốn từ ở trẻ, ta có thể thấy được trẻ lĩnh hội nghĩa cụ thể của từ và
nội dung khái niệm của từ, nó có liên quan đến quá trình nhận thức của trẻ;
đồng thời, trẻ còn lĩnh hội vốn từ như là một yếu tố của lời nói như cách sử
dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa,
đồng nghĩa…, cách sử dụng từ trong câu.
1.1.1.4
Vai trò của phát triển vốn từ
Vốn từ có vai trò rất quan trọng trong quá trình lĩnh hội và phát triển
ngôn ngữ cho trẻ. Phát triển vốn từ là hoạt động tâm lí mà ở đó có một hoặc
nhiều chủ thể cùng tham gia hoạt động. Nhờ có hoạt động này mà ngôn ngữ
mới hoàn thành được chức năng của mình:
10
• Chức năng giao lưu
• Chức năng truyền đạt, tiếp thu, ghi nhớ
• Chức năng biểu danh những tên gọi của sự vật, hiện tượng
• Chức năng biểu niệm của ngôn ngữ, khái niệm
• Chức năng biểu cảm, thông hiểutình cảm, hiểu đối tượng giao lưu
với việc phát triển vốn từ, chúng ta thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức và
thẩm mỹ.
1.1.2 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo
1.1.2.1
Khái niệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
U.Sinxki đã khẳng định: “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển,
là vốn quý của mọi tri thức”. Từ đó, có thể thấy rằng ngôn ngữ có vai trò rất
to lớn trong cuộc sống của con người. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp,
đồng tời cũng là công cụ của tư duy. Nhờ ngôn ngữ con người có thể trao đổi
với nhau hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm hay tâm sự với nhau
những nỗi niềm thầm kín…
Trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước, chúng ta càng
thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ. Ngôn ngữ đã góp
phần đào tạo các mầm non trở thành những con người phát triển toàn diện.
Về mặt trí tuệ: Ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới
xung quanh, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ tư duy. Chính vì thế
mà thông qua ngôn ngữ trẻ có thể nhận thức về thế giới xung quanh một cách
sâu rộng, rõ ràng, chính xác. Cho nên việc phát triển trí tuệ cho trẻ không thê
tách rời việc phát triển ngôn ngữ.
Về mặt đạo đức: Ngôn ngữ có vai trò không nhỏ trong việc giáo dục
đạo đức cho trẻ. Ngôn ngữ góp phần quan trọng trong việc trang bị cho trẻ
dôi dào những hiểu biết về nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ
những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống.
Về mặt thâm mỹ: Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác
động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái
12
13
* Về mặt số lượng
So với tuổi nhà trẻ (0-3 tuổi), trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ (3-6 tuổi) có số
lượng từ nhiều hơn hẳn. Về số lượng của trẻ từ mẫu giáo, các nhà ngôn ngữ
học và tâm lí học có đưa ra những số liệu khắc nhau:
N.D.Levitốp
3.5 tuổi
:1000 từ
Yupratuxevich
4 tuổi
:1900 từ
5 tuổi
:2500 từ
M.Becgiorong
3.5 tuổi
:1222 từ
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ
Danh từ chiếm: 35.5%
Tính từ chiếm: 8.64%
Trạng từ chiếm: 3.73%
- Trẻ 6 tuổi danh từ giảm 34.47% xuống 30.97% tính từ tăng từ 9.94%
lên 11.64%
Trẻ mẫu giáo nói nhiều chưa phải nói hay,vì vậy cần phải mở rộng các
loại từ để trẻ biết nói hay,biết sử dụng từ gợi cảm, từ văn học. Trẻ em mẫu
giáo cũng bắt đầu bộc lộ những nét riêng: có trẻ dùng tính từ, trạng từ nhiều
hơn trẻ khác
+ Về danh từ: nội dung ý nghĩa của từ được mở rộng, phong phú
hơn ở những từ có nghĩa rộng.
Ví dụ: từ “bánh” có khỏng 20 từ khác nhau, từ “hoa” có rất nhiều loại
khác nhau ( cũng như từ “phương tiện giao thông”, “đồ gỗ…”)
Những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn tăng. Ở trẻ còn có những danh
từ mang tính văn học.
Ví dụ: Áng mây, đóa hoa…
Trẻ biết sử dụng một số từ chỉ những khái niệm trừu tượng ( ví dụ:
Kiến trúc tài năng), mặc dù trẻ chưa hiểu biết của những từ đó.
+ Về động từ: phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển
thêm những nhóm từ mới như: nhảy nhót, ngo ngoe, rơi lộp bộp, leng
keng,…những động từ chỉ sắc thái khác nhau như: chạy vèo vèo, chạy lung
tung, chạy loạn xạ.
Xuất hiện thêm những động từ mang nhiều nghĩa trừu tượng: Giao dục,
khánh thành…
+ Về tính từ: Phát triển về số lượng cũng như chất lượng tính từ. Trẻ
sử dụng nhiều những từ có tính chất gợi cảm:
Ví dụ: chua chua, chua loét, ngọt lịm; to đùng, tròn vo, tròn xoe…
Hình tượng hình, từ tượng thanh:
15
-
Mức độ 3: ở mức độ cao hơn mà trẻ 5 – 6 tuổi hiểu được:
phương tiện giao thông (ô tô, tàu hỏa, xe máy), đồ vật (đồ chơi, đồ dùng học
tập, đồ nấu bếp, đồ thể thao)…
-
Mức độ 4: khái quát tối đa những khái niệm trừu tượng: số
lượng, chất lượng, hành động… ( học ở cấp phổ thông )
Trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ hiểu được nghĩa biểu danh ( mức độ zero và mức
độ 1). Mức độ 2,3 chỉ dành cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn.
1.1.3 Cơ sở tâm lí
1.1.3.1
Đặc điểm tri giác
16
Trẻ mẫu giáo thường tri giác những gì phù hợp với nhu cầu, những gì
thường gặp hoặc được giáo viên chỉ dẫn. Tính cảm xúc thể hiện rất rõ khi các
em tri giác. Những gì trực quan rực rỡ, sinh động được trẻ trực giác tốt hơn.
Điều này cho thấy tính cần thiết phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học
nói chung và trong kể chuyện nói riêng
1.1.3.2
Đặc điểm tư duy
Tư duy là một trong những đặc điểm tâm lí quan trọng, có ảnh
Trí tưởng tượng
Nét nổi bật trong tâm lí trẻ em lứa tuổi mẫu giáo (5 – 6) là sự phong
phú về trí tưởng tượng. Khác với trẻ ở độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo bé và mẫu
giáo nhỡ trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi đã biết dùng sự tưởng tượng của mình để
khám phá thế giới và tự thoả mãn nhu cầu nhận thức của bản thân, để tiếp thu
sáng tạo nghệ thuật và ngược lại, trí tưởng tượng phong phú, bay bổng trong
các tác phẩm thơ sẽ chắp cánh cho những ước mơ, hoài bão sáng tạo của trẻ.
Như vậy, trí tưởng tượng là một phần quan trọng của các quá trình tâm lí góp
phần tích cực vào hoạt động tư duy, nhận thức và phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lí, tưởng tượng của trẻ em lứa tuổi này đã
bắt đầu mang tính chất sáng tạo. Đặc biệt là giai đoạn đầu tiên của tưởng
tượng, đó là tưởng tượng hoang đường. Đặc điểm của giai đoạn này là thiên
về những điều kỳ diệu khác thường. Đây chính là cơ hội để chúng ta sử dụng
các tác phẩm văn học, nhất là truyện cổ tích cho trẻ làm quen. Thế giới nghệ
thuật tươi đẹp và chứa đầy những điều bí ẩn, thần kỳ của các câu chuyện cổ
tích sẽ khơi dậy những tiềm năng sáng tạo kỳ diệu ở trẻ. Các cô giáo mầm
non cần có sự hiểu biết và những kĩ năng cảm thụ tác phẩm để tìm ra con
đường tốt nhất giúp trẻ tiếp nhận tác phẩm thơ, truyện một cách có hiệu quả.
1.1.3.4
Khả năng chú ý
Đặc điểm chú ý của trẻ 5 – 6 tuổi chủ yếu là không chủ định. Trẻ mẫu
giáo chỉ chú ý, ghi nhớ những gì mình thích và có thể liên quan đến nhu cầu
chính của bản thân trẻ, những gì gây ấn tượng xúc cảm đối với trẻ, cúng dễ bị
phân tán sự chú ý. Vì vậy để tổ chức cho trẻ đọc diễn cảm tác phẩm thơ phải
18