Rèn luyện kỹ năng đưa yếu tố biểu cảm vào văn bản nghị luận cho học sinh lớp 8 thông qua hệ thống bài tập - Pdf 44

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

LĂNG THU NGÂN

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐƢA YẾU TỐ BIỂU CẢM
VÀO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8
THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2015

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

LĂNG THU NGÂN

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐƢA YẾU TỐ BIỂU CẢM
VÀO VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8
THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP
Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ THU HẰNG


Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp cuối khóa, bản
thân tôi đã đƣợc sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ
văn, khoa Sau Đại học, Ban giám hiệu trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên.
Có đƣợc bản luận văn tốt nghiệp cuối khóa này, cùng với sự nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ đặc biệt của TS. Nguyễn Thị Thu Hằng.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Thu
Hằng, ngƣời thầy đã trực tiếp hƣớng dẫn, dìu dắt và chỉ bảo những kiến thức về
chuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quí báu.
Xin chân thành cảm ơn quí thầy cô và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ
nhiệt tình, vô tƣ về điều kiện vật chất, tinh thần và những kinh nghiệm làm
khoa học.
Cuối cùng, một lần nữa xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và cá nhân
đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn

Lăng Thu Ngân

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ii
ĐHTN


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................. v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1

2.1.2. Bài tập sử dụng yếu tố biểu cảm ......................................................... 46
2.1.3. Bài tập vận dụng .................................................................................. 56
2.2. Phƣơng hƣớng vận dụng hệ thống bài tập vào thực tiễn dạy học .............. 61
2.2.1. Vận dụng hệ thống bài tập trong dạy - học văn bản nghị luận............ 61
2.2.2. Vận dụng hệ thống bài tập vào các phân môn khác của môn Ngữ
văn ở trƣờng Trung học cơ sở ........................................................................... 63
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .................................................................................. 67
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ...................................................... 68
3.1. Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm ........................................................... 68
3.2. Phƣơng pháp thực nghiệm .......................................................................... 68
3.3. Nội dung và kế hoạch thực nghiệm ............................................................ 69
3.3.1. Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm ...................................................... 69
3.3.2. Nội dung thực nghiệm ......................................................................... 71
3.4. Kết quả thực nghiệm................................................................................... 85
3.4.1. Bảng thống kê kết quả thực nghiệm .................................................... 85
3.4.2. Phân tích kết quả thực nghiệm ............................................................ 87
3.4.3. Kết luận chung về thực nghiệm ........................................................... 89
KẾT LUẬN....................................................................................................... 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 93
PHỤ LỤC

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – iv
ĐHTN


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH - HĐH

:


Ngữ văn

PPDH

:

Phƣơng pháp dạy học

PTBĐ

:

Phƣơng thức biểu đạt

RLKN

:

Rèn luyện kỹ năng

SBT

:

Sách bài tập

SGK

:


Văn bản nghị luận

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – iv
ĐHTN


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả phiếu bài tập ........................................................................ 85
Bảng 3.2: Kết quả thực nghiệm đề 1 ................................................................. 86
Bảng 3.3: Kết quả thực nghiệm đề 2 ................................................................. 86
Bảng 3.4: Kết quả khả năng vận dụng yếu tố biểu cảm vào VBNL ................. 86

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – vĐHTN


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Hiện nay ở Việt Nam cũng nhƣ nhiều quốc gia trên thế giới, giáo
dục luôn đƣợc coi là "quốc sách hàng đầu", là nền tảng của mọi sự phát triển.
Trong sự nghiệp CNH - HĐH của đất nƣớc, giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) giữ
vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân
tài, xây dựng nền kinh tế tri thức. Để đạt mục tiêu trên, giáo dục phải đƣợc coi
là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà trƣờng giữ vai trò quan
trọng nhất. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản
Việt Nam đã nêu rõ chủ trƣơng đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT.
Trong những năm gần đây, giáo dục (GD) nƣớc ta đã có nhiều đổi mới,
hiện đại hóa nội dung và phƣơng pháp dạy học (PPDH) nhằm phát huy tính tích
cực chủ động của học sinh (HS), đặc biệt nhấn mạnh đến yêu cầu phát huy
năng lực của ngƣời học, học đi đôi với hành. Trong phân môn làm văn, yêu cầu
cuối cùng của quá trình dạy học là HS có năng lực tạo lập văn bản phù hợp với

viên (GV) khó dạy và cũng là kiểu văn bản HS khó viết đƣợc hay nhất. Việc
xây dựng hệ thống bài tập RLKN đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL giúp HS
không chỉ biết viết đoạn văn NL với những chức năng, nhiệm vụ riêng từ đó
triển khai thành bài văn NL hoàn chỉnh mà còn giàu sức biểu cảm, tính thuyết
phục. Hơn nữa, qua việc viết đoạn văn NL có sử dụng yếu tố biểu cảm sẽ giúp
HS tạo lập khả năng diễn đạt, trình bày một vấn đề thuyết phục ngƣời nghe,
ngƣời đọc đồng thời nâng cao việc sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả.
Từ các lí do trên, chúng tôi quyết định chọn: "Rèn luyện kỹ năng đưa
yếu tố biểu cảm vào văn bản nghị luận cho học sinh lớp 8 thông qua hệ
thống bài tập" làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ thực trạng dạy học đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho học
sinh lớp 8 hiện nay, đề tài này hƣớng tới mục đích chính sau đây:
Luận văn đề xuất hệ thống bài tập nhằm RLKN đƣa yếu tố biểu cảm vào
VBNL cho HS lớp 8 mà cụ thể hơn là kĩ năng đƣa yếu tố biểu cảm vào đoạn
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – 2ĐHTN


văn theo yêu cầu hoặc là tạo lập văn bản nghị luận, từ đó giúp HS hình thành
năng lực nghe – nói – đọc – viết, nâng cao năng lực thẩm mĩ cho ngƣời học.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu, xác định cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc xây dựng hệ thống
bài tập RLKN đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS lớp 8.
Đề xuất hệ thống bài tập để học sinh RLKN đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL.
Tổ chức thực nghiệm sƣ phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi của
những đề xuất về hệ thống bài tập mà luận văn đƣa ra.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

Trong “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông”, tác giả Nguyễn Quốc
Siêu cũng đã giới thuyết chung về văn nghị luận. Quá trình hình thành và phát
triển, phân loại văn nghị luận, tác dụng của văn nghị luận, đặc trƣng, các yếu tố
và quan hệ giữa các yếu tố trong văn nghị luận, phƣơng thức biểu đạt của văn
nghị luận.
Nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi đã
bàn đến một số vấn đề của văn nghị luận nhƣ nghị luận trong lịch sử, đặc điểm
của văn bản nghị luận, cách làm bài văn nghị luận và đƣa ra bài tập vận dụng
cho kiểu văn này.
Cuốn “Rèn kĩ năng làm văn nghị luận” của Bảo Quyến đã nêu ra phƣơng
pháp làm bài đối với từng kiểu bài nghị luận (phân tích, chứng minh, bình
luận…), quy trình làm một bài văn nghị luận, kĩ năng xây dựng đoạn, liên kết
đoạn và cách sử dụng dẫn chứng trong bài văn nghị luận.
Với vai trò quan trọng nhƣ vậy, VBNL đƣợc đƣa vào dạy trong phân
môn Làm văn từ rất sớm. Tuy nhiên, ban đầu, CT và SGK mới chỉ dừng lại ở
việc dạy các lí thuyết, thao tác chung trong văn bản nghị luận. Từ sau năm
2002, việc đổi mới CT, SGK Ngữ văn đã tạo ra những thay đổi đáng kể, đặc
biệt là thêm vào chƣơng trình việc RLKN đƣa các yếu tố khác vào VBNL.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – 4ĐHTN


Chƣơng trình SGK NV8 đã có những bài tập RLKN đƣa yếu tố biểu cảm
vào VBNL cho HS làm nhƣng chỉ gói gọn trong 2 tiết chƣa tạo thành 1 hệ
thống nhất định nên vẫn chƣa thể giúp học sinh nắm rõ sự kết hợp này.
Qua phần tìm hiểu trên chúng tôi rút ra đƣợc những nhận xét ban đầu:
1. Văn nghị luận có đã đƣợc quan tâm đƣa vào giảng dạy từ lâu trong
chƣơng trình Ngữ văn THCS.
2. Tuy nhiên phải đến sau khi đổi mới chƣơng trình vào năm 2002, các
yếu tố đƣa vào trong văn bản nghị luận mới đƣợc quan tâm thêm vào chƣơng
trình dạy học Ngữ văn theo hƣớng tích hợp, trong đó có yếu tố biểu cảm.

luận cũng nhƣ cách đƣa yếu tố này vào VB nghị luận.
Nhƣ vậy, đã có những công trình nghiên cứu và đề cập đến yếu tố biểu
cảm trong văn nghị luận tuy nhiên chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện, kĩ càng về kĩ năng vận dụng yếu tố biểu cảm trong VBNL.
Căn cứ vào tình hình thực tế trên với mong muốn đóng góp một phần
nhỏ nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học văn nghị luận hƣớng tới mục tiêu
phát triển kĩ năng toàn diện cho HS, chúng tôi đề xuất ra hệ thống bài tập
RLKN đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS lớp 8.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài "Rèn luyện kỹ năng đưa yếu tố biểu cảm vào văn
bản nghị luận cho học sinh lớp 8 thông qua hệ thống bài tập" chúng tôi sử
dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Đây là phƣơng pháp giúp cho chúng tôi tìm hiểu, đọc các tài liệu, nghiên
cứu chúng để tìm ra các tiền đề lí thuyết cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống
bài tập RLKN đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL cho HS lớp 8.
5.2. Phương pháp điều tra khảo sát
Sử dụng phƣơng pháp này để tìm hiểu việc dạy và học văn NL của giáo
viên (GV) và HS. Điều tra, khảo sát hệ thống bài tập làm văn trong SGK, sách
bài tập (SBT) về việc đƣa yếu tố biểu cảm vào VBNL; khảo sát và điều tra tình
hình viết bài văn NL của HS. Từ đó nghiên cứu đề tài một cách tích cực, góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học làm văn ở trƣờng phổ thông.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – 6ĐHTN


5.3. Phương pháp thống kê, phân loại
Đây là một trong những phƣơng pháp của toán học. Chúng tôi đã sử
dụng phƣơng pháp này để xử lí các số liệu thu thập đƣợc trong quá trình điều
tra thực nghiệm. Thống kê và phân loại một số dạng, kiểu bài tập đã có trong
SGK và SBT.


Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – 8ĐHTN


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Văn bản nghị luận và các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong văn
bản nghị luận
1.1.1.1. Khái niệm văn bản nghị luận
Kiểu văn bản là dạng thức tồn tại của phƣơng thức biểu đạt. Phƣơng thức
biểu đạt nào sẽ tạo nên kiểu văn bản tƣơng ứng với nó. Mỗi kiểu văn bản phản
ánh đặc trƣng riêng của phƣơng thức biểu đạt tạo nên nó. Nói đến VBNL là để
phân biệt nó với năm kiểu văn bản còn lại: văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm,
văn bản tự sự, văn bản thuyết minh, văn bản hành chính - công vụ.
Mỗi thể loại văn học vận dụng ngôn từ theo một PTBĐ khác nhau nên
chúng có những đặc điểm riêng, cách nói riêng. Nếu nhƣ văn miêu tả, kể chuyện
chỉ qua một số từ ngữ mà lột tả và làm sống dậy trƣớc mắt ngƣời đọc thần thái
của sự vật, sự việc… thì văn nghị luận lại tiêu biểu cho cách nói chặt chẽ, hùng
hồn, giàu sức thuyết phục. Nếu nhƣ văn hƣ cấu tác động nhiều vào trí tƣởng
tƣợng, kích thích óc quan sát… thì văn nghị luận tác động mạnh mẽ vào nhận
thức lí tính, nâng cao khả năng lập luận, rèn luyện tƣ duy logic cho ngƣời viết.
Kiểu VBNL là tất cả các văn bản vận dụng phƣơng thức nghị luận để tạo
lập (bao gồm cả hai loại văn bản nói và văn bản viết).
Cho tới nay đã xuất hiện rất nhiều định nghĩa về văn nghị luận. Theo “Từ
điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) thì: “Nghị luận là bàn và đánh giá
cho rõ về một vấn đề nào đó. Văn nghị luận (thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải
quyết vấn đề)” [28,678].
Trong cuốn “Làm văn” do Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) quan niệm: “Nói
một cách khái quát văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tƣ tƣởng, tình

VBNL là một trong những kiểu VB quan trọng trong đời sống xã hội, có
vai trò rèn luyện tƣ duy và năng lực biểu đạt những vấn đề có ý nghĩa trong
thực tế đời sống. So với các kiểu VB nhƣ kể chuyện, miêu tả, biểu cảm…
VBNL có những đặc điểm riêng biệt.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu –10
ĐHTN


1.1.1.2. Đặc điểm chung của văn bản nghị luận
a. Các thao tác lập luận và sự kết hợp của chúng trong văn bản nghị luận
Văn nghị luận là sản phẩm của tƣ duy logic, giúp cho việc phát triển tƣ
duy và nhận thức trừu tƣợng, lí tính, khoa học trƣớc một vấn đề đặt ra trong
cuộc sống. Một bài văn nghị luận bao giờ cũng tập trung vào một vấn đề nào đó
- có thể là vấn đề xã hội hoặc vấn đề văn học. Để thuyết phục đƣợc ngƣời đọc,
ngƣời nghe, ngƣời viết văn nghị luận phải đặt ra hàng loạt các câu hỏi và trả lời
đƣợc những câu hỏi ấy nhƣ: Là gì? Như thế nào? Tại sao? Có những khía cạnh
gì? Có ý nghĩa, giá trị gì? Được biểu hiện như thế nào trong cuộc sống và
trong văn chương? … Ngƣời viết phải linh hoạt sử dụng nhiều thao tác nghị
luận đối với từng vấn đề đƣợc đặt ra nhƣ giải thích, chứng minh, phân tích,
tổng hợp… và những cách trình bày nhƣ diễn dịch, quy nạp…
Phân tích và tổng hợp có mối quan hệ biện chứng qua lại lẫn nhau chứ
không đối lập, tách rời. Phân tích xong ta cần tổng hợp lại để chỉ ra ý nghĩa,
mặt khác, nhờ có phân tích từ trƣớc ta mới có thể tổng hợp kết quả.
Ngƣời ta thƣờng sử dụng các phép diễn dịch và quy nạp để diễn đạt lập
luận của mình. Ví dụ về đoạn diễn dịch:
“Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình
đẳng, bác ái, đến cƣớp đất nƣớc ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng
trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho
nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã
man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc

luận hay là bài văn có hệ thống luận điểm rõ ràng, thuyết phục, thể hiện đƣợc
trí tuệ của ngƣời viết. Luận điểm thể hiện rõ tƣ tƣởng, quan điểm, chủ trƣơng,
đánh giá của ngƣời viết đối với vấn đề cần thuyết phục và làm sáng tỏ. Luận
điểm của bài văn nghị luận thƣờng đƣợc thể hiện dƣới hình thức những câu văn
ngắn gọn với những phán đoán có tính chất khẳng định hoặc phủ định. Ví dụ:
- Không thể sáng tạo nếu thiếu trí tƣởng tƣợng.
- Lao động là vinh quang.
- Nguyễn Bính - nhà thơ chân quê nhất trong những nhà thơ Mới.
- Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nƣớc.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu –12
ĐHTN


Luận điểm thể hiện rất rõ tƣ tƣởng, quan điểm của ngƣời viết, nó đại
diện và là linh hồn của bài văn nghị luận. Tuy nhiên, có luận điểm chƣa phải là
yếu tố quyết định để có bài văn nghị luận hay mà điều quan trọng là luận điểm
của bài văn ấy nhƣ thế nào, có đúng đắn, mới mẻ và độc đáo không? Luận điểm
trong bài văn nghị luận cần đúng, sâu sắc, mới lạ, có cơ sở vững chắc để thuyết
phục đƣợc ngƣời đọc, ngƣời nghe. Vì vậy, việc xác lập hệ thống luận điểm là
một công việc hết sức quan trọng và khó khăn. Để tạo nên vẻ đẹp của bài văn,
ngƣời viết cần suy nghĩ để tìm tòi những luận điểm hay, sáng tạo xuất phát từ
thực tiễn cuộc sống.
Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất toàn thắng,
nhiều tƣớng sĩ nhà Trần có tƣ tƣởng hƣởng lạc, chủ quan, coi thƣờng quân giặc,
sa vào cuộc sống ăn chơi, tiêu khiển… Trần Quốc Tuấn đã viết bài hịch nêu
những luận điểm:
- Đã làm tƣớng sĩ thì phải có trách nhiệm trƣớc triều đình, không đƣợc
chủ quan coi thƣờng kẻ địch.
- Muốn có trách nhiệm thì phải biết chuyên tập sách Binh thư yếu lược,
theo lời dạy bảo của ta thì mới phải đạo thần chủ. Nhƣợc bằng khinh bỏ sách

của nó, văn nghị luận ít dùng loại câu mô tả, trần thuật “kể lể” sự việc mà chủ
yếu dùng loại câu khẳng định và phủ định với nội dung hầu hết là các phán
đoán hoặc những nhận xét, đánh giá sâu sắc. Ví dụ:
“Cụ Huỳnh là ngƣời mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ
không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.
Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm
giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân đƣợc tự do,
nƣớc đƣợc độc lập. […]
Hỡi đồng bào yêu quý!
Chúng ta thƣơng tiếc cụ Huỳnh vô cùng. Nhƣng chúng ta không nên
thƣơng tiếc bằng cách than khóc rầu rĩ. Chúng ta thƣơng tiếc bằng cách: càng
đoàn kết chặt chẽ, càng hăng hái kháng chiến; bằng cách: theo gƣơng dũng

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu –14
ĐHTN


cảm, nối chí quật cƣờng của cụ đã ra sức đeo đuổi suốt đời. Chúng ta phải đồng
thanh thề trƣớc tiên linh của cụ Huỳnh rằng:
Đồng bào Việt Nam quyết theo gƣơng kiên quyết của cụ.
Con Rồng cháu Tiên quyết không làm nô lệ. […]”
(Hồ Chí Minh - Gửi toàn thể đồng bào sau ngày cụ Bộ trưởng Huỳnh
Thúc Kháng tạ thế).
Do nhu cầu lập luận, văn nghị luận thƣờng phải dùng đến hệ thống từ lập
luận. Hệ thống từ lập luận này có vai trò liên kết các ý, các vế, các đoạn nghị
luận, tạo nên tính chặt chẽ trong lập luận. Đó là những từ nhƣ: “Bởi lẽ”, “không
những”, “còn”, “mà”, “càng”, “vậy nên”…
Văn nghị luận nói chung là loại văn của tƣ duy khái niệm, của duy lí
logic. Tuy nhiên, văn nghị luận cũng rất cần hấp dẫn, lôi cuốn bằng từ ngữ có
hình tƣợng và có sức gợi cảm cao. Bài văn nghị luận hay là bài văn vừa giàu

nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nƣớc. Kính Ðức
một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo
Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mƣu kế nghịch tặc. Từ
xƣa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nƣớc, đời nào chẳng có? Ví thử mấy
ngƣời đó cứ khƣ khƣ theo thói nhi nữ thƣờng tình thì cũng đến chết hoài ở xó
cửa, sao có thể lƣu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ đƣợc?”.
Ở đoạn văn trên, Trần Hƣng Đạo kể một loạt những tấm gƣơng trung
nghĩa của những bầy tôi trong lịch sử khiến cho các tƣớng sĩ phải thấy hổ thẹn.
Nếu muốn lƣu danh sử sách thì bề tôi phải có lòng hi sinh không tiếc thân mình
đối với chủ, trở thành trung thần nghĩa sĩ giống nhƣ họ.
Một ví dụ khác:
“Sau nữa, việc săn bắt thứ “vật liệu biết nói” đó, mà lúc bấy giờ ngƣời ta
gọi là “chế độ lính tình nguyện” (danh từ mỉa mai một cách ghê tởm) đã gây ra
những vụ nhũng lạm hết sức trắng trợn.
Đây! Chế độ lính tình nguyện ấy đƣợc tiến hành nhƣ thế này: Vị “chúa
tỉnh” – mỗi viên công sứ ở Đông Dƣơng quả là một vị “chúa tỉnh” – ra lệnh cho
bọn quan lại dƣới quyền, trong một thời hạn nhất định phải nộp cho đủ số
ngƣời nhất định. Bằng cách nào, điều đó không quan trọng. Các quan cứ liệu
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu –16
ĐHTN


mà xoay sở. Mà cái ngón xoay sở […] thì các ông tƣớng ấy thạo hết chỗ nói,
nhất là xoay sở làm tiền.
Thoạt tiên, chúng tóm những ngƣời khỏe mạnh, nghèo khổ, những ngƣời
này chỉ chịu chết thôi không còn kêu cứu vào đâu đƣợc. Sau đó, chúng mới đòi
đến con cái nhà giàu. Những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra dịp để sinh
chuyện với họ hoặc với gia đình họ, và nếu cần, thì giam cổ họ lại cho đến khi
họ phải dứt khoát chọn lấy một trong hai con đƣờng: “đi lính tình nguyện, hoặc
xì tiền ra”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status