BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------
NGUYỄN VĂN TUYÊN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾĐỘ NGẬP NƯỚC ĐẾN SINH
TRƯỞNG CỦA CÂY TRÀM ( Melalleuca cajuputi) Ở VƯỜN QUỐC
GIA U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------
NGUYỄN VĂN TUYÊN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾĐỘ NGẬP NƯỚC ĐẾN SINH
TRƯỞNG CỦA CÂY TRÀM ( Melalleuca cajuputi) Ở VƯỜN QUỐC
GIA U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG
tiếp thu mọi ý kiến đóng góp.
Tôi xin cam đoan nghiên cứu này là của riêng cá nhân tôi. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu trong luân văn này mà tôi sử dụng chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Xin trân trọng cảm ơn!
Xuân Mai, ngày 20 tháng 09 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Văn Tuyên
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... i
MỤC LỤC ................................................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ......................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG....................................................................................... iv
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ.......................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................................. 3
1.1. Lịch sử và nguồn gốc cây Tràm .................................................................... 3
1.2. Đặc điểm sinh thái, phân bố, sinh trưởng và giá trị sử dụng của loài tràm ...........3
Chương 2: MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ......................................................................................................................... 13
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 13
2.2. Giới hạn nghiên cứu ...................................................................................... 13
2.3. Nội dung nghiên cứu ..................................................................................... 13
2.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 14
2.4.1. Quan điểm và phương pháp luận ............................................................ 14
4.3.1. Ảnh hưởng của chế độ giữ nước đến sinh trưởng đường kính (D) của
rừng Tràm ở Vườn Quốc gia U Minh Thượng ................................................. 71
4.3.2. Ảnh hưởng của chế độ giữ nước đến sinh trưởng chiều cao (H) của rừng
Tràm ở Vườn Quốc gia U Minh Thượng ......................................................... 73
4.3.3. Ảnh hưởng của chế độ giữ nước đến sinh trưởng thể tích (V) của rừng
Tràm ở Vườn Quốc gia U Minh Thượng ......................................................... 75
4.4. Những khuyến nghị cho chế độ quản lý nước thích hợp............................... 77
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ ............................................................. 82
1. Kết luận ............................................................................................................ 82
2. Tồn tại. .............................................................................................................. 85
3. Khuyến nghị ..................................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Chú giải
Tăng trưởng bình quân chung về đường kính
Tăng trưởng bình quân chung về chiều cao
Tăng trưởng bình quân chung về thể tích
Chu vi thân cây ở độ cao 1,3 m cách mặt đất (cm)
Độ nhọn
Hệ số biến động (%)
Độ lệch
Tăng trưởng thường xuyên hàng năm về đường kính
Tăng trưởng thường xuyên hàng năm về chiều cao
Chiều cao vút ngọn cây rừng (m)
M
Trữ lượng (
OTC
Ô tiêu chuẩn
R
TC
)
Hệ số tương quan
Độ tàn che cây cao (%)
TTBD
Rừng Tràm tái sinh sau cháy trên đất than bùn dày
TTKC
Rừng Tràm không bị cháy
TTM
Rừng Tràm tái sinh sau cháy trên đất than bùn mỏng
12
3.1
Hiện trạng đất đai vùng đệm
30
4.1
Các chỉ tiêu khí tượng cơ bản tại VQG U Minh Thượng
37
4.2
4.3
4.4
4.5
Độ cao mực nước Kênh trung tâm vườn quốc gia U Minh Thượng
vào các thời điểm khác nhau trong năm
Độ cao mực nước ngoài kênh và vào sâu trong rừng tràm ở Vườn
quốc gia U Minh Thượng (số liệu của tổ chức CARE)
Mực nước ở ngầm tuyến thuỷ văn dưới rừng tràm tự nhiên (mm)
Các đơn vị lớp phủ thực vật trong khu vực VQG U Minh Thượng
năm 2009.
42
64
4.11 Bảng phương trình tương quan và hệ số tương quan của 5 trạng thái rừng.
67
4.12 Phân bố diện tích theo độ cao mặt đất của VQG U Minh Thượng
67
4.13 Phân bố diện tích theo độ cao ở 3 phân khu của VQG U Minh Thượng
68
4.14
Diễn biến mực nước giữ lại của VQG U Minh Thượng giai đoạn
2002 – 2009
69
vi
4.15
4.16
4.17
độ ngập nước đến sinh trưởng rừng tràm
Sậy ở vườn quốc gia U Minh Thượng
Đất
4.2p Đất phèn hoạt động ở nơi không có lớp than bùn
32
33
4.3
Tràm phát triển trên đất Than bùn
34
4.4
Đất dưới rừng tràm có tầng than bùn mỏng sau cháy năm 2002
36
4.5
Phân bố đô cao lớp than bùn ở vườn quốc gia U Minh Thượng
36
4.6
Phân bố mưa theo các tháng trong năm tại VQG U Minh Thượng
4.11
4.12
(số liệu củaCARE,2000)
Biến động của độ cao mực nước ngầm, độ cao mặt đất và bề dày lớp
45
than bùn theo khoảng cách đến kênh ở rừng tự nhiên
4.13 Liên hệ của mực nước ngầm với khoảng cách đến kênh
46
4.14 Những hệ sinh thái rừng tràm ở VQG U Minh Thượng
51
4.15 Hệ sinh thái rừng tràm xen lẫn với các loài thực vật khác
54
4.16 Bồn Bồn phát triển dầy đặc trong khu vực ngập nước ở VG U Minh Thượng
56
4.17 Biểu đồ phân bố N/D của 5 trạng thái rừng
Sinh trưởng và tăng trưởng về đường kính của 5 trạng thái rừng
72
Tràm VQG UMT giai đoạn 2002 – 2009
Sinh trưởng và tăng trưởng về chiều cao của 5 trạng thái rừng Tràm
74
VQG UMT giai đoạn 2002 - 2009
Sinh trưởng và tăng trưởng về thể tích của 5 trạng thái rừng Tràm
76
VQG UMT giai đoạn 2002 - 2009
4.26 Vườn quốc gia U Minh Thượng khi chia thành 3 phân khu theo địa hình
79
4.27 Vườn quốc gia U Minh Thượng khi chia thành 5 phân khu
80
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Là một trong hai khu vực còn lại của hệ sinh thái tự nhiên đầm lầy than bùn
chết vì yếm khí. Còn mực nước ngập chịu đựng được của cây tràm tối đa là 4060cm. Nếu ngập sâu hơn các rễ khí sinh sẽ không tiếp cận được đến đất để hấp thụ
dinh dưỡng và giữ vững cho thân cây.
Như vậy câu hỏi cấp thiết đặt ra là mực nước ngập khác nhau có ảnh hưởng
như thế nào đến sinh trưởng và phát triển của rừng tràm ở khu vực, để trả lời câu
hỏi trên nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho quản lý nước thích hợp để
duy trì sinh trưởng của rừng tràm và ở vườn quốc gia U Minh Thượng chúng tôi
thực hiện đề tài nghiên cứu: ““Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ ngập nước đến
sinh trưởng của cây Tràm (Melalleuca cajuputi) ở VQG U Minh Thượng tỉnh
Kiên Giang”.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử và nguồn gốc cây Tràm
Vào giữa thế kỹ XVIII (1744 – 1755), cây Tràm được nói đến lần đầu tiên
trong tác phẩm “HEBARIUM AMBOINENSE” của Georges Everhard Rumph.
Năm 1754, cây Tràm có tên là Myrtus leucadendra L. in Stickman và đến năm
1767, Linné đặt ra chi Melaleuca với một loài duy nhất là Melaleuca leucadendron
L. Đến năm 1790. cây Tràm được tìm thấy ở Việt Nam bởi Jean Loureiro (Lâm
Bỉnh Lợi và Nguyễn Văn Thôn, 1972)[14]
Về mặt phân loại học, trong hầu hết các tài liệu khoa học xuất bản ở nước ta
trước năm 1993 đều định danh khoa học cây Tràm mọc tự nhiên ở ta là Melaleuca
leucadendron. Thực ra Melaleuca leucadendron là một nhóm các loài Tràm có hình
thái bên ngoài giống nhau và có quan hệ di truyền gần gũi với nhau mà cây Tràm
của Việt Nam từ năm 1993 đã được định danh lại là Melaleuca cajuputi, là một loài
thuộc nhóm này (Hoàng Chương, 2004)[4].
1.2. Đặc điểm sinh thái, phân bố, sinh trưởng và giá trị sử dụng của loài
Tràm (Melaleuca cajuputi)
nhỏ, cao khoảng 10m; nhưng theo Lâm Bỉnh Lợi & Nguyễn Văn Thôn
(1972)[36],[14] cây Tràm cao đến 20 – 25m, đường kính đến 60cm và theo
Hoàng Chương (2004) thì đại đa số các loài Tràm là các cây bụi hoặc cây nhỏ,
cây trưởng thành chỉ cao từ 1 – 2m đến không quá 20m; chỉ riêng nhóm loài
Melaleuca leucadendron trong đó có loài Tràm (M. cajuputi) và Tràm lá dài (M.
leucadendra) là những loài mà cây trưởng thành có kích cỡ lớn, có thể cao được
tới 30m hoặc hơn.
Về mặt phân loại học, căn cứ vào hình thái vỏ thân cây người ta chia các
loài Tràm thành nhiều nhóm, trong đó quan trọng hơn cả là nhóm loài có vỏ dầy
gồm nhiều lớp xốp xếp trồng lên nhau giống như xấp giấy mà cây Tràm ở Viêt
Nam là một điển hình của nhóm này. Nhóm này có một đặc điểm sinh thái khá
đặc biệt, khác với các nhóm Tràm khác, đó là hầu hết các loài thuộc nhóm này
thường gặp trên lập địa đất tốt, ẩm mọc trong loại rừng thưa hỗn loại với các loài
5
cây khác mà thường là với các loài Bạch đàn như Bạch đàn vỏ trắng (Eucalyptus
alba), Bạch đàn têrê (E. tereticornis)... Chỉ ở các lập địa đầm lầy nước ngập theo
mùa các loài Tràm này mới mọc thuần loại.
Về mặt phân loại học, căn cứ vào hình thái vỏ thân cây người ta chia các loài
Tràm thành nhiều nhóm, trong đó quan trọng hơn cả là nhóm loài có vỏ dầy gồm
nhiều lớp xốp xếp trồng lên nhau giống như xấp giấy mà cây Tràm ở Viêt Nam là
một điển hình của nhóm này. Nhóm này có một đặc điểm sinh thái khá đặc biệt,
khác với các nhóm Tràm khác, đó là hầu hết các loài thuộc nhóm này thường gặp
trên lập địa đất tốt, ẩm mọc trong loại rừng thưa hỗn loại với các loài cây khác mà
thường là với các loài Bạch đàn như Bạch đàn vỏ trắng (Eucalyptus alba), Bạch đàn
têrê (E. tereticornis)... Chỉ ở các lập địa đầm lầy nước ngập theo mùa các loài Tràm
này mới mọc thuần loại.
Cũng theo Hoàng Chương (2004)[4], Melaleuca cajuputi là loài Tràm bản
Tràm không phải là rừng “đỉnh cực” trong hệ sinh thái và cũng không phải là rừng
nguyên sinh (Phùng Trung Ngân, 1986 trong Thái Văn Trừng, 1999). Whitmore
T.C. (1975) trong Thái Văn Trừng (1999) cũng cho rừng Tràm là một quần hợp thứ
sinh, do tác nhân lửa rừng đã tiêu diệt những cây con hỗn hợp nhiều loài[31].
Theo Lâm Bỉnh Lợi & Nguyễn Văn Thôn (1972)[14] cây Tràm sinh trưởng
mạnh thành quần thụ đơn thuần, tái sinh tự nhiên mạnh và lan tràn nhanh chóng trên
đất phèn có độ pH trên dưới 4. Là loài cây ưa sáng, tán tương đối thưa, tăng trưởng
nhanh trong 10 năm đầu và kết trái vào khoảng 5 – 7 tuổi.
Về mặt thủy chế, theo Phùng Trung Ngân (1986) trong Thái Văn Trừng
(1999) thì trong hệ sinh thái rừng úng phèn, Tràm là loài cây thích nghi nhất, từ lúc
hạt nẩy mầm thành cây mạ đã có thể sinh trưởng trong nước ngập phèn, nhưng
không có năng suất cao[31].
1.2.4. Địa chất thổ nhưỡng
Lịch sử địa chất của hệ sinh thái rừng úng phèn trên Đồng Tháp Mười, Tứ
giác Long Xuyên và U Minh Cà Mau có liên quan mật thiết với lịch sử thành tạo
Đồng Bằng Sông Cửu Long. Theo Hồ Chín và Võ Đình Ngô (1985) trong Thái Văn
Trừng (2000)[32] thì lịch sử địa chất trầm tích của Đồng Bằng Sông Cửu Long có
những nét lớn như sau:
7
Các chuyển động tân kiến tạo vào cuối Tân Sinh, tạo thành hai khối Đông
Nam Trung Bộ và Đông Campuchia bao bọc một khối sụt ở giữa, gồm các trũng
rộng lớn sau đó được sông Cửu Long và các khu phụ lưu bồi đắp thành lớp trầm
tích pliopleixtoxen cách đây khoảng 700.000 năm. Kế đó với các giai đoạn biển tiến
và biển thoái, kết thúc cách đây 4.500 năm trước đã tạo thành một vùng trũng thấp,
sình lầy rộng lớn với sự hình thành lớp trầm tích đầm lầy biển, nguồn gốc của các
tầng sinh phèn rộng lớn ở Đồng bằng Sông Cửu Long, là nơi phát sinh ra hệ sinh
thái rừng úng phèn này.
chịu lửa, khả năng tái sinh sau lửa rất mạnh thể hiện mật độ quần thể ở những nơi bị
cháy lớn hơn rất nhiều so với các quần thể đối chứng (không cháy sau một thời gian
dài). Khả năng chống chịu lửa của rừng tràm phụ thuộc rất lớn và kích thước và quy
mô đám cháy và được xác định thông qua khối lượng vật liệu cháy, cường độ đám
cháy và mùa cháy (Price et al., 2003)[49]. Lửa xuất hiện thường xuyên với cường
độ lớn sẽ đốt cháy hoặc làm triệt tiêu khả năng nảy mầm của hạt (Bradstock et al.
1997)[40]. Nghiên cứu của Yates and Russell-Smith (2003)[53] đã cho thấy rừng
tràm có khả năng chịu đựng được tổn thương do lửa thường xuyên, tuy nhiên,
khoảng cách giữa hai lần cháy phải đủ dài để cây lớn lên đạt kích thước tối thiểu để
ra hoa và kết quả trở lại và tồn tại sau lửa.
Franklin et al. (2007)[46] đã tiến hành điều tra 340 ô tiêu chuẩn phân bố trên
vùng diện tích rộng 450000 km2 ở phía bắc Úc để nghiên cứu quy luật phân bố và
tái sinh của rừng tràm. Kết quả cho thấy của tràm Melaleuca argentea thích hợp với
nền đất cát và phân bố chúng bị giới hạn bởi các dòng sông. Trong khi đó tràm
Melaleuca cajuputi lại thích hợp với đất thịt và xuất hiện ở các vùng đất thấp ven
biển. Các loài tràm Melaleuca dealbata, M. viridiflora and M. leucadendra có phân
bố trên nhiều loại đất khác nhau phụ thuộc vào tình trạng ngập lụt. Tràm M.
argentea and M. leucadendra phân bố ở các vùng ngập dọc sông. Ngược lại M.
leucadendra và M. cajuputi lại xuất hiện ở vùng đầm lầy ở cửa sông. Các tác giả đã
đi đến kết luận, ở các vùng nhiệt đới phía bắc nước Úc, rừng tràm thay thế rừng
mưa nhiệt đới ở những nơi có lửa cháy hoặc ngập lụt mạnh Franklin & Bowman
(2004)[45]. Tuy nhiên, ở các khu vực cao hơn, sự xuất hiện của lửa thường xuyên
đã hạn chế sự xâm lấn của tràm với thảm thực vật khác như savan, trảng cỏ. Điều
này đã được chứng minh trong nghiên cứu đốt thử của Crowley et al. (2009)[43]
9
trong vòng 3 năm liên tục và so sánh với khu vực không có lửa cháy trong vòng
20 năm đã làm tăng mật độ tràm Melaleuca viridiflora lên 7 lần.
kính thân đạt 30-40cm và mang nhiều dây leo quấn quanh thân. Vì sinh trưởng
trên lớp than bùn dày nên tràm tăng trưởng kém. Đối với những vùng dất có lớp
mùn dầy (đất than bùn) thì mức độ ưu thế của Tràm giãm đi rõ rệt với sự xuất
hiện của các loại thảo mộc khác như: Dây choại (Stenochloena palustris), Dớn
(Polybotrya appendiculata), Mốp (Alstonia spathulata) vv… Đồng thời, trên
loại đất này cũng hàm chứa nhiều yếu tố bất lợi đến sinh trưởng của rừng Tràm:
(1) Hệ rễ của cây Tràm không hợp với loại đất này và dễ bị đổ ngã dưới tác dụng
ngoại lực (gió…) sinh trưởng trên vùng đất này cây Tràm không có được 1 hình
dáng cân đối và do đó ít có giá trị; (2) Đất mùn thường chứa nhiều sâu bọ, mầm
bện và cây ký sinh và (3) Các loài Dương xỉ, Dớn, Choại phát triển nhanh trên
đất mùn sẽ bao phủ mặt đất và làm cây Tràm con bị “chết ngạt” (Lâm Bỉnh Lợi
& Nguyễn Văn Thôn, 1972)[14].
Theo Võ Ngươm Thảo (2004)[25], do lửa rừng hằng năm tiêu diệt các loài
cây khác mà Tràm trở thành thuần loại do có lớp vỏ cấu tạo đặc biệt chịu được
lửa. Khi lớp than bùn bị cháy và sau cùng hoàn toàn bị huỷ diệt sẽ để lộ ra lớp
đất sét ở bên dưới. Tuỳ đặc tính của lớp đất này rừng Tràm-Dớn-Choại trên đất
than bùn đã chuyển thành rừng Tràm-Sậy hoặc Tràm-Sậy- Năng trên đất sét, với
cây tràm ở tầng trên, cao khoảng 10-15m thân thẳng đứng, tán lá hình tháp và ở
bên dưới là sậy cao từ 1 đến 2m nơi đất phèn nhẹ, sậy năng nơi đất phèn nhiều
(Võ Nguơn Thảo, 2004). Trên loại đất này Tràm sinh trưởng thuận lợi hơn, thân
cây thẳng, ít cành nhánh do mật độ cao hơn vì ít cạnh tranh với các loài cây
khác. Mặt khác, Tràm thường thích đất sét, có phèn và ẫm ướt (Lâm Bỉnh Lợi &
Nguyễn Văn Thôn, 1972)[14].
1.2.6. Công dụng của cây tràm
1.2.6.1. Gỗ
Gỗ Tràm có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, chủ yếu là các
sản phẩm gia dụng đơn giản. Phổ biến nhất là làm cừ gia cố móng trong các
công trình xây dựng qui mô nhỏ. Gỗ Tràm nếu xẽ ván mà không được xử lý cẩn
thận sẽ bị cong vênh khi khô và không giữ được lâu khi phơi ra ánh sáng nên rất
12
Bảng 1-1. Lượng tinh dầu trong lá non và già của Tràm
Tháng/Năm
3/1961
4/1961
5/1961
6/1961
7/1961
8/1961
9/1961
10/1961
11/1961
12/1961
01/1962
02/1962
Lá già (g tinh dầu/kg lá) Lá non (g tinh dầu/kg lá)
7.70
7.00
4.87
4.20
7.30
8.10
7.60
9.50
9.54
10.00
2.2. Giới hạn nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian, nhân lực và kinh phí có hạn đề tài “Nghiên cứu
ảnh hưởng của mức độ ngập nước đến sinh trưởng của cây tràm ở vườn quốc gia U
Minh Thượng” có giới hạn như sau:
- Về địa điểm: chỉ tiến hành nghiên cứu tại Vườn quốc gia U Minh Thượng
- Về đối tượng nghiên cứu: là loài Tràm phân bố trên những vị trí có mức độ
ngập nước khác nhau.
- Về nội dung nghiên cứu: chỉ nghiên cứu đặc điểm điều kiện lập địa ở những
khu vực có mức ngập nước khác nhau cùng điều kiện sinh trưởng của cây tràm trên
những khu vực đó và mối quan hệ giữa sinh trưởng của cây tràm với mức ngập
nước, từ đó đề xuất mức ngập nước hợp lý để duy trì sinh trưởng của cây tràm.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Nhằm đáp ứng mục tiêu và giới hạn nghiên cứu đề tài tiến hành nghiên cứu
các nội dung sau:
- Nghiên cứu đặc điểm điều kiện lập địa ở khu vực có mức ngập nước khác nhau.
- Nghiên cứu Đặc điểm sinh trưởng và phân bố rừng tràm ở những nơi có chế
độ ngập nước khác nhau.
- Nghiên cứu quan hệ sinh trưởng với chế độ ngập nước thích hợp ở khu vực
nghiên cứu
14
- Đề xuất những khuyến nghị cho chế độ quản lý nước thích hợp để duy trì
sinh trưởng của cây tràm
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Quan điểm và phương pháp luận
Ảnh hưởng của chế độ ngập nước đến sinh trưởng cây tràm được thực hiện
qua phân tích đặc điểm sinh trưởng của tràm với mức độ ngập nước ở những vị trí
khác nhau. Ở những độ cao địa hình khác nhau tiến hành thiết lập các ô tiêu chuẩn
Sinh trưởng của cây rừng phụ thuộc vào nhiều nhân tố ngoại cảnh khác nhau.
Do dó, muốn xác định ảnh hưởng riêng biệt của chế độ giữ nước đến sinh trưởng
của rừng Tràm thì tất cả các yếu tố khác cần phải được chọn đồng nhất. Vì vậy, khi
nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ giữ nước đến sinh trưởng rừng Tràm, đề tài đã
chọn lựa những lâm phần Tràm đưa vào nghiên cứu có sự khác nhau về độ sâu ngập
nhưng đồng nhất về điều kiện khí hậu, tính chất đất... Phân tích ảnh hưởng của chế
độ giữ nước đến sinh trưởng của rừng Tràm được giới hạn ở việc nghiên cứu những
thay đổi về các chỉ tiêu sinh trưởng: đường kính, chiều cao và thể tích của các cây
tiêu chuẩn đặc trưng theo mức độ ngập và thời gian ngập.
a. Phương pháp kế thừa:
Đề tài kế thừa những nghiên cứu và báo cáo khoa học về vấn đề sinh trưởng
rừng và sinh trưởng rừng Tràm nói riêng, kế thừa tư liệu biến đổi mực nước giữ lại
để phòng chống cháy giai đoạn 2002 – 2009 của khu vực nghiên cứu
b. Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp
+ Đặc điểm của điều kiện lập địa gồm đặc điểm của thổ nhưỡng, đặc điểm của
thuỷ văn
- Nghiên cứu đặc điểm thổ nhưỡng qua điều tra các ô tiêu chuẩn ở những vị
trí có chế độ ngập nước khác nhau. Cụ thể đề tài tiến hành thu thập các chỉ tiêu sau:
Độ cao mặt đất , bề dày than bùn, dung trọng, tỷ trọng của than bùn, hàm
lượng carbon trong than bùn, độ pH, hàm lượng phèn.
- Nghiên cứu đặc điểm của chế độ thuỷ văn gồm: đặc điểm độ dài thời kỳ
ngập nước, độ cao ngập nước, mực nước thấp nhất, ảnh hưởng của độ cao mực
nước với các chỉ tiêu thủy văn.
+ Điều tra ô tiêu chuẩn