TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
HOÀNG PHƢƠNG THANH
MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
QUA TẬP THƠ GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI
CỦA NHÀ THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. VŨ THỊ TUYẾT
HÀ NỘI, 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 1
3. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 4
4. Đối tƣợng nghiên cứu ..................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 4
6. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 4
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................ 4
NỘI DUNG ........................................................................................................ 6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ......................................................................... 6
1.1. Cơ sở tâm lí ................................................................................................. 6
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 71
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nói về ngôn ngữ một nhà giáo dục học nổi tiếng ngƣời Nga E.I.Tikheeva
đã khẳng định: “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở phát triển trí tuệ và là nguồn gốc để chiếm
lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc và nhân loại”. Nhƣ vậy ta có thể thấy ngôn
ngữ có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống con ngƣời. Đó là phƣơng tiện giao
tiếp quan trọng nhất giữa con ngƣời với con ngƣời và là phƣơng tiện, công cụ để
tƣ duy.
Trong giáo dục mầm non, việc phát triển ngôn ngữ nói chung và mở rộng
vốn từ cho trẻ nói riêng rất cần thiết bởi ngôn ngữ là công cụ cơ bản nhất để
gíup trẻ giao tiếp, học tập và vui chơi, cũng là phƣơng tiện để trẻ lĩnh hội kiến
thức sơ đẳng nhất ở trƣờng mầm non trƣớc khi trẻ bƣớc vào bậc tiểu học.
Trong các nhà thơ viết cho thiếu nhi chúng ta không thể không kể đến nhà
thơ Trần Đăng Khoa - một nhà thơ đƣợc mệnh danh là thần đồng của nền thi ca
Việt Nam. Làm thơ từ khi lên tám tuổi, ông đã sáng tác rất nhiều bài thơ ngộ
nghĩnh, đặc sắc, tƣơi vui dành cho thiếu nhi trong đó Góc sân và khoảng trời
đƣợc coi là tập thơ đặc sắc nhất, in đậm dấu ấn thành công của tác giả. Tập thơ
này có rất nhiều bài thơ hay với nội dung gần gũi, quen thuộc, giọng thơ hồn
nhiên, ngôn từ trong sáng, giản dị.
Trong chƣơng trình mầm non hiện nay, thơ của Trần Đăng Khoa chƣa
đƣợc đƣa nhiều vào giảng dạy. Vì những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài
“Mở rộng vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn qua tập thơ Góc sân và khoảng trời của
nhà thơ Trần Đăng Khoa” với mong muốn đƣa thơ của ông đến gần hơn với trẻ
mầm non, góp phần mở rộng vốn từ cho trẻ.
2. Lịch sử vấn đề
Trong chƣơng trình chăm sóc và giáo dục mầm non, mở rộng vốn từ cho
trẻ mẫu giáo lớn chiếm một vị trí rất quan trọng. Bởi vậy, đã có rất nhiều công
sân và khoảng trời nói riêng đã để lại những ấn tƣợng sâu sắc trong lòng bạn đọc
nhỏ tuổi. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học,...tìm hiểu về tập
thơ Góc sân và khoảng trời ở những phƣơng diện khác nhau nhƣ:
2
Nhà nghiên cứu Vũ Đình Minh trong Thiên nhiên trong thơ viết cho các
em viết: “Cái góc sân và khoảng trời, đầu tiên mà các em tiếp xúc sẽ hằn sâu
trong trí nhớ của các em cho đến khi về già, góp vào cái nền quan trọng trong
việc hình thành tính cách của các em sau này. Một đường dây, một vườn hoa
sặc sỡ, cơn mưa đầu mùa hạ với tiếng sấm vỡ ra trên bầu trời náo nức, vòm hoa
gạo đỏ như lò than khổng lồ rừng rực cháy, đám mây râm mát, cơn gió trải trên
cánh đồng xanh mướt lá ngô non các em đang chạy thả diều, hấp dẫn biết bao
cặp mắt thơ ngây của các em.” [11;35]
Trong bài viết Đọc lại thơ Trần Đăng Khoa, tác giả Đình Kính cũng nhận
xét “Trần Đăng Khoa là người có tài quan sát, quan sát rất tinh tế . Từ hương
nhãn, hoa bưởi, tiếng chim chích chòe, tiếng trống làng, tiếng máy cày xình
xịch, đến chiếc ngõ nhỏ, cánh đồng làng, cây dừa, thậm chí là cả bé Giang tập
xe đạp, đánh tam cúc với mèo, rồi một bông hoa duối, một cây xoan, một bến
đò...cũng thành thơ, lại là thơ không xoàng thì giỏi quá” [8;9]
Phạm Hổ trong tiểu luận “Đọc lại thơ Trần Đăng Khoa” cho rằng: Trần
Đăng Khoa đã không viết về cái gì xa lạ mà viết về những cái ở ngay làng quê
mà ngày ngày em trông thấy và hầu nhƣ “toàn bộ thơ Trần Đăng Khoa là viết
bằng lòng yêu thương...” [4;887]
Lã Thị Bắc Lý đã nêu những nội dung cơ bản trong thơ Trần Đăng Khoa,
trong đó nội dung hàng đầu là thiên nhiên: “Thơ Trần Đăng Khoa luôn gợi cho
bạn đọc cảm nhận về một thiên nhiên nông thôn thuần nhất , tinh nguyên và hết
sức mơ mộng ...thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa không chỉ là sự yên tĩnh
thơ mộng mà còn đầy sức sống, luôn luôn vận động và phát triển” [9;155]
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc mở rộng vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn qua một số
bài thơ trong tập thơ Góc sân và khoảng trời của nhà thơ Trần Đăng Khoa.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp thống kê phân loại
- Phƣơng pháp miêu tả
- Phƣơng pháp so sánh đối chiếu
4
5
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Cơ sở tâm lí
Ngay những năm tháng đầu tiên trong cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất
mạnh mẽ tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch
sử - xã hội của nền văn hóa loài ngƣời. Nó giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển
tƣ duy, giúp trẻ giao tiếp đƣợc với mọi ngƣời xung quanh, là phƣơng tiện để trẻ
điều chỉnh, lĩnh hội những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực.
Đứng ở góc độ tâm lí học, các nhà ngôn ngữ học thấy rằng: việc tiếp thu
ngôn ngữ có nhiều đặc điểm khác với việc tiếp thu kiến thức trong lĩnh vực
khác. Trẻ em không có ý thức về ngôn ngữ nhƣng bằng cách bắt chƣớc có tính
bản năng trẻ sẽ học đƣợc cách nói của những ngƣời xung quanh. Tuy nhiên, đến
một độ tuổi nhất định, khi tƣ duy phát triển đến một mức độ cần thiết thì có thể
dạy trẻ học nói nhƣ các môn học khác.
Ở độ tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã tập làm quen với các tiết học để lĩnh hội
những tri thức đơn giản gần gũi đối với trẻ, nhƣng là tiền đề để trẻ bƣớc vào lớp
biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, và đặc biệt là nói dúng hệ
thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về
phƣợng diện cú pháp và về phƣơng diện tu từ, nói năng mạch lạc thoải mái.
Các hiện tƣợng tâm lí nhƣ tri giác, trí nhớ, tƣởng tƣợng về cơ bản là sự
nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi 4 - 5 nhƣng chất lƣợng mới hơn. Mức độ chủ
định các quá trình tâm lí rõ ràng hơn, có ý thức hơn. Tính mục đích hình thành
và phát triển ở mức độ cao hơn. Độ nhảy cảm của các giác quan tinh nhạy hơn.
Khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lí đƣợc phát triển. Trong giai đoạn này,
quá trình tâm lí của trẻ phát triển mạnh mẽ và đặc trƣng nhất đó là tƣ duy. Sự
phát triển tƣ duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác và thiết lập
nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tƣợng, thông tin giữa mới
và cũ, gần và xa…Các phẩm chất về tƣ duy đã bộc lộ đủ về cấu tạo và chức
năng hoạt động của nó nhƣ tính mục đích, tính độc lập, sáng tạo, tính linh hoạt,
7
độ mềm dẻo… Trẻ 5 – 6 tuổi phát triển cả ba loại tƣ duy trong đó tƣ duy trực
quan hành động trực quan vẫn chiếm ƣu thế và có liên hệ mật thiết với ngôn
ngữ. Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp trẻ nhận ra bài toán cần phải
giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch tìm ra cách giải quyết và nghe những lời giải
thích, hƣớng dẫn của ngƣời lớn.
Nhƣ vậy, đặc điểm tâm lí của trẻ mầm non nói chung và độ tuổi mẫu giáo
lớn nói riêng đƣợc hình thành và phát triển mạnh mẽ song lại chịu ảnh hƣởng
sâu sắc của sự phát triển ngôn ngữ. Việc phát triển vốn từ cho trẻ trong giai đoạn
này góp phần quan trọng trong việc phát triển tƣ duy, trí tuệ, tình cảm và đặt nền
móng cho sự hoàn thiện nhân cách con ngƣời.
1.2. Cơ sở sinh lí
Các nhà sinh lí và giải phẫu học đã chứng minh cơ sở vật chất của đời
sống trẻ phụ thuộc vào bộ não và hoạt động thần kinh cao cấp. Cho đến lúc chào
1.3. Cơ sở ngôn ngữ
1.3.1. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non
1.3.1.1. Vốn từ xét về mặt số lượng
Theo tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn Phƣơng pháp phát triển lời nói
cho trẻ em nghiên cứu:
Từ 12 tháng trở đi, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện các từ chủ động đầu
tiên. Ở 18 tháng tuổi, số từ bình quân từ 11 từ, trẻ bắt chƣớc ngƣời lớn lặp lại
một số một số từ đơn gần gũi: mẹ, bà, bố,…
Từ 19 đến 21 tháng, số lƣợng từ tăng nhanh. Đến 21 tháng trẻ đạt tới 220
từ. Giai đoạn 21 – 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt 234 từ vào tháng 24, sau đó
lại tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ, 36 tháng đạt 486 từ.
Đến năm thứ 3, trẻ đã sử dụng đƣợc trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động
từ, tính từ và các loại khác rất ít danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các
con vật gần gũi nhƣ: mèo, chó, chim,…Động từ chỉ hoạt động với trẻ và nhứng
ngƣời xung quanh nhƣ: ăn, uống, ngủ, đi,…
Trẻ 4 tuổi có thể nắm đƣợc xấp xỉ 700 từ. Ƣu thế vẫn thuộc về danh từ và
động từ. Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ.
9
Từ 5 - 6 tuổi, vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1.033 từ; tính từ và các
loại từ khác đã chiếm một tỉ lệ cao hơn.
Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi: cuối 3
tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 10,7%; cuối 4 tuổi so với dầu 4 tuổi vốn từ
tăng 40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi vốn từ chỉ tăng 10,40%; cuối 6 tuổi so
với đầu 6 tuổi vốn từ cũng chỉ tăng 10,01%.
Nhƣ vậy, ta có thể nhận thấy quy luật tăng số lƣợng từ của trẻ nhƣ sau:
- Số lƣợng từ của trẻ tăng theo thời gian.
- Sự tăng có tốc độ không đồng đều, có giai đoạn tăng nhanh, co giai đoạn tăng
(gà, chó, mèo);…
- Mức độ 4: Khái quát tối đa, gồm những khái niệm trừu tƣợng: số lƣợng,
chất lƣợng, hành động,…(học ở cấp phổ thông).
Đối với trẻ em tuổi mầm non, khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu đƣợc nghĩa biểu
danh (mức độ zêrô và 1). Mức 2 và 3 chỉ dành cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là mẫu
giáo lớn.
1.3.1.4. Vốn từ tích cực và vốn từ chủ động
Trẻ mẫu giáo lĩnh hội vốn từ ngữ chỉ là bƣớc đầu nên không phải tất cả
các từ chúng tiếp nhận và sử dụng ngay. Có những từ ngữ tích cực, trẻ hiểu và
sử dụng trong giao tiếp đƣợc. Loại này có số lƣợng hạn chế. Loại vốn từ thụ
động bao gồm những từ trẻ mới lĩnh hội. Kinh nghiệm sống và tri thức còn
nghèo nàn nên trẻ chƣa hiểu rõ nghĩa của từ nên không sử dụng đƣợc. Trẻ mẫu
giáo có giai đoạn chỉ nghe hiểu mà không nói đƣợc.
1.3.1.5. Đặc trưng lĩnh hội vốn từ của trẻ mẫu giáo
Nhờ có đặc điểm trực quan hành động và trực quan hình tƣợng của tƣ duy
nên trƣớc hết trẻ nắm đƣợc các tên gọi của sự vật, hiện tƣợng, thuộc tính, quan
hệ mang tính chất biểu tƣợng trực quan và phù hợp với hoạt động của chúng.
Sự lĩnh hội nghĩa của từ diễn ra dần dần: thoạt đầu, trẻ chỉ đối chiếu từ với
cụ thể (không có nghĩa khái quát); sự thâm nhập dần của trẻ hiện thực (khám
phá ra những thuộc tính, dấu hiệu, bản chất, khái quát theo dấu hiệu nào đó),…
11
Dần dần cùng với sự phát triển tƣ duy, trẻ mới nắm đƣợc nội dung khái niệm
trong từ việc nắm nghĩa từ còn biến đổi trong suốt tuổi mẫu giáo.
Vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lƣợng nhỏ hơn rất nhiều so với số lƣợng
vốn từ của ngƣời lớn. Vì khối lƣợng tri thức của chúng còn quá hạn hẹp.
1.3.2. Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ 5 - 6 tuổi có thể sử dụng thông thạo tiếng mẹ đẻ để giao tiếp. Tốc độ
đƣợc trẻ 5 - 6 tuổi dùng nhiều hơn các tuổi khác.
1.3.3. Từ loại
1.3.3.1. Khái niệm
Từ loại là sự phân loại vốn từ của một ngôn ngữ cụ thể thành những loại,
những hạng vào những đặc trƣng ngữ pháp. Sự quy loại một lớp từ nào đó vào
một loại từ nhất định đƣợc xác định bởi những đặc trƣng về ngữ nghĩa, về hoạt
động ngữ pháp của nó trong việc thực hiện một chức vụ cú pháp nhất định. Nó
đơn gairn là những lớp từ đƣợc phân chia theo đặc điểm ngữ pháp giống nhau.
1.3.3.2. Hệ thống từ loại
Căn cứ vào tiêu chí phân định từ loại và ý nghĩa của từ loại, từ loại đƣợc
chia thành ba nhóm:
Nhóm 1: Thực từ là những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm
thành phần câu gọi là thực từ. Nhóm từ này gồm: danh từ, động từ, tính từ.
Nhóm 2: Hƣ từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, mà chỉ
có tác dụng làm công cụ ngữ pháp để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau của
các từ. Nhóm này gồm: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ.
Nhóm 3: Lớp từ trung gian gồm: đại từ và số từ.
1.3.3.2.1. Thực từ
Danh từ
* Khái niệm
Danh từ là từ loại bao gồm những từ có ý nghĩa khái quát sự vật. Đó là
những thực từ chỉ vật thể - ngƣời, động vật, thực vật, đồ vật, những hiện tƣợng
tự nhiên, hiện tƣợng xã hội và những khái niệm trừu tƣờng…đƣợc con ngƣời
nhận thức và phản ánh nhƣ các vật thể tồn tại trong hiện thực.
13
* Phân loại
+ Danh từ riêng: Là danh từ gọi tên sự vật, hiện tƣợng cụ thể riêng biệt,
về đặc trƣng, tính chất hoặc là đặc trƣng ấy không có gì để so sánh.
VD: trên, dưới, trái, phải, trắng toát, đen xì, thơm phức,...
+ Tính từ chỉ tính chất đặc trƣng theo thang độ: chúng có khả năng kết
hợp với các phụ từ chỉ mức độ bao gồm:
- Tính từ chỉ màu sắc: vàng, nâu, đen, trắng,…
- Tính từ kích thƣớc thƣớc: dài, ngắn,..
- Tính từ chỉ hình dáng: cao, thấp, béo,…
- Tính từ chỉ mùi vị: thơm, hắc,…
- Tính từ chỉ tính chất vật lí: lỏng, rắn, mềm, nhão,..
- Tính từ chỉ phẩm chất: tốt, xấu,…
- Tính từ chỉ đặc điểm tâm lí: hiền, dữ, ác
- Tính từ chỉ đặc điểm sinh lí: khỏe, yếu,...
- Tính từ chỉ trí tuệ: thông minh, ngu, đần, khôn,…
1.3.3.2.2. Hư từ
Phụ từ
* Khái niệm
Phụ từ là những hƣ từ không dùng để gọi tên các sự vật, hiện tƣợng trong
thực tế khách quan mà chỉ có chức năng dẫn xuất hoặc biểu niệm về tình thái.
* Phân loại: căn cứ vào bản chất ngữ pháp của các hƣ từ mà phụ từ thƣờng đi
kèm, có thể chia phụ từ thành hai nhóm:
+ Phụ từ chuyên phụ cho danh từ: là những hƣ từ mang ý nghĩa chỉ số. Bổ
sung ý nghĩa về mặt số lƣợng cho danh từ. VD: những, các, mọi, mỗi, từng,...
+ Phụ từ đi kèm với động từ và tính từ: các phụ từ này làm thành tố phụ
trƣớc hoặc thành tố phụ sau, bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho động từ, tính từ. VD:
rất, hơi, quá, lắm, đã, sẽ, đang,...
15
Quan hệ từ
+ Đại từ xƣng hô: là những đại từ dùng để xƣng hô, gọi tên thay thế cho
ngƣời: tôi, chúng tôi, chúng ta, cậu, bạn, mày, nó, hắn, y,…
+ Đại từ chỉ định: đƣợc dùng để chỉ nơi chốn, thời điểm xác định. Sự định
vị này lấy vị trí, thời điểm của ngƣời nói làm móc: này, nay, đây, bây giờ, kia,
bấy giờ,…
+ Đại từ chỉ lƣợng tổng thể: dùng để trỏ và thay thế cho sự vật, thƣờng
mở đầu cho cụm danh từ:cả, tất cả, hầu hết, toàn bộ,…
+ Đại từ nghi vấn: là đại từ dùng trong câu hỏi: ai, gì, nào, ra sao, như thế
nào,…
+ Đại từ phiếm chỉ: là những đại từ không dùng để hỏi mà dùng để chỉ
thời gian, nơi chốn: ai, gì, nào, ra sao,...
+ Đại từ thay thế: là những đại từ dùng để thay thế cho danh từ, động từ,
tính từ, cụm từ hoặc cả câu: thế, vậy,…
Số từ
* Khái niệm
Số từ là những từ chỉ số đếm và số thứ tự.
* Phân loại: theo ý nhãi và cách dùng có thể chia số từ thành hai loại:
+ Số từ chỉ số lƣợng: các số từ chỉ số lƣợng thƣờng đứng trƣớc danh từ
đƣợc bổ sung ý nghãi và trả lời câu hỏi bao nhiêu, mấy.
Có hai loại từ chỉ số lƣợng:
- Số từ chỉ số lƣợng xác định: một, hai, ba, bốn,…
- Số từ chỉ số lƣợng ƣớc chừng: dăm, ba, vài, mấy,…
+ Số từ chỉ số thứ tự: các số từ này chỉ thứ tự sự vật trong mối quan hệ với
các sự vật khác. Chúng đứng sau danh từ đƣợc bổ sung ý nghĩa.
+ Số từ chỉ số thứ tự theo nghĩa nguyên gốc: nhất, nhì, ba, bét,…
+ Số từ chỉ số thứ tự lâm thời, phía trƣớc xuất hiện từ “thứ”: thứ nhất, thứ
hai,…
1.3.4. Trường nghĩa
17
18
biểu vật của nó. Chẳng hạn, trƣờng biểu vật về ngƣời có các từ: đầu, cổ, tay, chân,
mặt, mũi, lƣng, bụng,….Các từ này cũng thuộc trƣờng biểu vật về động vật.
1.3.4.2.2. Trường nghĩa biểu niệm
Trƣờng nghĩa biểu niệm là một tập hợp các từ có chung cấu trúc biểu
niệm [2;176]. Ví dụ, trƣờng biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (phục vụ sinh hoạt)
gồm:
+ Dụng cụ để ngồi, nằm: ghế, giường, phản,…
+ Dụng cụ để chứa đựng: tủ, giường, hòm, chai, lọ, chum, vại….
+ Dụng cụ để đặt: bàn, giá, gác,…
+ Dụng cụ để mặc, che thân: áo, quần, khăn, khố, váy, giày, dép,…
+ Dụng cụ để che, phủ: màn, mùng, khăn, chiếu…
Cũng giống nhƣ trƣờng nghĩa biểu vật các trƣờng nghĩa biểu niệm lớn có
thể phân chia thành các trƣờng nghĩa biểu niệm nhỏ. Từ có nhiều nghĩa biểu
niệm, bởi vậy, một từ có thể đi vào nhiều trƣờng biểu niệm khác nhau và có lõi
trung tâm với các từ điển hình.
1.3.4.2.3. Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)
Để lập nên các trƣờng nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi
tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ,
câu) chấp nhận đƣợc trong ngôn ngữ [2;185]. Ví dụ, trƣờng tuyến tính của từ đi
là: nhanh, chậm, tập tễnh…ra, vào, lên, xuống….chợ, làm, học, buôn, giày…
Cùng với các trƣờng nghĩa dọc là trƣờng nghĩa biểu vật và trƣờng nghĩa
biểu niệm, các trƣờng nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và
cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc
điểm hoạt động của từ.
1.3.4.2.4. Trường liên tưởng
Trƣờng liên tƣởng là tập hợp từ có chung một nét nghĩa ấn tƣợng tâm lí
đƣợc một từ gợi ra. Ví dụ trƣờng liên tƣởng của từ “xanh” bao gồm các đơn vị
ông đƣợc dịch in ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ: Pháp, Đức, Bungari, Hungari,
Na Uy, Bồ Đào Nha, Canađa, Tiệp Khắc, Thụy Điển, Mĩ, Liên Xô (cũ),…Trong
công việc làm thơ, ông có cái may mắn là đƣợc gặp gỡ với nhiều nhà thơ, nhà
20
văn nổi tiếng nhƣ Xuân Diệu, Tố Hữu, Huy Cận, Tô Hoài, Chế Lan
Viên,..Những nhà thơ, nhà văn này đã tận tình dìu dắt để ông sớm vƣợt qua sự
ấu trí, phát triển tƣ duy nghệ thuật và nhanh chóng trƣởng thành trong công việc
làm thơ.
Năm 1975, đang học lớp 10 (tƣơng đƣơng với lớp 12 bây giờ), trong đợt
tổng động viên khi cuộc kháng chiến chống Mĩ vào giai đoạn cuối cùng, nhà thơ
tình nguyện vào bộ đội. Cậu bé làm thơ đã trở thành anh chiến sĩ. Nhà thơ tâm
sự: “Trong thơ tôi, một con đƣờng đã đƣợc nối liền từ cái góc sân nhà ngày thơ
bé đến những hòn đảo xa xôi nhất của Tổ quốc mà tôi đã có mặt. Tôi viết về mọi
ngƣời lính mà tôi yêu mến, và hi vọng có thể nói lên đƣợc phần nào tƣ tƣởng,
tình cảm của họ một cách chân thực. Nhƣng khi họ liên tƣởng về quê chẳng hạn,
thì ngƣời lính ấy, dù ở bất cứ nơi nào để tìm về một nẻo đƣờng quen thuộc và
nhỏ bé để trở về cái làng quê của tôi, ngôi nhà của tôi, bà mẹ của tôi”.
Cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc, Trần Đăng Khoa về học ở trƣờng Sĩ
quan Lục quân, rồi học tiếp ở trƣờng viết văn Nguyễn Du khóa II. Sau đó, nhà
thơ đƣợc cử đi học tại Học viện văn học thế giới mang tên Goóc-ki (Cộng hòa
Liên bang Nga). Trở về nƣớc, Trần Đăng Khoa làm việc ở tạp chí Văn nghệ
quân đội, sau chuyển sang đài tiếng nói Việt Nam.
Năm 1998, nhà thơ cho xuất bản tập Chân dung và đối thoại (Tập 1): Với
lối viết hóm hỉnh, Trần Đăng Khoa đã cố gắng dựng lên một số chân dung các
nhà văn nhà thơ quen biết, hoặc vẫn sống bên cạnh nhà thơ.
Nhìn chung, ở lĩnh vực nào nhà thơ cũng có những đóng góp tích cực một
cách sắc sảo, tuy vậy, trong cảm nhận của đông đảo công chúng bạn đọc, Trần
hƣơng, đất nƣớc, con ngƣời Việt Nam. Đó là tình yêu thƣơng, gắn bó, tự hào, lạc
quan và tin tƣởng vào ngày toàn thắng của cách mạng. Thơ của Trần Đăng Khoa
là sự cảm nhận thiên nhiên, con ngƣời, các sự vật hiện tƣợng diễn ra xung quanh
cuộc sống. Từ cây chuối, gốc dừa, lá trầu, lá bƣởi cho đến đàn kiến hành quân,
con cua đồng hay con chuồn chuồn, chú bƣớm vàng bên bờ cỏ, ngay cả những
hiện tƣợng mây, mƣa, gió, bão, giông… đều có thể trở thành thơ. Tất cả những gì
Trần Đăng Khoa nhắc đến trong thơ không xa lạ, cao siêu mà ngƣợc lại rất gần
22