BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------------------
LÊ NGỌC HẢI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA HỆ SINH THÁI RỪNG NÚI
ĐẤT THEO ĐAI CAO TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
PÙ HU, THANH HÓA
Chuyên ngành: QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
Mã số
: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN QUANG BẢO
HÀ NỘI - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------------------
LÊ NGỌC HẢI
Công trình được hoàn thành tại: TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Quang Bảo
Phản biện 1: ……………………………………………………..
Phản biện 2: ………………………………………………………
Phản biện 3: ………………………………………………………
Luân văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp
tại: Trường Đại học Lâm Nghiệp
vào hội ……..giờ…..ngày……tháng…….năm…..
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện - Trường Đại học Lâm nghiệp
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Giải thích nghĩa
D1.3
Đường kính ở vị trí 1,3 m
Hvn
Bảo tồn thiên nhiên
PH
Phòng hộ
SX
Sản xuất
ĐD
Đặc dụng
Nxb
Nhà xuất bản
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
2.1
4.1
4.2
Tên bảng
Hiện trạng dân sinh các xã thuộc vùng lõi, vùng đệm
Tổ thành tầng cây cao của hệ sinh thái rừng núi đất theo đai cao
51
4.7
Mô phỏng phân bố NL/D1.3 bằng hàm Khoảng cách
52
4.8
Mô phỏng phân bố NL/D1.3 bằng hàm Weibull
53
4.9
Mô phỏng phân bố N/D1.3 bằng hàm Khoảng cách
55
4.10
Mô phỏng phân bố N/D1.3 bằng hàm Weibull
55
4.11
Tổng hợp kết quả so sánh phân bố NL/D1.3 trên các đai cao
62
4.17
Tổng hợp kết quả so sánh phân bố NL/Hvn trên các đai cao
64
4.18
Tổng hợp kết quả so sánh phân bố N/Hvn trên các đai cao
64
4.19
Bảng phân loại các trạng thái rừng núi đất theo đai cao hiện tại
ở Khu BTTN Pù Hu – Thanh Hóa
66
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Tên hình
54
4.4
Biểu đồ phân bố N/D1.3 theo hàm Weibull
57
4.5
Biểu đồ phân bố NL/Hvn theo hàm Weibull
61
4.6
Biểu đồ phân bố N/Hvn theo hàm Weibull
63
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hệ sinh thái rừng được coi là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến
môi trường và cuộc sống của con người, là loại tài nguyên quý giá có khả năng tái
tạo và phát triển, là bộ phận quan trọng có vai trò chủ lực trong nhiều lĩnh vực như:
phòng hộ, bảo vệ môi trường, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học,
bảo vệ nguồn gen, tôn tạo cảnh quan, cung cấp nhiều loại lâm sản thiết yếu, quý
hợp lý gần với tự nhiên tại các khu rừng chuẩn. Từ các mô hình chuẩn này chúng ta
có những hướng tác động, bổ sung các điều kiện cần cho các mẫu thiếu, xây dựng
mẫu cho các loại hình rừng mới.... tác động để hướng tới mẫu chuẩn. Bằng cách
này, các nhà lâm học có thể sử dụng các mô hình cụ thể cho các mẫu rừng cụ thể để
hướng tới phục hồi rừng theo hướng chuẩn của tự nhiên.
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu nằm phía tây tỉnh Thanh Hóa có tổng diện
tích tự nhiên là 27.502,89 ha bao gồm 16.246,74 ha rừng cần được bảo vệ nghiêm
ngặt; 11.238,15 ha rừng phục hồi sinh thái. Được tạo thành chủ yếu bởi 2 hệ sinh
thái là hệ sinh thái núi đất đai cao và hệ sinh thái núi đá vôi.
Phân bố đặc trưng ở độ cao 500 đến 1.500 m với diện tích 27.312,96 ha. Hệ
sinh thái núi đất đai cao chiếm 98,55 % tổng diện tích phân bố tương đối đều trên
toàn diện tích. gồm các kiểu rừng sau: Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa ít bị tác
động trên đai cao, kiểu rừng thường xanh mưa mùa bị tác động trên đai cao, kiểu
rừng thường xanh mưa mùa trên đất thấp bị tác động mạnh.
Với thực trạng hiện nay trong khu vực quản lý của Khu bảo tồn vẫn còn
nhiều cộng đồng dân cư sống xen lẫn. Cuộc sống của họ gắn liền với rừng, sản vật
thu hái được từ rừng được phục vụ cho nhu cầu sinh sống hàng ngày. Mặc dù đơn vị
tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và có nhiều chương trình phát triển kinh tế
nhằm giảm các tác động xấu đến rừng. Nhưng hiện nay tài nguyên rừng đang bị tác
động nghiêm trọng.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế nhằm bảo tồn, cũng như nâng cao sự hiểu biết
hệ sinh thái rừng núi đất đai cao tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm cấu
trúc của hệ sinh thái rừng núi đất theo đai cao tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù
Hu, Thanh Hóa”.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
tùy thuộc vào kiểu rừng, mục tiêu kinh doanh mà các trường phái lựa chọn các nhân
tố chủ đạo phân loại khác nhau.
1.1.2 Nghiên cứu cấu trúc
1.1.2.1. Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Khái niệm về hệ sinh thái rừng đã được làm sáng tỏ là cơ sở cho việc nghiên
cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan điểm sinh thái học.
Baur G.N (1964) [1] đã nghiên cứu các vấn đề cơ cở sinh thái học nói chung
và cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng. Trong đó, tác giả đã đi
sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng
cho rừng mưa tự nhiên. Theo tác giả, các phương thức đều có hai mục đích rõ rệt:
“Mục tiêu thứ nhất là cải thiện rừng cây nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không
đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo không
gian sống thích hợp cho các loài cây còn lại sinh trưởng: mục tiêu thứ 2 là tạo lập
tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo hoặc giải phóng lớp
cây tái sinh sẵn có đang ở trạng thái ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra khỏi
rừng trong khai thác hoặc trong chăm sóc, nuôi dưỡng rừng sau đó”. Từ đó, tác giả
đã đưa ra tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý cải thiện rừng
mưa.
Catinot.R (1965) [4] đã nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu
diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái rừng thông qua việc
mô tả, phân loại theo các khái niệm, dạng sống, tầng phiến…
Odum E.P (1971) [28] hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật
ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tasley A.P năm 1935. Khái niệm hệ sinh thái được
làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu cấu trúc trên quan điểm sinh thái học.
1.1.2.2. Mô tả về hình thái cấu trúc rừng
Rừng mưa nhiệt đới với sự đa dạng và phong phú của nó đã được nhiều
nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu như Richards (1952) [31], Catinot (1965) [4].
Các tác giả này đi sâu vào biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng phẫu diện đồ, các
nhân tố cấu trúc được mô tả phân loại theo các khái niệm: dạng sống, tầng phiến…
trình đi sâu vào lĩnh vực và đối tượng này. Ông đã biểu diễn mối quan hệ giữa các
nhân tố điều tra với nhau bằng các hàm hồi quy, khái quát hóa phân bố đường kính
tán, đường kính thân cây dưới dạng phân bố xác suất.
6
a. Quy luật phân bố số cây theo cỡ kính (N /D1.3), số cây theo cỡ chiều cao (N/HVN)
Đây là các quy luật cơ bản nhất của kết cấu lâm phần. Việc mô phỏng quy
luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N-D), số cây theo cỡ chiều cao (N/HVN)
được nhiều tác giả đặc biệt quan tâm. Hầu hết các tác giả đều sử dụng hàm toán học
để mô phỏng cho các quy luật này. Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu sau:
Meyer (1934) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [10], sử dụng phương trình toán
học có dạng đường cong giảm liên tục để mô tả phân bố số cây theo cỡ đường kính,
được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer
Naslund (1936 - 1937) đã xác lập luật phân bố Chiarlier kiểu A để nắn số cây
theo cỡ kính của các lâm phần rừng thuần loài đều tuổi (theo Phạm Ngọc Giao,
1995 [10]).
Balley (1973) đã sử dụng hàm Weibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính
loài, chiều cao thông theo mô hình của Schumacher và Coile (theo Bùi Văn Chúc,
1995 [5]). Loestch (1973) đã dùng hàm Beta để nắn các phân bố thực nghiệm (theo
Trần Cẩm Tú, 1999 [39]).
Diatchenko, Z.N sử dụng phân bố Gamma để biểu thị phân bố số cây theo cỡ
đường kính lâm phần Thông Ôn đới. J.L.F Batista và H.T.Z Docouto (1992), đã
dùng hàm Weibull để mô phỏng phân bố N/D khi nghiên cứu rừng nhiệt đới tại
Marsanhoo – Brazin (theo Phạm Ngọc Giao, 1995 [10]).
Ngoài ra, một số tác giả sử dụng các hàm Hyperbol, họ đường cong Pearson,
phân bố Boisson,… để mô phỏng quy luật phân bố này.
b. Quy luật tương quan giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực (HVN/D1.3).
Giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực của các cây trong lâm phần luôn
h 1,3
d2
(a b.d )2
(1.4)
Petterson, H (1955) (dẫn theo Nguyễn Trọng Bình, 1996 [2]) đề xuất sử dụng
phương trình:
3
1
b
a
d
h 1,3
(1.5)
Curtis, R.O (1967) (dẫn theo Hoàng Văn Dưỡng, 2000 [9]) mô phỏng quan
hệ giữa chiều cao với đường kính và tuổi theo dạng phương trình:
1
1
1
Logh d b1. b2 . b3.
d
A
d.A
(1.6)
rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống). Hai
đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở rừng thứ sinh - một
đối tượng rừng khá phổ biến ở rừng nhiệt đới.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên,
nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ,
cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên. Baur G.N. (1964)[1] cho rằng, trong
rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối
với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng.
Ngoài ra, các tác giả nhận định, thảm cỏ và cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của cây tái sinh. Mặc dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi
kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng dến cây tái sinh. Đối với rừng nhiệt
đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn.
Số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các
9
loài cây có giá trị kinh tế thấp lại ít được quan tâm mặc dù chúng có vai trò sinh thái
quan trọng. Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đề cập một cách đầy
đủ tất cả các loài cây xuất hiện trong lớp cây tái sinh để có những đánh giá chính
xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp.
Như trên đã đề cập, mục tiêu thứ hai của các tác động xử lý ở rừng mưa nhiệt
đới là tạo lập tái sinh bằng mọi cách nhằm thực hiện tái sinh thành công. Việc áp
dụng hàng loạt các biện pháp kỹ thuật nhằm xây dựng và duy trì lớp cây tái sinh
trong tình trạng lành mạnh, đưa lớp cây tái sinh này tới tuổi thành thục được coi là
nền tảng của một phương thức lâm sinh.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu được đề cập trên đây phần nào làm sáng
tỏ việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên nói chung và rừng nhiệt đới nói
riêng. Đó là những cơ sở để lựa chọn cho việc nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng
trong luận văn này. Tùy vào từng đối tượng cụ thể mà cần phải có những phương
Lê Sáu (1996) [32], dựa trên bảng của Loeschau để phân loại các trạng thái
các lâm phần rừng kín thường xanh ở Kon Hà Nừng.
Như vậy, nhiều tác giả đã có những nghiên cứu liên quan đến việc phân chia
loại hình rừng tự nhiên ở Việt Nam. Mỗi phương pháp phân chia dựa trên cơ sở
nhất định và phù hợp cho từng đối tượng nhất định. Tuy nhiên, cơ sở lý luận theo
phân loại của Thái Văn Trừng rất chặt chẽ, đáp ứng được thực tiển và khả năng áp
dụng dễ dàng. Mặt khác hệ thống phân loại này có thể áp dụng cho tất cả các loại
thảm thực vật dù đó là rừng nghiên sinh hay rừng thứ sinh bị tác động, thậm chí là
những khu rừng nhân tạo.
1.2.2. Nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng
1.2.2.1. Quy luật phân bố số cây theo cỡ kính (N/D1.3) và số cây theo cỡ chiều cao (N/HVN)
Trương Hồ Tố (1996) [34] đã dùng họ đường cong Pearson và các hàm
Charlie để mô phỏng một số cấu trúc của rừng Thông ba lá ở Tây Nguyên. Vũ
Nhâm (1988), Phạm Ngọc Giao (1989), Trần Văn Con (1991) [6] đã áp dụng hàm
Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính ở các kiểu rừng khác nhau.
Lê Minh Trung (1991) [36] đã sử dụng hàm Poisson mô phỏng cấu trúc tán
lá cây, hàm Weibull mô phỏng cấu trúc chiều cao và đường kính. Đồng thời, khảo
nghiệm hàm Hyperbol và Meyer cho các cấu trúc này.
11
Ở nước ta, vài ba thập niên trở lại đây, nghiên cứu quy luật phân bố số cây
theo cỡ kính, chiều cao mới được các nhà lâm sinh học quan tâm, cụ thể
Đồng Sĩ Hiền (1974) [11] dùng hàm Meyer và họ đường cong Pearson để
nắn phân bố số cây theo đường kính làm cơ sở cho việc lập biểu thể tích và biểu độ
thon cây đứng rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam. Phân bố số cây theo cỡ chiều cao
ở các lâm phần rừng tự nhiên hay trong từng loài cây thường có nhiều đỉnh, phản
ánh kết cấu tầng phức tạp của rừng chặt chọn.
Nguyễn Hải Tuất (1972, 1982, 1990) [40], [41], [42] đã sử dụng hàm phấn
Vũ Tiến Hinh (1985, 1986, 1990) [12], [13], [14] đã thử nghiệm một số phân
bố lý thuyết để nắm phân bố N/D1.3, N/HVN một số loài cây trồng và đi đến kết
luận: Phân bố Weibull là phân bố thích hợp nhất.
Nhìn chung, khi xây dựng mô hình cấu trúc phân bố N/D1.3, N/HVN với đối
tượng là rừng trồng thuần loài đều tuổi, các tác giả thường sử dụng hàm Weibull,
còn đối tượng là rừng tự nhiên hỗn giao khác tuổi thì sử dụng phân bố khoảng cách,
phân bố giảm là phù hợp hơn. Tuy nhiên, việc sử dụng hàm này hay hàm khác cần
căn cứ vào dãy tần số phân bố thực nghiệm, cũng tức là phải dựa vào quy luật vận
động vốn có của rừng.
1.2.2.2. Quy luật tương quan giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực (HVN/D1.3).
Quy luật tương quan giữa HVN/D1.3 là môt quy luật cơ bản và quan trọng
trong hệ thống các quy luật cấu trúc lâm phần. Việc nghiên cứu mối quan hệ này có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng và được rất nhiều tác giả quan tâm. Có thể kể đến một
số công trình nghiên cứu sau:
Đồng Sĩ Hiền (1974) [11] khi nghiên cứu rừng tự nhiên nước ta đã thử
nghiệm 5 dạng phương trình sau:
h = a + blog(d)
(1.7)
h = ao + a1d + a2logd
(1.8)
h = ao + a1d + a2d2 + a3d3
(1.9)
h = a o + a 1 d + a 2 d2
(1.13)
h = a + blog(d)
(1.14)
Logh = a + blog(d)
(1.15)
Logh = a + b.d
(1.16)
Kết quả lựa chọn được hàm (1.15) là phù hợp nhất.
Đào Công Khanh (1996) [19], Trần Cẩm Tú (1993) [39] đã chọn phương trình
(1.15) để biểu diễn quan hệ giữa HVN/D1.3 cho rừng tự nhiên, hỗn loài ở Hương Sơn
– Hà Tĩnh.
Hoàng Văn Dưỡng (2000) [9] đã sử dụng các dạng hàm (1.14), (1.15), (1.16)
để nghiên cứu quan hệ giữa HVN/D1.3 cho lâm phần keo lá tràm ở một số tỉnh khu
vực miền Trung. Kết quả, tác giả đã chọn quan hệ dạng hàm (1.14) để biểu thị mối
quan hệ giữa HVN/D1.3.
1.2.3. Nghiên cứu về đa dạng loài khu hệ thực vật.
Trong lĩnh vực nghiên cứu về đa dạng sinh học đã thu hút sự quan tâm của
nhiều nhà khoa ở Việt Nam đặc biệt là nghiên cứu về đa dạng hệ thực vật. Đầu tiên
phải kể đến công trình nghiên cứu: “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn
14
15
tổng kết và rút ra nhận xét: Tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những
đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới. Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây
tái sinh tương tự như tầng cây gỗ dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ
kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố
số cây không đồng đều trên mặt đất rừng.
Khi nghiên cứu về tái sinh rừng không thể không nhắc tới hiện tượng tái sinh
lỗ trống. Theo Phạm Đình Tam (1987): số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều
dưới những lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn
những nơi kín tán. Đây là một trong những đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt
đới. Trần Ngũ Phương (2000), khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên
ở miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên
như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi
tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế. Trường hợp chỉ có một tầng trong khi nó già
cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc
cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp
thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong
tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được
phục hồi”. Tuy nhiên, sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu quy luật của loại hình
rừng tự nhiên, xây dựng bản cân đối giữa một bên là mặt thoái hóa với một bên là
mặt phục hồi tự nhiên, tác giả này và các cộng tác viên đã kết luận: “Mặt phục hồi
tự nhiên không bao giờ cân đối được với mặt thoái hóa về số lượng cũng như chất
lượng, nên muốn đảm bảo cho đất nước một độ che phủ thích hợp, chúng ta không
thể trông cây vào quy luật tái sinh tự nhiên mà chỉ có thể đi theo con đường tái sinh
nhân tạo và phương thức chặt tỉa kết hợp với tái sinh tự nhiên hiện nay phải bị lên án”.
Trần Cẩm Tú (1999) [39] nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn ở
Hương Sơn - Hà Tĩnh và đã rút ra kết luận, áp dụng phương thức xúc tiến tái sinh tự
nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đảm bảo sử dụng tài nguyên rừng một
cách bền vững.
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
- Ranh giới: Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu thuộc phía tây của tỉnh Thanh
Hoá, cách trung tâm thành phố Thanh Hoá 134 km về phía Tây Bắc theo đường
quốc lộ 47 và 15A thuộc địa giới hành chính của hai huyện gồm 11 xã. Trong đó
huyện Quan Hoá 10 xã: gồm: Xã Nam Tiến; Thiên Phủ, Hiền Chung, Hiền Kiệt,
Thanh Xuân, Phú Sơn, Phú Xuân, Phú Thanh, Trung Thành và Trung Sơn); huyện
Mường Lát 01 xã: Xã Trung Lý), thuộc tỉnh Thanh Hoá.
Các vị trí tiếp giáp:
+ Phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình và tỉnh Sơn La;
+ Phía Nam giáp huyện Quan Sơn;
+ Phía Đông giáp huyện Bá Thước;
+ Phía Tây giáp huyện Mường Lát và nước bạn Lào.
- Tọa độ địa lý:
Từ 20022’30’’ đến 20040’00’’ vĩ độ Bắc
Từ 104040’00’’ đến 105005’00’’ kinh độ Đông.
18
Hình2.1: Bản đồ vị trí Khu BTTN Pù Hu
2.1.2. Địa hình
Khu BTTN Pù Hu là một khối núi nằm ở phía Tây của vành đai núi đá vôi
chạy theo hướng Tây - Nam, từ Khu BTTN Pù Luông tới Vườn Quốc gia Cúc
Phương. Tuy nhiên về mặt địa chất thì Pù Hu chủ yếu là vùng núi đất với thành
phần đá mẹ phức tạp, bao gồm đá granite, riolite, sa thạch, phiến thạch, cuội kết, đá
czát và đá vôi. Đỉnh cao nhất là đỉnh Pù Hu ( 1.470 m) nằm phía Bắc khu bảo tồn.
Phía Nam có một số đỉnh cao 1.390 m và 1.420 m. Về phía Bắc, phía Đông và phía
Nam của các đỉnh núi này độ cao giảm mạnh cho tới các thung lũng sông Mã và