ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
LAI GIỐNG VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA DÊ LAI F1
(♂ BOER ×♀ ĐỊA PHƯƠNG) TẠI TRUNG TÂM GIỐNG CÂY TRỒNG VÀ
VẬT NUÔI PHÓ BẢNG, HÀ GIANG
Mã số: T2016-13
Chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Văn Thăng
Thái Nguyên, 03/2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
LAI GIỐNG VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA DÊ LAI F1
(♂ BOER ×♀ ĐỊA PHƯƠNG) TẠI TRUNG TÂM GIỐNG CÂY TRỒNG VÀ
VẬT NUÔI PHÓ BẢNG, HÀ GIANG
Mã số: T2016-13
Chủ nhiệm đề tài
(Ký, họ tên)
Trang
DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH ....................................................................................... i
MỤC LỤC ...................................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................... iv
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... v
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài .................................................................................................. 1
3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ................................................................ 3
1.1.1. Cơ sở khoa học của sự lai tạo............................................................................ 3
1.1.2. Đặc điểm của dê Boer và dê cỏ ......................................................................... 8
1.1.3. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng .............................................. 10
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................................ 14
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ................................................................... 14
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ...................................................................... 16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....... 19
2.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................... 19
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu .......................................................................... 19
2.3. Nội dung nghiên cứu .......................................................................................... 19
2.4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 19
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm....................................................................... 19
2.4.2. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi ................................................................... 21
2.4.3. Phương pháp xử lí số liệu................................................................................ 22
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................................ 23
v
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1. Thông tin chung
- Tên đề tài: “Lai giống và đánh giá khả năng sinh trưởng của dê lai F1 (♂
boer ×♀ địa phương) tại trung tâm giống cây trồng và vật nuôi Phó Bảng, Hà
Giang”
- Mã số: T2016 -13
- Chủ nhiệm đề tài: Trần Văn Thăng
Tel.: 096 282 7268
E-mail: [email protected]
- Cơ quan chủ trì đề tài: Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông
Lâm – Đại học Thái Nguyên
- Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:
Cơ quan: Trung tâm giống cây trồng và vật nuôi Phó Bảng, Hà Giang
Cá nhân:
ThS. Hà Thị Hảo
ThS. Nguyễn Hữu Hòa
ThS. Bùi Ngọc Sơn
- Thời gian thực hiện: 2015-2016
2. Mục tiêu:
- Sử dụng dê đực giống dê Boer lai với dê cái giống dê địa phương để tạo ra
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học giúp người chăn nuôi dê mạnh dạn sử
dụng dê đực Boer để lai giống với đàn dê cái địa phương nhằm nâng cao năng suất
trong chăn nuôi dê và nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi dê. Qua đó góp phần
xóa đói và giảm nghèo cho người dân địa phương.
Kết quả này có khả năng nhân rộng và áp dụng cho các hộ chăn nuôi dê ở
tỉnh Hà Giang và các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc.
vii
INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1. General information
- Project Tittle: “Crossbreeding and evaluation of the growth performance
of F1 crossbred goats (♂ boer ×♀ native goat) in Pho Bang livestock and plant
breeding Center, Ha Giang province”
- Code number: T2016-13
- Coordinator: Tran Van Thang
Tel: 096 282 7268 Email: [email protected]
- Implementing Institution: Faculty of Animal Science and Veterinary
Medicine, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
- Cooperating Institution(s):
Institution: Pho Bang livestock and plant breeding Center, Ha Giang
province
Individuals: MSc. Ha Thi Hao
MSc. Nguyen Huu Hoa
MSc. Bui Ngoc Son
- Duration period: From January 2015 to November 2016
2. Objectives:
This study was conducted in Ha Giang province to aim the evaluation of the
reduce the poverty and hunger for native population.
The results of the study can spread and apply for households that raise goats
in Ha Giang province and in Northern mountainous provinces.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi dê cung cấp cho con người các sản phẩm quý như thịt, sữa, lông,
da và một số phụ phẩm khác (sừng, xương, phân). Thịt và sữa dê là những loại thực
phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và rất được ưa chuộng. Dê sinh sản nhanh nên
người nuôi có thể bán con giống hay bán dê thịt thường xuyên. Từ lâu, nuôi dê được
coi là nghề dễ phát triển kinh tế, thu lợi nhuận nhanh và cao do dê mắn đẻ và có
thời gian mang thai ngắn (5 tháng). Dê là con vật dễ nuôi, dễ thích ứng, ít bệnh tật,
lại tận dụng được các thức ăn tự nhiên và nhất là không tranh chấp lương thực với
con người. Ở nước ta nghề chăn nuôi dê tuy đã có từ lâu đời, nhưng chủ yếu là nuôi
quảng canh, tận dụng bãi chăn thả tự nhiên là chính. Phần lớn là dê địa phương tầm
vóc nhỏ, năng suất thấp, khối lượng trưởng thành chỉ đạt 30 – 35 kg. Nghề chăn
nuôi dê với quy mô trang trại lớn chưa được hình thành. Gần đây, do nhu cầu tiêu
thụ thịt dê tăng nhanh, giá bán cao nên đàn dê có tốc độ phát triển khá nhanh, nhưng
vì người dân chủ yếu vẫn nuôi dê địa phương nên hiệu quả kinh tế không cao. Để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của thị trường cần quan tâm đến công tác
giống dê, lựa chọn giống dê có tầm vóc to, cho nhiều thịt lai tạo với giống dê địa
phương nhằm nâng cao tầm vóc và năng suất của giống dê địa phương đem lại hiệu
quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho người chăn nuôi dê là đòi hỏi cấp thiết. Từ thực
tế nêu trên, chúng tôi đã thực hiện việc lai giống giữa dê đực Boer và dê cái địa
phương của tỉnh Hà Giang nhằm mục đích tạo ra dê lai F1 (♂ Boer × ♀ địa phương)
có tầm vóc và khối lượng cao hơn từ 20-25% so với dê địa phương.
2. Mục tiêu của đề tài
1.1.1.1. Tính trạng số lượng và sự di truyền các tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng được gọi là tính trạng đo lường. Tuy nhiên, có một số
tính trạng mà giá trị của nó thu được bằng cách đếm như số con đẻ ra trong một lứa,
số trứng đẻ ra trong một chu kỳ… vẫn được coi là tính trạng số lượng. Phần lớn các
tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là tính trạng số lượng, hầu như các thay
đổi trong quá trình tiến hóa của sinh vật là sự thay đổi của tính trạng số lượng. Tính
trạng số lượng có các đặc trưng như sau: biến thiên liên tục; phân bố tần suất giá trị
là phân bố chuẩn; là tính trạng có nhiều kiểu gen, mỗi gen có một tác động nhỏ; và
chịu tác động rất lớn của yếu tố ngoại cảnh.
Mặc dù không phân biệt rõ rệt trong di truyền học nhưng người ta thường
chia các tính trạng của một con vật làm hai loại tính trạng chất lượng và tính trạng
số lượng. Tính trạng chất lượng trong chăn nuôi như có sừng, không sừng, màu
lông, nhóm máu…, các tính trạng số lượng trong chăn nuôi là các tính trạng đo
lường được như khối lượng cơ thể, sản lượng sữa… Trong quá trình lai tạo các tính
trạng chất lượng sẽ phân ly theo một tỷ lệ nhất định, nhưng đối với tính trạng số
lượng, sự phân ly chỉ phù hợp với mức độ quần thể. Cho nên khi mới bắt đầu
nghiên cứu sự di truyền các tính trạng số lượng, người ta đã thu được những kết quả
hầu như đối lập với các định luật Mendel và vì thế Ganton, Pearson đã cho rằng tính
trạng số lượng không tuân theo các định luật Mendel, thậm chí Bateson, De Vries
còn khẳng định tính trạng số lượng là những tính trạng không di truyền. Mãi đến
năm 1908 nhờ các công trình nghiên cứu của Nilsson-Ehle, người ta mới xác định
rõ: các tính trạng số lượng có sự biến thiên liên tục, cũng di truyền theo đúng các
4
định luật của các tính trạng chất lượng có biến dị gián đoạn, tức là các định luật cơ
bản về di truyền của Mendel (Trần Đình Miên, 1975) [11].
Để giải thích hiện tượng di truyền các tính trạng số lượng Nilsson-Ehle đã
đưa ra giả thuyết đa gen: Tính trạng số lượng chịu tác động của nhiều cặp gen,
lệch do các yếu tố tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại này có
tính chất thường xuyên và không cục bộ như: Thức ăn, khí hậu... Do vậy đó là sai
lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các phần khác nhau trên một cơ thể.
- Sai lệch môi trường riêng (Special environmental deviation) (Es) là các sai
lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng nhóm cá thể vật nuôi hoặc
một giai đoạn nào đó trong đời một con vật hay các phần khác nhau của con vật.
Loại yếu tố này có tính chất không thường xuyên và cục bộ như các thay đổi về
thức ăn, khí hậu, trạng thái sinh lý... gây ra. Do vậy, đó là sai lệch trong nhóm,
trong cá thể trên một cơ thể.
Tóm lại: Quan hệ giữa kiểu gen, kiểu hình và môi trường của một cá thể
được thể hiện như sau:
P = A + D + I + Eg + Es
Trong đó:
P: Là giá trị kiểu hình (phenotyp Value)
A: Là giá trị cộng gộp (Additive Value)
D: Là giá trị sai lệch trội (Dominance Value)
I: Là sai lệch tương tác hay át gen (Interaction or Epistatic deviation)
Eg: Là sai lệch môi trường chung (General enviromental deviation)
Es: Là sai lệch môi trường riêng (Special enviromental deviation).
Vì vậy, muốn nâng cao năng suất của vật nuôi thì phải tác động về mặt di
truyền dưới hai hình thức:
- Tác động vào hiệu ứng cộng gộp bằng cách chọn lọc.
- Tác động vào hiệu ứng trội và át gen bằng cách cho phối giống tạp giao.
Bên cạnh đó, cần tác động về mặt môi trường bằng cách cải thiện điều kiện
chăn nuôi như: Thức ăn, thú y, chuồng trại... Trong cùng một điều kiện môi trường,
6
giống nào có giá trị kiểu hình cao hơn sẽ biểu hiện giá trị kiểu gen (kiểu gen di
hơn hẳn các chỉ tiêu của bố, mẹ gốc. Theo Falconer và Mackay (1996) [21] ưu thế
lai là sự khác biệt hữu hiệu giữa tính trạng của con lai so với bố mẹ thường là vượt
trên trung bình của bố mẹ.
Theo Trần Đình Miên và cs (1994) [12] khi cho giao phối giữa hai cá thể, hai
dòng, hai giống, hai loài khác nhau, đời con sinh ra khỏe hơn, chịu đựng bệnh tật tốt
hơn, các tính trạng sản xuất có thể tốt hơn đời bố mẹ. Hiện tượng đó gọi là ưu thế
lai. Mức độ ưu thế lai cho các tính trạng không giống nhau, khoảng cách di truyền
giữa các giống càng lớn thì mức độ ưu thế lai càng cao.
* Bản chất di truyền của ưu thế lai:
- Thuyết trội : Nhờ tác dụng lâu dài của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân
tạo, gen trội thường là gen có ích, dễ được biểu hiện ra. Những tính trạng như tăng
trọng, khả năng sinh sản nói chung là những tính trạng số lượng do nhiều gen điều
khiển nên rất hiếm có tỷ lệ đồng hợp tử. Thế hệ con được tạo ra do lai giữa hai cá
thể sẽ được biểu hiện do tất cả các gen trội dị hợp tử. Khi bố mẹ xa nhau trong quan
hệ huyết thống (khác dòng, khác giống, khác loài) thì xác suất để mỗi cặp bố mẹ
truyền lại cho con những gen trội khác nhau càng tăng lên từ đó dẫn đến tăng mức
độ ưu thế lai.
- Thuyết siêu trội: Hiệu quả của một alen ở trạng thái di hợp thường khác với
hiệu quả của từng alen này biểu hiện ở trạng thái đồng hợp. Cho nên có thể có tính
trạng ở trạng thái di hợp (trạng thái trội) sẽ vươn lên trên bất kỳ dạng nào. Trạng
thái di hợp của hai alen thuộc locus Aa đảm bảo cho cơ thể phát triển tốt hơn so với
từng trạng thái đồng hợp tử AA và aa (Aa > AA và aa). Trạng thái siêu trội có thể là
do ở thể dị hợp sự tương tác giữa hai alen sẽ có tác động lớn lên kiểu hình.
Trong thực tiễn chăn nuôi, không phải giống nào, dòng nào, cá thể nào phối
với nhau cũng đều tạo nên hiệu quả mong muốn. Khả năng phối hợp thực chất là sự
phối hợp bao gồm: hiệu quả ưu thế lai, tác động cộng gộp, hỗ trợ bổ sung của các
gen, sự phù hợp ít đối kháng của các gen đó. Các nước có đàn dê phát triển như
Pháp, Thụy Sỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Pakixtan cũng đều dựa trên ưu thế lai và khả
vậy, không có một giống dê nào có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn giống dê Boer cải tiến này.
9
Nguyễn Kim Lin và cs (2010) [9] cho biết dê Boer có khối lượng sơ sinh là
2,5 – 4,5 kg; 3 tháng tuổi đạt 20 – 30 kg; khối lượng trưởng thành ở dê cái đạt 80 –
100 kg, dê đực đạt 90 – 130 kg. Theo Van Niekerk và Casey (1988) [27] tốc độ sinh
trưởng của dê Boer trong 12 tháng đầu là 200 g/ngày; sinh trưởng trung bình từ sơ
sinh đến 100, 150, 210 và 270 ngày tuổi ở con đực và con cái lần lượt là 291 và
272; 272 và 240; 245 và 204; 250 và 186 g/ngày. Với những ưu điểm nêu trên, dê
Boer đã được nhập nội vào nước ta nhằm mục đích nhân thuần, phát triển sản xuất
giống dê chuyên thịt cao sản nhất thế giới hiện nay và dùng con đực lai cải tạo các
giống dê hiện có ở Việt Nam để nâng cao năng suất thịt. Chính vì vậy dê Boer thích
hợp để lai cải tạo tầm vóc và năng suất chất lượng đàn dê của nước ta. Người ta đã
chứng minh rằng dê Boer có thể cải thiện khả năng sản xuất của nhiều giống dê địa
phương thông qua lai tạo.
1.1.2.2. Đặc điểm về dê cỏ
Dê cỏ là giống dê có nguồn gốc ở nước ta từ lâu đời và được nuôi phổ biến ở
rất nhiều vùng trong cả nước, mang nhiều tên địa phương nhưng được gọi chung là
dê cỏ. Theo Nguyễn Kim Lin và cs (2010) [9] dê có màu lông không thuần nhất,
vàng nâu hoặc loang vá, tập trung ở một số màu chính như đen, vàng, tro, cánh gián.
Một số con vùng mặt có 2 sọc nêu đen. Dọc lưng từ đầu đến khấu đuôi có một dải
lông đen, bốn chân có đốm đen. Đầu nhỏ, trán rộng và thô, mũi thẳng, mắt sáng, tai
nhỏ hướng về phía trước, chân chắc khỏe, vận động linh hoạt. Theo Trần Trang
Nhung và cs (2005) [14] dê cỏ địa phương có tầm vóc nhỏ, khối lượng sơ sinh bình
quân là 1,6 – 1,8 kg; khối lượng trưởng thành dê cái 25 – 30 kg, dê đực 35 – 40 kg,
chiều cao vây con cái 50 – 54 cm, con đực là 55 – 58 cm. Dê cỏ có khả năng sinh
sản tốt, số con đẻ ra bình quân /lứa là 1,5 con; số lứa đẻ bình quân là 1,6 – 1,7
lứa/năm. Năng suất sữa thấp, chỉ đủ nuôi con, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa 65 – 75%,
Đối với sự phát triển chung của một cơ thể sống, quá trình sinh trưởng và
phát dục có mối liên quan chặt chẽ với nhau, hai quá trình này không có ranh giới.
Sinh trưởng là sự thay đổi về số lượng, phát dục thay đổi về chất lượng. Tại một
11
thời điểm nào đó có thể hai quá trình này diễn ra song song với nhau nhưng cũng có
thể quá trình sinh trưởng diễn ra yếu và quá trình phát dục lại mạnh và ngược lại.
Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, sự phát triển của cơ thể động vật có tính
giai đoạn. Mỗi giai đoạn khác nhau thì sự sinh trưởng và phát dục khác nhau. Giai
đoạn đầu của thời kì bào thai, quá trình phát dục mạnh và nhanh để hình thành nên
các tổ chức, bộ phận của cơ thể nhưng đồng thời quá trình sinh trưởng diễn ra cũng
rất khẩn trương. Đến cuối giai đoạn bào thai thì quá trình phát dục chậm lại và quá
trình sinh trưởng lại nhanh hơn để tăng khối lượng, kích thước cho cơ thể. Như vậy
hai quá trình này có mối liên hệ chặt chẽ. Nếu phát dục không đầy đủ sẽ trở nên dị
tật. Ngược lại, nếu sinh trưởng không đầy đủ cơ thể sẽ còi cọc, chậm lớn.
Trong chăn nuôi, để đánh giá sự sinh trưởng và phát dục của gia súc người ta
thường dùng phương pháp cân khối lượng và đo kích thước các chiều đo của cơ thể.
Ở các cơ sở chăn nuôi, phương pháp chủ yếu là cân định kỳ gia súc vào những thời
điểm nhất định, ngoài ra còn dùng phương pháp đo gia súc phụ thuộc vào tuổi, loài,
giống và mục đích của việc nghiên cứu. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào phương pháp
cân định kỳ gia súc để xác định sự sinh trưởng phát dục thì không chính xác. Vì nếu
chỉ dựa vào trọng lượng để đánh giá thì không đủ bởi có thể gia súc thiếu thức ăn
vẫn giữ nguyên trọng lượng hoặc bị giảm đi nhưng chiều cao, chiều dài, chiều
ngang của cơ thể vẫn có thể tăng lên. Chính vì vậy, tốt nhất tùy từng loài gia súc mà
ta sử dụng kết hợp cả hai phương pháp để cho kết quả chính xác hơn.
1.1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
Mỗi cơ thể khác nhau, mỗi loài khác nhau hay trong điều kiện môi trường
khác nhau cũng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng. Các yếu tố chính ảnh hưởng
gia súc, từ đó làm ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của gia súc. Vì vậy, cần chú ý cung
cấp đầy đủ và cân đối thức ăn cho dê con trong giai đoạn sinh trưởng, để đảm bảo
cho sự phát triển của dê con là tốt nhất, đặc biệt là trong thời kỳ khan hiếm thức ăn.
- Mức độ dinh dưỡng: Trong thời kỳ phát triển bào thai, nếu cung cấp lượng
dinh dưỡng không đầy đủ sẽ làm ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và phát triển
bào thai, cũng như sự phát triển của dê con khi ra đời. Dê con sẽ còi cọc, chậm lớn,
yếu ớt và tình trạng này kéo dài đến khi con vật trưởng thành gọi là tình trạng suy
dinh dưỡng. Mức độ dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng của con
vật. Đối với gia súc hậu bị, việc cung cấp thừa dinh dưỡng sẽ làm con vật tích lũy
mỡ. Từ đó, sẽ không tốt cho hoạt động sinh sản và sức sản xuất cũng bị giảm sút.
Tuy nhiên, nếu nuôi dưỡng dê ở mức dinh dưỡng thấp trong giai đoạn hậu bị sẽ làm
cho con vật phát triển chậm, sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh. Vì vậy, cần cung cấp
đầy đủ thức ăn và cân đối về thành phần dinh dưỡng, có như vậy mức độ tiêu tốn
đơn vị thức ăn cho 1 kg tăng trọng sẽ giảm và đảm bảo cho con vật sinh trưởng tốt.
13
- Loại hình thức ăn: Thức ăn, dinh dưỡng là tiền đề tạo nên năng suất vật
nuôi, tuỳ theo mục đích sử dụng khác nhau mà số lượng và chất lượng thức ăn cũng
khác nhau để đạt được mức độ dinh dưỡng thích hợp. Mặt khác, con vật có bản tính
di truyền khác nhau về nhu cầu dinh dưỡng và khả năng chống chịu sự thiếu hụt
một số yếu tố dinh dưỡng nào đó, nếu coi sự thiếu hụt một chất dinh dưỡng nào đó
là yếu tố không thuận lợi của môi trường ngoại cảnh thì những cá thể có kiểu di
truyền có sức chống chịu cao với sự thiếu hụt đó khi phải sống trong môi trường
khó khăn sẽ có sức chống chịu tốt hơn so với những cá thể khác.
Nếu cho dê con tập ăn thức ăn thực vật sớm sẽ kích thích sự phát triển của bộ
máy tiêu hóa, dạ cỏ hoạt động kích thích sự hoàn thiện hệ vi sinh vật nhanh chóng,
có lợi cho tiêu hóa. Khi trưởng thành dê sẽ tiêu hóa các loại thức ăn tốt hơn.
- Chăm sóc: Các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, chuồng nuôi, không khí, sự
của quá trình sinh trưởng, phát triển của gia súc. Kích thước các chiều đo là tính
trạng chịu nhiều ảnh hưởng của yếu tố giống và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Hệ
số di truyền của tính trạng khá cao. Nguyễn Văn Thiện (1995) [16] cho biết: Hệ số
di truyền cao vây h2 = 0,63, vòng ngực h2 = 0,28.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Jiabi và cs (2000) [22] cho biết dê lai F1 giữa dê đực Boer và dê cái của 6
giống dê địa phương Trung Quốc cho khối lượng sơ sinh, 4, 6 và 12 tháng tuổi tăng
ở con đực lần lượt là 37,1%, 49,7%, 66,29% và 77,85%; ở con cái là 41,62%;
47,21%; 60,03% và 61,78% so với các giống dê địa phương.
Theo Cameron và cs (2001) [20] khi lai giống dê Boer với dê Spanish và dê
Angora thì con lai sinh ra ở 24 tuần tuổi có khối lượng lần lượt là 24,4 và 25,2 kg
cao hơn dê Spanish ở cùng tuần tuổi (19,5 kg). Tăng khối lượng/ngày của dê lai F1
Boer x Spanish và Boer x Angora lần lượt là 154 và 161 g/ngày cao hơn dê Spanish
(117 g/ngày).
Ssewannyana và cs (2004) [26] cho biết dê lai F1 (♂ Boer × ♀ Mubenla địa
phương) và F1 (♂ Boer × ♀ Teso địa phương) có khối lượng sơ sinh, 8, 16, 24 tuần
15
tuổi lần lượt là 1,91 và 2,01; 5,88 và 7,24; 8,94 và 9,47; 13,65 và 13,16 kg. Sinh
trưởng tuyệt đối của dê lai F1 (♂ Boer × ♀ Mubenla địa phương) và F1 (♂ Boer ×
♀ Teso địa phương) giai đoạn 0-16 tuần tuổi lần lượt là 62,77 và 66,43 g/ngày đều
cao hơn dê Mubenla và Teso địa phương (56,11 và 47,15 g/ngày). Dê lai F1 (♂ Boer
× ♀ Mubenla địa phương) và F1 (♂ Boer × ♀ Teso địa phương) có khối lượng lúc
24 tuần tuổi (13,65 và 13,16 kg) đều lớn hơn dê Mubenla và Teso địa phương ở lứa
tuổi (11,21và 9,25 kg).
Maria Sauer và cs (2012) [23] cho biết sinh trưởng tuyệt đối của dê lai F1 giữa
dê đực Boer và dê địa phương của Rumania là 225,12 g/ngày trong khi đó sinh