Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của một số quần xã thực vật rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa đồng nai - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

------------------------

NGUYỄN TIẾN DUY

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH
TỰ NHIÊN CỦA MỘT SỐ QUẦN XÃ THỰC VẬT RỪNG
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN - VĂN HÓA ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội - 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

------------------------

NGUYỄN TIẾN DUY

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH
TỰ NHIÊN CỦA MỘT SỐ QUẦN XÃ THỰC VẬT RỪNG

cường độ khác nhau của con người.
Do thiếu những nghiên cứu cơ bản và tính hệ thống về cấu trúc và tái
sinh rừng, người ta chưa đủ cơ sở khoa học và thực tiễn để tác động vào rừng,
cho nên giải pháp kỹ thuật áp dụng cho rừng tự nhiên hiện nay chủ yếu là
khoanh nuôi bảo vệ. Điều này cũng đang xảy ra ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai.
Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai là một khu vực đã được
các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá có mức độ đa dạng sinh học
cao và chứa đựng nhiều tiềm năng. Có rất nhiều loài không chỉ có giá trị về
mặt kinh tế mà còn về bảo tồn, nghiên cứu khoa học. Rất nhiều loài, đặc trưng
cho địa phương và là loài đặc hữu của Việt Nam mà trên thế giới không có.
Tuy nhiên, ở vùng đệm, các đặc điểm này của rừng không được duy trì do


2

rừng đã bị tác động, đặc biệt là việc khai thác không đúng quy trình kỹ thuật,
khai thác không bền vững làm cho rừng bị suy giảm cả về diện tích và chất
lượng. Sau khi bị tác động, khả năng phục hồi rừng gặp nhiều khó khăn; cấu
trúc rừng bị phá vỡ, tái sinh rừng bất lợi… Trong khi đó, giải pháp duy nhất
hiện nay chỉ là khoanh nuôi phục hồi rừng. Điều này dẫn đến quá trình phục
hồi rừng diễn ra rất chậm chạp, khó đáp ứng được các mục tiêu đặt ra như
phòng hộ hoặc sản xuất.
Để góp phần giải quyết một phần tồn tại nêu trên, đề tài “Nghiên cứu
đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của một số quần xã thực vật rừng tại
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai” đã được thực hiện nhằm góp
phần bổ sung những hiểu biết về cấu trúc và tái sinh tự nhiên của quần xã
thực vật rừng ở khu vực làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phát triển
bền vững hệ sinh thái rừng tại Bảo tồn Thiên nhiên – Văn Hóa Đồng Nai, hiện
đã được xác định là Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai.




4

Trong một thời gian dài, vấn đề duy trì và điều tiết cấu trúc rừng đã
được bàn luận và có nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt là việc đề xuất các
tác động xử lý đối với rừng tự nhiên nhiệt đới. Nhiều phương thức lâm sinh ra
đời và được thử nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới như phương thức chặt cải
thiện tái sinh (RIF, 1927), phương thức rừng đều tuổi của Malaysia (MUS,
1945), T.S.S của Nigeria (1944, 1961). [57]
Baur G.N. (1962) [57] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học
nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng,
trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt
lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Theo tác giả, các phương thức xử lý
đều có hai mục tiêu rõ rệt: “Mục tiêu thứ nhất là nhằm cải thiện rừng nguyên
sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây
quá thành thục và vô dụng để tạo không gian thích hợp cho các cây còn lại
sinh trưởng. Mục tiêu thứ hai là tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh,
thực hiện tái sinh nhân tạo hoặc giải phóng lớp cây tái sinh sẵn có đang ở
trạng thái rừng ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra khỏi rừng trong khai
thác hoặc trong chăm sóc nuôi dưỡng rừng sau đó”. Từ đó, tác giả này đã đưa
ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh
nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương
thức xử lý cải thiện rừng mưa.
Catinot (1965) [54] nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc
Biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông
qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến…
Odum E.P (1971) [58] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ
sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935. Khái niệm
hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên



6

Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra
những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao
mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân bố phức tạp của rừng tự
nhiên nhiệt đới.
Khi chuyển đổi từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng cấu
trúc rừng, nhiều tác giả đã sữ dụng các công thức và hàm toán học để mô hình
hoá cấu trúc rừng, xác định mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc của rừng.
Raunkiaer (1934) [34] đã đưa ra công thức xác định phổ dạng sống
chuẩn cho hàng nghìn loài cây khác nhau. Theo đó, công thức phổ dạng sống
chuẩn được xác định theo tỷ lệ phần trăm giữa số lượng cá thể của từng dạng
sống so với tổng số cá thể trong một khu vực. Để Biểu thị tính đa dạng về
loài, một số tác giả đã xây dựng các công thức xác định chỉ số đa dạng loài
như Simpson (1949), Margalef (1958), Menhinik (1964),…và để đánh giá
mức độ phân tán hay tập trung của các loài, đặc biệt là lớp thảm tươi, Drude
đã đưa ra khái niệm độ nhiều và cách xác định. Đây là những nghiên cứu
mang tính định lượng nhưng xuất phát từ những cơ sở sinh thái nên được đề
tài lựa chọn và vận dụng.
Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi
các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu
lâm phần. Rollet B.L. (1971) đã Biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và
đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường
kính tán bằng các dạng phân bố xác suất, Belly (1973) sự dụng hàm Weibull
để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông…Tuy nhiên, việc sử
dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết những mối quan hệ sinh thái
giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các
phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng này không được vận dụng

thêm số lượng và thành phần loài trong quần lạc sinh vật (thực vật, động vật,
vi sinh vật), đóng góp vào việc hình thành tiểu hoàn cảnh rừng và làm thay


8

đổi cả quá trình trao đổi vật chất và năng lượng diễn ra trong hệ sinh thái. Do
đó, tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái
rừng. Tái sinh rừng thúc đẩy việc hình thành cân bằng sinh học trong rừng,
đảm bảo cho rừng tồn tại liên tục và do đó bảo đảm cho việc sử dụng rừng
thường xuyên.
1.1.2.2.Các hướng nghiên cứu về tái sinh rừng
Do sự phát triển công nghiệp thế kỷ XIX, trong ngành lâm nghiệp của
thế giới đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng nhân tạo
năng suất cao nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Nhưng sau thất bại về
tái sinh nhân tạo ở Đức và một số nước nhiệt đới mà Beard (1947) [57] đã gọi
là “bệnh sởi trồng rừng” do thiếu sinh tố sinh thái học, nhiều nhà khoa học đã
nghĩ tới việc quay trở lại với tái sinh tự nhiên.
Khi đề cập vấn đề điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng
cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với ô đo đếm tra
tái sinh có diện tích từ 1 đến 4m2 diện tích ô điều tra nhỏ nên việc đo đếm có
nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu
rừng mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng.
Trong phương thức rừng đều tuổi của Malaysia (MUS, 1945) [57],
nhiệm vụ đầu tiên được ghi trong lịch trình là điều tra tái sinh theo ô vuông
1/1000 mẫu Anh (4 m2) để biết xem tái sinh có đủ hay không và sau đó mới
tiến hành các tác động tiếp theo.
Richards P.W (1952) [60] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các
ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Để giảm sai số trong
khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1955) [53] đã đề nghị một phương

và có những biện pháp tác động phù hợp.
Như trên đã đề cập, mục tiêu thứ hai của các tác động xử lý ở rừng mưa
nhiệt đới là tạo lập tái sinh bằng mọi cách nhằm thực hiện tái sinh thành công.


10

Việc áp dụng hàng loạt các biện pháp kỹ thuật nhằm gây dựng và duy trì lớp
cây tái sinh trong tình trạng lành mạnh, đưa lớp cây tái sinh này tới tuổi thành
thục được coi là nền tảng của một phương thức lâm sinh.
1.1.2.3. Tồn tại nghiên cứu về tái sinh rừng
Tóm lại, các công trình nghiên cứu được đề cập trên đây phần nào làm
sáng tỏ việc nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên nói chung và rừng
nhiệt đới nói riêng. Đó là những cơ sở để lựa chọn cho việc nghiên cứu cấu
trúc và tái sinh rừng trong đề tài này.Việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái
sinh tự nhiên là việc làm hết sức quan trọng nên đối với từng đối tượng cụ
thể, cần có những phương pháp nghiên cứu phù hợp.
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Trong nhiều năm qua, nghiên cứu về cấu trúc rừng là một trong những
nội dung quan trọng nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp. Tuy nhiên
cấu trúc rừng là một vấn đề có nội dung phong phú và đa dạng, nên ở đây, chỉ
những cấu trúc liên quan đến đề tài mới được đề cập.
Trần Ngũ Phương (1970) [24], đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của
những thảm thực vật trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng.
Nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành thông qua đó một số
quy luật được phát triển của các hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng
vào thực tiễn sản xuất.
Những công trình nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng, nổi bật là
công trình của tác giả sau: Đồng Sĩ Hiền (1974) dùng hàm Meyer và hệ thống

lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng. Nguyễn Anh Dũng (2000)
[3], đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ cho hai
trạng thái rừng IIA và IIIA1 ở lâm trường Sông Đà - Hoà Bình. Các nghiên cứu


12

này sẽ được đề tài nghiên cứu xem xét và lựa chọn để vận dụng vào các nội
dung nghiên cứu.
Như vậy, quá trình nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt Nam đã có những
bước phát triển nhanh chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết
về rừng, nâng cao hiệu quả nghiên cứu cũng như trong sản xuất kinh doanh
rừng. Tuy nhiên các nghiên cứu cấu trúc rừng gần đây thường thiên về việc
mô hình hoá các quy luật liên kết cấu thành lâm phần và việc đề xuất các biện
pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường thiếu các yếu tố sinh thái chưa thực
sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định và lâu dài. Bởi lẽ bản chất của
các biện pháp kỹ thuật lâm sinh là giải quyết những mâu thuẫn sinh thái phát
sinh trong quá trình sống giữa các cây rừng và giữa chúng với môi trường.
Muốn đề xuất được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác, đòi hỏi phải
nghiên cứu cấu trúc rừng một cách đầy đủ và phải đứng trên quan điểm tổng
hợp về sinh thái học, lâm học và sản lượng.
- Nghiên cứu xác định cấu trúc chuẩn/ ổn định cho rừng
Cho đến nay đã có nhiều thuật ngữ được sử dụng để chỉ mô hình cấu trúc
rừng mong muốn. Có thể liệt kê một số thuật ngữ thường được sử dụng như sau:
+ Lâm phần chuẩn (Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao, 1993, 1997).
+ Sản lượng ổn định (Bảo Huy, 2002).
+ Cấu trúc rừng lý tưởng (Nguyễn Hồng Quân, 2004).
+ Cấu trúc chuẩn, cấu trúc hợp lý, cấu trúc rừng ổn định (Phạm Văn
Điển, 2005, 2006, 2007).
+ Cấu trúc rừng ổn định (Bảo Huy, 2005, 2006, 2007; Nguyễn Hồng

Rừng định hướng,

Rừng sản xuất (gỗ)

rừng ổn định, rừng
mong muốn

của rừng cần đạt đến ở một thời
điểm nào đó trong quá trình phát
triển/diễn thế đi lên rừng mà việc
tác động vào rừng cần phải căn
cứ vào cấu trúc này để dẫn dắt
rừng phát triển liên tục, không bị
suy giảm về số lượng và chất
lượng rừng

Rừng định hướng,
Rừng phòng hộ

rừng ổn định, rừng
mong muốn

Là mô hình chỉ rõ cấu trúc rừng
cần đạt đến để đáp ứng được các
yêu cầu phòng hộ - hoặc phòng
hộ - kinh tế

Điểm chung là việc thiết lập các mô hình cấu trúc rừng mong muốn đều
nhằm hướng tới quản lý rừng bền vững.Việc xác định rõ các tiêu chuẩn của
rừng cần đạt được hay mong muốn hướng tới là vấn đề được các nhà khoa

quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975) [14], đã tổng kết và rút ra nhận xét, tái


15

sinh rừng tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh
rừng của rừng nhiệt đới. Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành tầng cây tái sinh
tương tự như tầng cây gỗ, dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loại cây gỗ
mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên
sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng. Những nhận xét sẽ được
đề tài vận dụng trong việc đánh giá mật độ tái sinh rừng và so sánh tổ thành
tầng cây tái sinh với tổ thành cây cao tại các QXTV nghiên cứu có thể nhận
biết chiều hướng phát triển của rừng trong tương lai.
Khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam, Thái Văn Trừng
(1978) [34], đã nhấn mạnh tới ý nghĩa của điều kiện ngoại cảnh đến các giai
đoạn phát triển của cây tái sinh. Theo tác giả, ánh sáng là nhân tố khống chế
và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh và thứ sinh.
Hiện tượng tái sinh lỗ trống ở rừng thứ sinh Hương Sơn, Hà Tĩnh đã
được Phạm Đình Tam (1987) [30] làm sáng tỏ. Theo tác giả, số lượng cây tái
sinh xuất hiện khá nhiều ở các lỗ trống khác nhau. Lỗ trống ngày càng lớn,
cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán. Từ đó tác giả đề xuất
phương thức khai thác chọn, tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng khu vực
này. Đây là một trong những đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới.
Trong một số công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái
sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông
Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn), Nguyễn Duy Chuyên (1988) [2], đã khái quát
đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và Biểu diễn bằng
các hàm lý thuyết. Từ đó làm cơ sở định hướng cho các giải pháp lâm sinh
cho các vùng sản xuất nguyên liệu. Trần Cẩm Tú (1988) [55], đã tiến hành
nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên sau khai thác chọn ở Hương Sơn, Hà Tĩnh

khả năng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàng đàn,
Mắc rạc... trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn [59], Tác giả đã
xác định được một số đặc điểm sinh thái về đề xuất kỹ thuật gây trồng các


17

loại cây này ở địa phương trên. Từ năm 1999 tác giả đã tiến hành gây trồng
các loại cây này trên đất đá vôi ở một số nơi khác như Cao Bằng, Bắc Cạn,
Lạng Sơn và các tỉnh vùng phía Tây Bắc.Tuy nhiên do còn đang trong thời
gian thử nghiệm nên đây chỉ là những khẳng định ban đầu về khả năng thành
công trên các mô hình phục hồi rừng, đặc biệt là các mô hình ở vùng Tây Bắc.
Nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên quần xã thực vật
rừng trên núi đá vôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Hòa Bình, Bùi Thế Đồi
(2002) [48] đã chỉ ra được một số đặc điểm về cấu trúc và tái sinh quần xã
thực vật rừng tại các trạng thái rừng khác nhau và đưa ra phương pháp kỹ
thuật lâm sinh nhằm phục hồi và phát triển rừng tại những địa phương được
nghiên cứu. Tuy nhiên, nghiên cứu còn có nhiều hạn chế do chưa thực sự điều
tra tỷ mỷ về những trạng thái rừng nơi này, đề tài mới chỉ nghiên cứu ảnh
hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên nên chưa phản ánh hết
được sự phụ thuộc của lớp cây tái sinh vào điều kiện bên ngoài, chưa nghiên
cứu tổng hợp của các nhân tố sinh thái tới tái sinh tự nhiên.
Tóm lại, trong thời gian qua, nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh
rừng đã trở thành những vấn đề trọng tâm của các nghiên cứu về rừng. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng tự
nhiên và đề xuất các biện pháp kỹ thuật hợp lý cho những đối tượng rừng tự
nhiên còn ít được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện.


18



19

Cấu trúc QXTV rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ
hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian
(Phùng Ngọc Lan, 1986) [19]. Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu
trúc hình thái và cấu trúc tuổi.
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh
thái rừng, Biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những
loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong
rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy. Vai trò lịch sử của lớp
cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi. Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo
nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng
cây gỗ.
Nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng nhằm cung cấp cơ sở khoa học
cho việc đề xuất các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng đáp ứng mục tiêu
đề ra. Vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố cấu trúc cũng như ảnh hưởng của
chúng đến lớp cây tái sinh là việc làm cần thiết.
2.3.2. Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2.1. Ngoại nghiệp
- Kế thừa các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội các địa
phương cùng các tài liệu tham khảo về các vấn đề nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài nước.
- Trên cơ sở tài liệu thu thập được về diện tích đất đai và bản đồ hiện
trạng tài nguyên rừng, đề tài đã lập các tuyến điều tra. Các tuyến này đi qua
nhiều dạng địa hình và các QXTV rừng. Trong quá trình điều tra theo tuyến,
sơ bộ xác định các QXTV rừng dựa vào mức độ phong phú và kích thước của
các loài cây bắt gặp.




21

+ Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển
tốt, không sâu bệnh
+ Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển
kém, sâu bệnh, còn lại là những cây có chất lượng trung bình.
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh
- Phương pháp điều tra ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tái sinh
tự nhiên tại các QXTV rừng.
Khi điều tra tái sinh trên các ÔDB, chúng tôi đồng thời xác định các chỉ tiêu:
độ tàn che, độ che phủ bình quân tại vị trí ÔDB.
- Điều tra khoảng cách giữa các cây tái sinh: Trên ÔTC, chọn cây tái
sinh bất kỳ, đo khoảng cách từ cây tái sinh đã chọn đến cây tái sinh gần nhất
bằng thước dây với độ chính xác đến cm. Mỗi QXTV đo 30 khoảng cách, kết
quả ghi vào phiếu điều tra khoảng cách cây tái sinh (Biểu 03, phụ lục).
d. Phương pháp điều tra tầng cây bụi, thảm tươi:
Lập 5 ÔDB có diện tích 25m2 (5m x 5m), 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa ÔTC.
+ Điều tra cây bụi theo các chỉ tiêu: tên loài chủ yếu, số lượng khóm (bụi),
chiều cao bình quân, độ che phủ trung bình của từng loài trên ÔDB, kết quả
ghi vào phiếu điều tra cây bụi (Biểu 04, phụ lục).
+ Điều tra thảm tươi theo các chỉ tiêu: loài chủ yếu, chiều cao bình quân,
độ che phủ bình quân của loài và tình hình sinh trưởng của thảm tươi trên
ÔDB, kết quả ghi vào phiếu điều tra thảm tươi (Biểu 05, phụ lục).
e. Phương pháp điều tra xác định mức độ thân thuộc của các loài
Trên ÔTC, chọn một cây bất kỳ làm cây trung tâm, điều tra 6 cây xung
quanh có khoảng cách gần nhất với cây trung tâm. Theo quan điểm sinh thái thì
cây ở tâm và 6 cây xung quanh thường có mối quan hệ thân thuộc, có ảnh
hưởng trực tiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của chúng. Đó là cơ sở xác

– Kiểu thảm thực vật: tập hợp của những cây cỏ khác loài nhưng cùng
chung một dạng sống ưu thế.
Ví dụ: Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới.


23

1- Kiểu phụ: là những thảm thực vật rừng có tổ thành thực vật đặc
trưng được hình thành do ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái khác ngoài khí
hậu (hệ thực vật, đá mẹ, đất đai, sinh vật, con người).
Ví dụ: Kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất xương xẩu.
Kiểu phụ thứ sinh nhân tác trên đất xương xẩu sau khai thác trọc.
1.1. a: Xã hợp (sociation): được hình thành bởi những loài cây ưu thế
thác nhau, gồm các dạng sau:
+ Quần hợp (association): có 1 hoặc 2 loài chiếm ưu thế gần như tuyệt
đối (chiếm trên 90%).
+ Ưu hợp (dominion): khi số loài cây (dưới 10 loài) có độ ưu thế tương
đối chiếm 40 – 50% theo số cây hoặc theo thể tích.
+ Phức hợp (complexion): khi độ ưu thế của các loài chưa phân hóa rõ rệt.
b. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng
* Tổ thành tầng cây gỗ:
Tổ thành thực vật là tỷ lệ của loài cây hay nhóm loài cây chiếm trong
QXTV rừng. Hệ số tổ thành của các loài cây thường được xác định theo số
cây và/hoặc theo tiết diện ngang. Công thức biểu thị hệ số tổ thành của các
loài trong QXTV rừng được gọi là công thức tổ thành. Trên quan điểm sinh
thái người ta thường xác định tổ thành tầng cây cao theo số cây, còn trên quan
điểm sản lượng lại xác định tổ thành thực vật theo tiết diện ngang hoặc theo
trữ lượng.
Đề tài xác định tổ thành tầng cây cao theo số cây, hệ số tổ thành của
từng loài được tính theo công thức:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status