HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
TRƯƠNG TÚ UYÊN
THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI
NGŨ BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ TẠI QUẬN TÂY HỒ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
1
HÀ NỘI, THÁNG 8 NĂM 2015
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
TRƯƠNG TÚ UYÊN
THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI
NGŨ BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ TẠI QUẬN TÂY HỒ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60220301
Cao đẳng
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đại học
Lý luận chính trị
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Trong công tác xây dựng Đảng, công tác tư tưởng luôn có tầm quan trọng
hàng đầu, là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ,
tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách
mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về chính trị, trí tuệ, văn
hóa và đạo đức thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Công tác tư tưởng là sự hoạt động có định hướng của Đảng nhằm xác
lập, phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xây dựng niềm tin và định hướng giá trị
đúng đắn, góp phần xây dựng thế giới quan khoa học, tư tưởng, tình cảm, nhân
cách, lối sống, tri thức để đảm bảo cho con người có hành động tích cực, chủ động,
sáng tạo, thực hiện thắng lợi lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Chính vì vậy, từ khi ra đời cho đến nay Đảng ta luôn coi trọng công tác tư tưởng,
xác định đây là mặt trận hàng đầu, góp phần quyết định cho mọi thắng lợi của cách
mạng. Công tác tư tưởng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để dân tộc Việt Nam
chiến thắng mọi kẻ thù, tạo nên những thành tựu to lớn mang ý nghĩa lịch sử trong
quá trình đổi mới hiện nay. Để tiến hành công tác tư tưởng có hiệu quả, Đảng ta đã
thông qua công tác lý luận, công tác tuyên truyền và nhiều hình thức phong phú
5
sinh động, trong đó tuyên truyền miệng là một hình thức được Đảng ta hết sức quan
tâm từ khi còn hoạt động bí mật cho đến lúc giành được chính quyền và lãnh đạo
phát triển đất nước.
có sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có
nhiều công trình khoa học, các bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí bằng những
cách tiếp nhận khác nhau với nội dung phong phú. Liên quan đến nội dung đề tài
luận án, tổng quan các công trình nghiên cứu với nội dung sau:
2.1. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn - Nguyên tắc căn bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin
Nghiên cứu về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã có một số công
trình tiêu biểu:
- “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”,
PGS.TS Trần Văn Phòng trong sách “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh”, Nxb Lao
động, Hà Nội, 2002.
- “Tổng kết thực tiễn - một nhiệm vụ trọng yếu của công tác lý luận hiện nay”,
Nguyễn Phú Trọng, Tạp chí cộng sản, số 15/5/2002.
- “Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, PGS,
TS Hoàng Chí Bảo, tạp chí khoa học xã hội, số 15, 2003.
- “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc nâng cao tư duy lý
luận cho giảng viên Mác - Lênin ở các trường chính trị hiện nay” của Nguyễn Đình
Trãi, tạp chí Triết học, số 1/1999.
- “Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn” của Vi Thái Lang, Tạp
chí Triết học, số 1/1999.
Có thể nói có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn. Qua các công trình nghiên cứu, tôi thấy các công trình nêu bật
những nội dung sau:
Thứ nhất, Khẳng định vấn đề mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tầm
quan trọng đặc biệt trong Triết học Mác - Lênin. Bởi lẽ quan điểm về đời sống, về
thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức.
7
Thứ hai, Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ khăng khít. Vì vậy, tôn
cầu đổi mới về giáo dục lý luận Mác - Lênin trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ V”, GS Nguyễn Đức Bình - Chủ nhiệm đề tài cấp bộ, năm 1991.
Nội dung của đề tài khẳng định tính cấp thiết của việc quán triệt nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới nội dung, chương trình
bài giảng và giáo trình các môn học lý luận Mác - Lênin. Muốn đổi mới về giáo
dục lý luận Mác - Lênin trước tiên phải đổi mới tư duy lý luận và ứng dụng nó
vào trong đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình các môn học Mác - Lênin
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V.
- "Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ báo cáo viên của Đảng bộ
cấp huyện ở đồng bằng sông Cửu Long", Huỳnh Minh Khởi, Luận văn thạc sĩ Triết
học, Hà Nội, 2006. Tác giả đã tập trung nghiên cứu lý luận chính trị và vai trò của
nó đối với hoạt động của người BCV.
- "Thông tin với hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở", Nguyễn Thị Huệ, Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội 2007. Tác giả đã phân tích
sâu vai trò của thông tin đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở và đề ra giải pháp phát huy vai trò của của thông tin đối với hoạt động
lãnh đạo, quản lý.
- “Phát huy vai trò thông tin chính trị - xã hội trong hoạt động tuyên truyền
miệng của đội ngũ báo cáo viên cấp cơ sở tỉnh Cà Mau hiện nay”, Nguyễn Hồng
Vệ, Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2008. Tác giả đã làm rõ thực trạng phát huy
vai trò của thông tin chính trị - xã hội đối với hoạt động tuyên truyền miệng của đội
ngũ BCV cấp cơ sở Cà Mau, đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của thông tin
chính trị - xã hội đối với công tác tuyên truyền miệng của đội ngũ BCV cấp cơ sở ở
Cà Mau trước yêu cầu mới.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu tên ít nhiều nội
dung liên quan đến đề tài luận văn, đó là những tài liệu có giá trị tham khảo quan
trọng. Đặc biệt, việc thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt
9
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn.
- Những văn bản của Trung ương, Thành ủy Hà Nội, Ban Tuyên giáo Thành
ủy Hà Nội về hoạt động của đội ngũ BCV
- Cơ sở lý luận còn là các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận của luận văn là các nguyên tắc phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu triết học: phương pháp phân tích và tổng hợp,
lôgích - lịch sử, chuyên ngành và liên ngành
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ sự cần thiết, hiệu quả
giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ BCV cơ sở tại quận Tây Hồ,
thành phố Hà Nội hiện nay.
- Với những kết quả nghiên cứu cung cấp những cơ sở khoa học cho lãnh
đạo, cán bộ chủ trì các cấp và cơ quan chức năng trong lãnh đạo, chỉ đạo nâng sự
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động của đội ngũ BCV cơ sở tại quận
Tây Hồ, thành phố Hà Nội hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài: Đề tài gồm phần mở đầu, 2 chương (5tiết), kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục.
11
13
vào lý luận, Mác- Ăngghen đã thực hiện bước chuyển biến cách mạng trong lý luận
nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, con người tự làm ra lịch sử của
mình, nhưng không phải bắt đầu bằng hoạt động lý luận, mà bằng hoạt động thực
tiễn cải tạo thế giới hiện thực. Chính các nhà sang lập chủ nghĩa Mác -Lênin là
những người đầu tiên trong lịch sử triết học đã đưa thực tiễn vào lý luận nhận thức
và đưa ra quan điểm đúng đắn về bản chất của thực tiễn. Do đó đã đem lại một quan
niệm khoa học về vai trò và ý nghĩa thực tiễn đối với nhận thức cũng như sự tồn tại
và phát triến xã hội loài người. V.I.Lênin viết rằng “Quan điểm về đời sống, về thực
tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” [46,tr.167].
Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của
con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ
hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài,
thì con người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của
mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để làm chủ thế giới.
Trong qúa trình hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra được một “thiên nhiên thứ
hai” của mình, một thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện mới
cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn không có sẵn trong tự nhiên. Vì vậy,
không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và
phát triển được. Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là
phương thức đầu tiên, chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới.
Thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với hoạt động nhận thức. Trong mối quan
hệ với nhận thức, vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ, thực tiễn là
cơ sở, động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức, Ăngghen khẳng định “chính
việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính
cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp của tư duy con người, và trí
hơn trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, trong
đó Lênin nhắc lại luận cương thứ hai của Mac về Phoi-ơbăc và Người kết
15
luận “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản
của lý luận về nhận thức”. Tư tưởng của Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận
thức vẫn đang là nguyên tắc phương pháp luận quan trọng hướng dẫn chúng ta
trong hoạt động thực tiễn, trong nghiên cứu khoa học. Nếu không bám sát thực tiễn
cuộc sống chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể có khoa học, không xác định
nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với đúng nghĩa của nó.
Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực khách quan.
Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quy luật tạo nên lý
luận, quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trình nhận thức nên bản
chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một
cách gần đúng đối tượng nhận thức.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận là tri
thức khái quát tri thức kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là
sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự
nhiên và xã hội tích trữ lại trong qúa trình lịch sử”. Lý luận được hình thành trên
cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ
kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ
kiện kinh nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh
nghiệm.
Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó
đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng
khách quan. Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề
ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự.
Chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất biện
chứng. Thực tiễn là hoạt động vật chất còn lý luận là hoạt động tinh thần, nên thực
hoạt động cách mạng.
17
Trong Triết học Mácxit và trong chủ nghĩa Mác-Lênin, sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn như một thuộc tính vốn có, một đòi hỏi nội tại. Nguyên tắc này có
ý nghĩa to lớn rong việc nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.
Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn thống nhất với nhau dưới nhiều hình
thức và trình độ biểu hiện khác nhau. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh (khái
quát) những vấn đề của đời sống sinh động. Nhưng thước đo tính cao thấp của lý
luận với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý luận đó phải hướng hẳn về đời sống
hiện thực, để giải quyết những vấn đề do chính sự phát triển của thực tiễn đặt ra, và
như vậy, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển, bởi vì ở bên ngoài sự thống
nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý luận không thể biến đổi được hiện thực, nói
cách khác, hoạt động lý luận không có mục đích tự thân mà vì phục vụ thục tiễn, để
cải tạo thực tiễn.
Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệt được
thực tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là tiêu chuẩn
của chân lý (lý luận). Như trên đã nói, lý luận đích thực bao giờ cũng bắt nguồn từ
thực tiễn, do thực tiễn quy định. Thực tiễn quy định lý luận thể hiện ở nhu cầu, nội
dung, phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận. Thực tiễn biến đổi thì lý luận
cũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động trở lại thực tiễn bằng cách soi
đường, chỉ đạo, dẫn đắt thực tiễn.
Trên cơ sở nhận thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn phải chống bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Chúng ta coi trọng kinh
nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹ vốn kinh nghiệm quý báu đó.Song chỉ
dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân, coi
kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học
tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý luận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để
luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [33, tr.292]. Như vậy,
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu trên tinh thần biện
chứng: Thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng
để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn,
19
phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh
giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn,
bổ sung cho nhau.
Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắc phục bệnh
kém lý luận, bệnh khinh lý luận. Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lý luận nhất định sẽ dẫn
tới bệnh kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì trongtrong hoạt động thực tiễn
người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hóa kinh nghiệm, cho
kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn. Nếu không
có lý luận hay trình độ lý luận thấp sẽ làm cho bệnh kinh nghiệm thêm trầm trọng,
thêm kéo dài. Thực tế cho thấy, ở nước ta có không ít cán bộ, đảng viên “chỉ bo bo
giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực
hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc
của cách mạng” [33, tr.247]. Những cán bộ ấy quên rằng, “kinh nghiệm của họ tuy
tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi.
Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ” [33,
tr.234]. Thực chất là họ không hiểu vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Theo Hồ
Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn, lý luận “như cái kim
chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý
luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [33, tr.47]. “Làm mà không có lý luận thì
không khác gì đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay vấp váp” [33, tr.47].
Làm mò mẫm chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh lý luận
không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do kém
đi thăm, tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụ
phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh niên xung
phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học… Như vậy, mỗi năm có tới hơn 70 lần
xuống cơ sở gặp gỡ tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Điều này đủ thấy Hồ Chí
Minh gắn bó với quần chúng, sâu sát với cơ sở, thực tế như thế nào.
21
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, quán triệt tốt nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là góp phần trực tiếp ngăn ngừa, khắc phục
bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Để làm tốt điều này thì một mặt, phải ra sức
học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác, phải
có phương pháp học tập đúng đắn, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với
thực tế. Nếu không, chưa khắc phục được bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh
giáo điều, bệnh sách vở. Người chỉ rõ, “lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập
không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần
nhấn mạnh: Lý luận phải liên hệ với thực tế. [33, tr.496]. Điều quan trọng nữa theo
Người là phải chống giáo điều ngay trong học tập chủ nghĩa Lê-nin. Khi cc̣n sống
Người luôn phê phán kiểu học học thuộc lòng chủ nghĩa Mác- Lênin, “Học sách vở
Mác - Lênin nhưng không học tinh thần Mác - Lênin”. Đó là học theo kiểu “mượn
những lời của Mác, Lênin dễ làm cho người ta lầm lẫn”. Theo Hồ Chí Minh, học tập
chủ nghĩa Mác - Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập
lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập
trường quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế
trong công tác cách mạng của chúng ta” [33, tr.292]. “Học tập chủ nghĩa Mác –
Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân
mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một
cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm” [33, tr.247]. Hồ
Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên “học tập lý luận thì nhằm mục đích để
vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn
luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến
tới” [33, tr.243]. Người còn nhấn mạnh “ …cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để
giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm
cho nó đầy đủ dồi dào thêm” [33, tr.417]. Đó chính là quá trình tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận.
Làm được như vậy cũng có nghĩa là làm cho lý luận cần được “bổ sung bằng những
23
kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động” [33, tr.296]. Đồng thời, thực tiễn
mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Cứ như vậy, lý luận luôn
được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bởi những kết luận mới được rút ra từ tổng kết
thực tiễn. Còn thực tiễn luôn được chỉ đạo, soi đường dẫn dắt bởi lý luận đã được
bổ sung bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Đây là biểu hiện sinh động của
việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh.
“Làm như thế theo Người là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các
vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn” [33, tr.498]. Qua những
nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
có hiệu quả thì phải không ngừng học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận. Khi có
lý luận thì phảivận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để làm giàu lý
luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Chỉ thông qua quy trình như vậy thì lý
luận mới gắn với thực tiễn, mới không trở thành giáo điều. Đồng thời thực tiễn mới
sẽ được chỉ đạo bồi lý luận sẽ không bị mò mẫm, vấp váp, hay chệch hướng. Như
thì bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều cũng không còn chỗ đứng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp
cơ bản để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có ý nghĩa hết
sức to lớn hiện nay, khi mà chúng ta đang tìm lời giải đáp cho nhiều vấn đề thực
tiễn đổi mới đặt ra. Bởi lẽ, để tìm lời giải cho những vấn đề đó chúng ta phải tìm ở
cả trong chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như ở chính thực tiễn
thói quen, quan điểm, trình độ nhận thức, v.v.. Đối với những đối tượng là đảng viên
và nhân dân với sự đa dạng về trình độ, thành phần, ngành nghề... thì vấn đề điều
chỉnh nội dung gắn lý luận với thực tiễn trong báo cáo là không dễ.
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn biểu hiện qua sự phù hợp của nội
dung với từng đối tượng cụ thể không chỉ dừng lại ở việc dành cho một nội dung cố
định với tất cả các đối tượng người nghe mà còn cần phải được điều chỉnh sao cho
phù hợp với từng đối tượng người nghe cụ thể. Cho nên, về mặt nội dung đòi hỏi
BCV cần phải chú ý chuẩn bị bài nói cho phù hợp với từng đối tượng người nghe cụ
25