TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
NGUYỄN THỊ THẢO
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ 4-5 TUỔI DÂN TỘC DAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
HÀ NỘI -2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
NGUYỄN THỊ THẢO
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ 4-5 TUỔI DÂN TỘC DAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
CHỮ VIẾT TẮT
Nxb
DTD
GD
TCDG
DTTS
Nhà xuất bản
Dân tộc Dao
Giáo dục
Trò chơi dân gian
Dân tộc thiểu số
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................. 5
6. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 5
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ............................ 7
1.1. Một số vấn đề về từ và vốn từ trong tiếng Việt ......................................... 7
1.1.1. Từ tiếng Việt ........................................................................................... 7
1.1.2. Vốn từ tiếng Việt ..................................................................................... 8
1.2. Nhiệm vụ và nội dung phát triển vốn từ cho trẻ 4 - 5 tuổi....................... 10
2.2.6. Tạo môi trường học phong phú đa dạng ............................................... 59
2.2.7. Nâng cao nhận thức của giáo viên về việc phát triển ngôn ngữ tiếng
Việt cho trẻ 4-5 tuổi dân tộc Dao trong các hoạt động giáo dục .................... 61
2.3. Thực nghiệm sư phạm .............................................................................. 63
2.3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 63
2.3.2. Nội dung thực nghiệm ........................................................................... 63
2.3.3. Đối tượng thực nghiệm ......................................................................... 64
2.3.4. Địa điểm thực nghiệm ........................................................................... 64
2.3.5. Quy tình thực nghiệm............................................................................ 64
2.3.6. Tiêu chí đánh giá ................................................................................... 64
2.3.7.Giáo án thực nghiệm .............................................................................. 65
2.3.8. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................. 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 73
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu của con người, hoạt động giao tiếp
là hoạt động thông qua phương tiện ngôn ngữ, ngôn ngữ có vai trò rất quan
trọng đối với con người, nhờ ngôn ngữ con người có thể lĩnh hội các tri thức
và người ngày càng phong phú, nó giúp con người có thể thông báo trao đổi
thông tin cho nhau.
Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của con
người nói riêng và xã hội nói chung, nó giúp con người phát triển toàn diện về
các mặt trí tuệ,đạo đức, thể lực, thẩm mĩ. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
thiểu số. Tôi thiết nghĩ để giáo dục công việc này, tôi cần có trình độ hiểu biết
nhất định, đồng thời có biện pháp giáo dục phù hợp để phát triển vốn từ cho
trẻ.
Nhận thức rõ tầm quan trọng ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ em dân tộc
thiểu số nói chung, và trẻ em 4-5 tuổi dân tộc Dao nói riêng, tôi đã chọn đề tài
“Một số biện pháp phát triển vốn từ để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ
mẫu giáo 4-5 tuổi dân tộc Dao”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt chỉ được sinh ra và phát triển
trong xã hội loài người. Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, là chìa khóa để nhận
thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng của nhân loại. Như vậy, ngôn ngữ
không chỉ như một chìa khóa vạn năng nó không chỉ hỗ trợ quan trọng trong
việc giao tiếp giữa con người với con người, mà ngôn ngữ còn là phương tiện
nhận thức thế giới xung quanh, trong lao động mà còn làm cho con người phát
triển cả về tư duy, đạo đức, thể chất thẩm mĩ. Vì vậy, qua nhiều thời đại ngôn
2
ngữ đã trở thành đối tượng nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực: Triết học, toán
học, văn học, tâm lý học, xã hội học…và đạt được nhiều thành công rực rỡ.
Đặc biệt là trẻ em những chủ nhân tương lai của đất nước đã giành được
sự quan tâm rất lớn của người thân, gia đình, nhà trường và xã hội. Việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ như việc khai hoang một miền đất mới bởi đã gây được
sự đầu tư tìm hiểu của các nhà ngôn ngữ ở trong nước.
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, tác giả
Nguyễn Xuân Khoa đã dày công nghiên cứu bộ môn tiếng Việt, tìm hiểu các
mối quan hệ giữa phát triển tiếng với các môn khoa học khác nhằm nghiên
cứu để phát triến ngôn ngữ cho trẻ. Trong cuốn sách này Nguyễn Xuân Khoa
đã đưa ra các phương pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách cụ thể.
phát triển ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở nước ta, xóa dần sự khác biệt giữa các
thổ ngữ, phương ngữ.
Trong bài “nét đẹp trong trong ngôn ngữ dân tộc Tày” của một bài báo
tỉnh Cao Bằng cũng đã nói về mối quan hệ giữa tiếng Tày và tiếng Kinh, ngôn
ngữ tày rất giàu và đẹp. Như vậy, ngôn ngữ dân tộc Tày kết hợp với ngôn ngữ
dân tộc Kinh càng trở nên phong phú, uyển chuyển và tinh tế.
Từ trước đến nay dường như chưa có một đề tài nào nghiên cứu về vấn
đề phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi dân tộc Dao. Vì vậy tôi chọn đề
tài này nhằm tìm ra một số biện pháp để giúp vốn từ của trẻ em dân tộc Dao
ngày càng phát triển, các em ngày càng có khả năng giao tiếp tốt với mọi
người xung quanh bằng tiếng Kinh.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ mẫu
giáo 4-5 tuổi dân tộc Dao.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này cần làm các nhiệm vụ như sau:
4
Tìm hiểu một số cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến phát triển
vốn từ cho trẻ mẫu giáo.
Khảo sát thực trạng của trẻ 4-5 tuổi về phát triển vốn từ trên địa bàn
Trường Mầm non Xuân Thượng, xã Xuân Thượng-huyện Bảo Yên- tỉnh Lào
Cai.
Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi.
Tổ chức thực nghiệm để đảm bảo tính khả thi của biện pháp cho trẻ 4-5
tuổi dân tộc Dao mà đề tài nghiên cứu.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng: Phát triển vốn từ tiếng Việt cho trẻ 4-5 tuổi dân tộc Dao.
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC
TIỄN
1.1. Một số vấn đề về từ và vốn từ trong tiếng Việt
1.1.1. Từ tiếng Việt
Khái niệm: Từ là một đơn vị để xây dựng câu, xây dựng lời nói. Từ là công
cụ cơ bản và hữu hiệu trong giao tiếp. Từ bao gồm hai mặt âm thanh và ý
nghĩa [7].
Phân loại: Có thể phân chia các từ tiếng Việt về các mặt cấu tạo thành: từ
đơn và từ phức (từ láy và từ ghép).
Từ đơn
Đại bộ phận các từ đơn là một âm tiết, chúng mang những đặc trưng
ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng tiếng Việt [7].Ví dụ: Nước, cơm, cây… Có
một số ít từ đơn đa âm tiết như: Bù nhìn, mồ hôi, bò hóng. Có một số từ
đơn đa âm tiết là từ vay mượn của các ngôn ngữ ấn âu như: cà phê, ô tô…
Từ phức: Từ láy và từ ghép
Từ láy là từ trong đó các âm tiết có quan hệ với nhau về ngữ âm
(chắn chắn, làm lụng, bàn bạc…) hoặc giống nhau ở vần (bối rối, lì xì…)
hoặc có những âm tiết khác nhau (chuồn chuồn, xanh xanh…). Từ láy bao
gồm láy đôi (tôn tốt, bối rối…), láy ba (dửng dừng dưng, khít khìn khịt…)
và láy bốn (hớt hơ hớt hải, lơ thơ lẩn thẩn…)[7].
Từ ghép là từ trong đó các thành tố có ý nghĩa được kết hợp với
nhau, các thành tố này có thể độc lập hoặc không độc lập. Từ ghép bao gồm
từ ghép đẳng lập (đẹp tươi, to lớn, nhà cửa…) và từ ghép chính phụ (áo dài,
sân bay, chia rẽ…)[7].
8
điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào hoạt
động và vào trong hoạt động hình thành nhân cách của trẻ.
Ngôn ngữ tiếng Việt là một công cụ để phát triển tư duy và nhận thức
Quá trình trưởng thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công cụ để
phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là hiện thực (sự
hữu hiệu) của tư duy. Tư duy của con người có thể hoạt động được (nhất là tư
duy trừu tượng) cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ. Tư duy và ngôn
ngữ có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư
duy của con người không diễn ra được. Ngôn ngữ làm cho kết quả của tư duy
được củng cố lại, do đó có thể khách quan hóa nó cho người khác và cho bản
thân chủ thể tư duy. Ngược lại nếu không có tư duy với các sản phẩm của nó
thì ngôn ngữ chỉ là âm thanh vô nghĩa.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ là mục đích tự thân, có ngôn ngữ
tư duy của trẻ được phát triển. Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng có
tác động qua lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau (Galperin: Ngôn ngữ có vai trò
đến sự phát triển tâm lý của trẻ em). Ngôn ngữ phát triển làm cho tư duy phát
triển, ngược lại tư duy phát triển càng làm thúc đẩy nhanh quá trình phát triển
của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi, đây là những hoạt động
chủ yếu của trường mầm non. Giống như việc dạy tiếng mẹ đẻ ở các cấp học
khác, phát triển lời nói cho trẻ mầm non thực hiện mục tiêu “kép”. Đó là trẻ
học để biết tiếng mẹ đẻ đồng thời sử dụng nó để vui chơi, học tập. Ngôn ngữ
được tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục, ở mội nơi, mội
lúc. Như vậy ngôn ngữ có tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt động
đều tạo cơ hội cho ngôn ngữ trẻ phát triển.
Ngôn ngữ tiếng Việt là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
Sử dụng các từ biểu thị lịch sự lễ phép.
10
Nói và thể hiện cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnh
giao tiếp.
Đọc thơ, ca dao, đồng dao, tục ngữ, hò, vè.
Kể lại chuyện được nghe.
Mô tả sự vật, hiện tượng, tranh ảnh.
Kể lại sự vật có nhiều tình tiết.
Đóng kịch.
1.2.2. Nhiệm vụphát triển vốn từ cho trẻ
Làm giàu vốn từ cho trẻ, giúp trẻ làm quen với các từ mới và chú ýđến cơ
cấu từ loại hợp lý trong vốn từ của trẻ.
Việc làm giàu vốn từ cần tiến hành trên nguyên tắc mở rộng dần từcụ thể
đến khái quát và cần cho cuộc sống của trẻ. Ở giai đoạn đầu, cần cung cấp cho
trẻ những từ ngữ mang ý nghĩa cụ thể (các đồ vật trong gia đình, các cây,
con… gần gũi, các động từ biểu thị hoạtđộng cơ bản của con người, các tính
từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật…).
Ở giai đoạn sau, cung cấp cho trẻ những từ mang ý nghĩa khái quát hơn.
Làm giàu những từ ngữ chỉ số, những từ ngữ trừu tượng.Cho trẻ biết một từ
có thể có nhiều nghĩa (đi học, đi găng tay), cónghĩa chính và nghĩa phụ (đối
với trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi và mẫu giáo 5–6tuổi).
Trên cơ sở nghĩa vốn có, có thể phát triển thêm các nghĩa mới của từ.Có
thể cho trẻ biết một số ẩn dụ (răng lược, chân ghế, mũi kim) và hoán dụ(đỏ
mặt tía tai) dễ hiểu.Để làm phong phú vốn từ, có thể cho trẻ tìm từ trái
nghĩa.Cần phải dạy trẻ mầm non biết ghi nhớ và sử dụng các thành ngữ(đen
như mực, chậm như rùa, đỏ như gấc), tục ngữ với nội dung phù hợp vàcách
nói gợi cảm, dễ nhớ của các thành ngữ, tục ngữ đó. Trong khi hình thành vốn
Những từ ngữ về cuộc sống xã hội
Cho trẻ hiểu biết hơn các kiến thức về xã hội chúng ta nên cung cấp
cho trẻ biết thêm các ngày lễ lớn(ngày 8 -3, này 20 -11, tết Nguyên Đán);
12
kể về nơi Bác làm việc (Bắc Bó, Bến cảng Nhà Rồng), kể vềLăng Bác, về
Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Cung cấp cho trẻ tên gọi một số cơ quan nhà nước và chứcnăng của
chúng. Chẳng hạn bệnh viện có chức năng khám chữa bệnh cho mọi người,
Trường học là một cơ quan được lập ra nhằm giáo dục học sinh dưới sự
giám sát của giáo viên.
Quan sát, gọi tên và hiểu chức năng của các công trìnhcông cộng như
“công viên” là nơi để vui chơi giải trí hoặc “bãi đỗ xe” là nơi để các loại xe để
vào đúng nơi quy định.Tiếp tục cung cấp vốn từ về bộ đội, công an, nông dân,
côngnhân...
Những từ ngữ nói về thế giới tự nhiên
Thế giới tự nhiên rất gần gũi với trẻ, vì vậy nên cho trẻ nhận biết và gọi
tên đúng mùi vị một số loại rau, hoa, quả (chuối, cam, hồng, mận,táo, lê,…,
hoa hồng, hoa đồng tiền, hoa mười giờ,…, rau cải, rau muống, rau mồng
tơi…). Đồng thời cho trẻ gọi tên các con vật tương đối giống nhau, cho trẻ so
sánhđể thấy được những điểm giống và khác nhau giữa chúng. Giáo viên có
thể cung cấp cho trẻ tên gọi về ích lợi và tác hại của một số loài vật (rắn, trâu,
voi, cáo, chó…). Bên cạnh đó giáo viên cũng có thể mở rộng hiểu biết về
thiên nhiên, đặc điểm các mùa (Mùa xuân cây cối đâm chồi, nảy lộc. Mùa hè
có nắng chói chang, các bạn nhỏ thường đi tắm biển. Mùa thu lá cây vàng và
trở nên sơ xác. Mùa đông lạnh nên các bạn nhỏ phải mặc quần áo ấm.)
1.2.4. Phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
Nhóm phương pháp trực quan
thoại sau đó.
Nhóm phương pháp trực quan được sử dụng trong dạy học nhằm vào các
mục đích rèn luyện phát âm cho trẻ, hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ,
củng cố kiến thức, củng cố vốn từ, đồng thời phát triển ngôn ngữ mạch lạc
cho trẻ. Khi trực quan, trẻ tích lũy dần dần những kinh nghiệm, những hình
14
ảnh, những biểu tượng và dùng phương tiện ngôn ngữ để củng cố và diễn đạt
lại.
Nhóm phương pháp dùng lời nói
Đọc thơ (ca dao, tục ngữ, đồng dao)
Lời thơ, ca dao... mang tính nhịp điệu cao, có vần điệu, vì vậy khi đọc
cần đọc chậm rãi, vừa phải, chú ý ngắt giọng sau mỗi câu và nhấn vào các từ
mang vần. Cần truyền đạt được âm điệu vui tươi, sảng khoái đến với trẻ. Đọc
thơ, ca dao, đồng dao... giúp trẻ cảm nhận được vần điệu, nhịp điệu của tiếng
Việt. Khi đọc thơ cho trẻ nghe, cô giáo kết hợp giải thích các từ khó, từ xa lạ
đối với trẻ. Đây là việc làm góp phần phát triển vốn từ nói riêng, phát triển
ngôn ngữ nói chung cho trẻ.
Kể và đọc truyện
Kể và đọc chuyện là phương pháp chủ yếu giúp trẻ làm quen với văn
học. Khi đọc, kể chuyện cô giáo sử dụng ngữ điệu giọng nói để bộc lộ được
đặc điểm, tính cách nhân vật. Đọc kể phải chậm rãi, vừa phải để trẻ còn lắng
nghe và ghi nhớ được các từ ngữ, câu văn trong truyện... điều đó giúp trẻ tích
luỹ vốn từ và học được cách thể hiện qua giọng đọc, giọng kể của cô.
Kể lại chuyện
Kể lại chuyện là hình thức kể lại một cách sáng tạo câu chuyện theo mẫu
trẻ đã được nghe, nhận biết được sự tác động lên cảm xúc, giúp trẻ ghi nhớ và
kể lại những điều đã được nghe. Trẻ sẽ biết vận dụng ngôn ngữ của mình để
giáo viên. Chẳng hạn nếu muốn dạy trẻ nói những câu ghép, giáo viên sẽ sử
dụng các dạng câu hỏi mà khi trả lời, trẻ phải trả lời bằng câu ghép.
Câu hỏi đưa ra có mục đích phát triển ngôn ngữ yêu cầu trẻ biết lựa chọn
từ ngữ, sử dụng các kiểu câu và diễn đạt khi trả lời, góp phần quan trọng
trong việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp. Ở lứa tuổi mầm non, câu hỏi thường
hướng sự chú ý của trẻ tới việc nhận thức đối tượng và thường được kết hợp
với trực quan.
16
Vai trò của nhóm phương pháp dùng lời
Phương pháp dùng lời giúp trẻ cảm nhận được vần điệu, nhịp điệu của
tiếng Việt thông qua việc đọc, kể thơ truyện. Phát triển ngôn ngữ nghệ thuật
cho trẻ, giúp trẻ làm quen với cách diễn đạt của ngôn ngữ văn học.
Việc giải thích các từ khó, từ xa lạ đối với trẻ trong các tác phẩm văn
học cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Việc sử dụng những từ trẻ đã
biết để giải nghĩa cho những từ trẻ chưa biết góp phần quan trọng vào quá
trình phát triển vốn từ, mở rộng vốn sống, vốn hiểu biết của trẻ.
Sử dụng câu hỏi, đàm thoại đượcgiáo viên sắp xếp có tổ chức, có kế
hoạch nhằm mục đích đi sâu, làm cho chính xác và hệ thống tất cả những biểu
tượng và kiến thức mà trẻ thu lượm được, đông thời giáo viên yêu cầu trẻ phải
suy nghĩ, lựa chọn từ ngữ để trả lời câu hỏi được đặt ra.
Phương pháp dùng lời chỉ cho đứa trẻ cách thức tốt nhất để diễn đạt ý
nghĩ của mình, nói rõ hơn có nghĩa là sử dụng câu đúng để diễn đạt, đồng thời
để củng cố, nhắc lại chính xác hóa từ, câu hay một đoạn văn.
Phương pháp thực hành
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua trò chơi
Ngôn ngữ và tư duy liên hệ chặt chẽ với hoạt động, lao động của con
người. Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em. Vui chơi được thể