BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BÁO CÁO KHẢO SÁT
THỰC TRẠNG VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ
NHÓM TRẺ ĐỘC LẬP TƯ THỤC
TẠI VIỆT NAM
(Nghiên cứu tại khu đông dân cư, khu công nghiệp
và khu vực dân tộc thiểu số)
C
M
Y
CM
MY
CY
CMY
K
Hà Nội, tháng 10/2016
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
tham gia nhiều hoạt động nghiên cứu dưới sự tài trợ của tổ chức UNICEF, PLAN và WB, tham gia
viết tài liệu hướng dẫn và tập huấn nâng cao năng lực cho CBQL, GVMN các địa phương.
Các thành tựu nghiên cứu của Trung tâm đã góp phần:
- Cung cấp căn cứ khoa học để xây dựng chương trình GDMN mới phù hợp yêu cầu thời kì đổi
mới, hội nhập. Kết quả nghiên cứu đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo
dục trong trường mầm non, đổi mới môi trường giáo dục, tích cực hoá hoạt động của trẻ, tăng
cường hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm được áp dụng trong các cơ sở GDMN đã tạo một bước
chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới phương pháp GDMN, góp phần đáng kể cho việc nâng cao chất
lượng CS - GD trẻ trong trường mầm non vào những năm đầu của thế kỷ 21.
- Các nghiên cứu về chiến lược và chính sách/ mô hình và giải pháp phát triển GDMN nông
thôn; về phát triển các loại hình CSGDMN ngoài công lập đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát
triển GDMN và phục vụ cho công tác chỉ đạo phát triển ngành học. Kết quả nghiên cứu về các
giải pháp chuyển đổi trường mầm non bán công sang các loại hình trường khác (công lập, dân
lập, tư thục) thực hiện Luật GD 2005 (sửa đổi, 2009) đã góp phần làm cơ sở cho việc định
hướng chuyển đổi các loại hình trường phù hợp điều kiện thực tế của từng địa phương...
1
Kết quả nghiên cứu về thực trạng và cơ chế quản lý các loại hình nhóm trẻ ĐLTT theo
hướng lồng ghép - chi phí thấp cho trẻ dưới 36 tháng ở khu đông dân cư, khu công nghiệp và
khu vực dân tộc thiểu số được công bố trong tài liệu này một lần nữa khẳng định vai trò của
Trung tâm trong cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác chỉ đạo phát triển GDMN Việt
Nam.
Thông tin về nhóm cán bộ nghiên cứu và chuyên gia
Chủ trì nghiên cứu: PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Giám đốc TT nghiên cứu GDMN
Nhóm nghiên cứu: Các cán bộ nghiên cứu của TT nghiên cứu GDMN
Các chuyên gia hỗ trợ nghiên cứu:
1- TS. Trần Thị Tố Oanh, nguyên cán bộ nghiên cứu của Viện KHGD Việt Nam
2- Th.S. Lương Thị Bình, nguyên cán bộ nghiên cứu, Viện KHGD Việt Nam
3
LỜI CẢM ƠN
Nhóm nghiên cứu chân thành cảm ơn sự nhiệt tình trao đổi thông tin, chia sẻ ý kiến của
chính quyền địa phương và các Sở GD&ĐT Hà Nội, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Gia Lai và
Bình Dương, Ủy ban nhân dân các huyện/thị, các Phòng GD&ĐT, cơ quan đoàn thể của các
huyện/thị được khảo sát, các cán bộ quản lý và giáo viên ở các trường mầm non, các tổ trưởng
tổ dân phố, cha mẹ, chính quyền thôn, xã, cán bộ cộng đồng và tất cả những người tham gia
cung cấp thông tin về nhóm trẻ và quản lý nhóm trẻ độc lập tư thục (ĐLTT) trong 12 phường,
xã thuộc 6 tỉnh khảo sát nêu trên.
Nhóm nghiên cứu bày tỏ sự cảm ơn tới các cán bộ Chương trình Giáo dục của Quỹ Nhi
đồng Liên hợp quốc UNICEF Việt Nam đã hỗ trợ đắc lực cho chúng tôi về cả chuyên môn và
kinh phí để thực hiện nghiên cứu. Đặc biệt, nhóm chân thành cảm ơn sự quan tâm sâu sắc của
bà Joyce Patricia Bheeka, trưởng Chương trình Giáo dục và cô Lê Anh Lan, cán bộ Giáo dục
hòa nhập của UNICEF trong toàn bộ quá trình khảo sát, xử lý thông tin và hoàn thiện báo cáo.
Nhóm nghiên cứu xin cảm ơn sự tạo điều kiện của Lãnh đạo Viện KHGD Việt Nam và sự ủng
hộ của Vụ Giáo dục Mầm non, Vụ Kế hoạch & Tài chính, Bộ GD&ĐT cho thực hiện nghiên
cứu này.
Cuối cùng, nhóm nghiên cứu xin được dành lời cảm ơn đặc biệt tới tất cả các cá nhân
và tổ chức đã nhiệt tình tham gia cung cấp những thông tin xác thực, hữu ích. Chúng tôi không
thể hoàn thành nghiên cứu này nếu không có sự giúp đỡ quý báu của mọi người. Hy vọng kết
quả nghiên cứu sẽ đóng góp thiết thực cho việc xây dựng và điều chỉnh chính sách mang lại sự
chăm sóc và giáo dục tốt nhất cho trẻ em dưới 36 tháng ở Việt Nam, tạo dựng những thay đổi
lớn lao, mang tính nền tảng bền vững cho tương lai của các em.
Trân trọng cảm ơn!
Nhóm Nghiên cứu
4
2
Điều 13 điều 22 – Điều lệ Trường Mầm non và điều 14, 16 - Quy chế tổ chức và hoạt động trường mầm non tư
thục
3
Điều 14 Quy chế tổ chức và hoạt động trường MN tư thục
4
Khoa học quản lý giáo dục, Trần Kiểm, NXB GD 2008
1
5
Như vậy, cơ sở giáo dục chịu sự quản lý bên trong (đại diện là Hiệu trưởng hay chủ nhóm,
lớp) và bên trên và bên ngoài (đại diện của các cấp quản lý theo ngành: Bộ, Sở, Phòng.. và đại diện
của chính quyền địa phương...). Cơ sở giáo dục muốn vận hành hiệu quả cần có cơ chế quản lý phù
hợp
4. Cơ chế quản lý
Cơ chế (mécanisme) theo Từ điển Le Petit Larousse (1999) là "cách thức hoạt động của
một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau". "Cơ chế" là cách vận hành, cách hoạt động bao
gồm nhiều bước để có được công việc cụ thể. “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình
được thực hiện”5.
Cơ chế quản lí là cách thức mà theo đó thực hiện việc quản lý, điều hành. Cơ chế quản
lý nhà nước là mối quan hệ, điều phối, phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, giữa bộ, ngành
đó với Chính phủ và các cơ quan công quyền cũng như với người dân. Quốc hội xây dựng các
luật, trong đó có các đạo luật về tổ chức hoạt động của Quốc hội, của các cơ quan của Quốc
hội, của Chính phủ... Chính phủ ra các nghị định về cơ cấu, tổ chức và hoạt động của các bộ,
ngành. Bộ trưởng ra các văn bản, quy chế điều hành, quản lý công công việc của bộ và các cơ
quan trực thuộc. Các bộ, ngành ra các thông tư liên ngành quy định cơ chế phối hợp giữa các
bộ, ngành đó.
Cơ chế quản lý 1 hệ thống nào đó chính là mối quan hệ trong quản lý đối với hệ thống
(phân định thẩm quyền). Phân định thẩm quyền là tiền đề cho việc chuyển giao nhiệm vụ,
quyền hạn (hoặc rộng hơn nữa, điều chỉnh khối lượng nhiệm vụ, quyền hạn cho phù hợp với
khả năng và điều kiện thực tế của mỗi cấp chính quyền).
Phân cấp quản lý nhà nước là sự phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính
quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩm quyền với năng lực và
điều kiện thực tế của từng cấp nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động
quản lý nhà nước.
6. Ủy quyền
Ủy quyền là việc cán bộ quản lý cấp trên cho phép cán bộ cấp dưới có quyền ra quyết
định về những vấn đề thuộc quyền hạn của mình, trong khi người cho phép vẫn đứng ra chịu
trách nhiệm. Sự ủy quyền có thể thể hiện dưới hai hình thức:
- Ủy quyền chính thức: Qua sơ đồ cấu tạo bộ máy (mỗi bộ phận có những chức năng
và quyền hạn rõ ràng).
- Ủy quyền không chính thức: Qua sự tín nhiệm cá nhân (Giám đốc ký quyết định uỷ
quyền cho cấp dưới có được quyền hạn và trách nhiệm nào đó).
Để việc ủy quyền được thành công, trước hết phải được tiến hành một cách có ý thức
từ 2 phía: người uỷ quyền và người được uỷ quyền. Người uỷ quyền phải rất hiểu bản thân
và cấp dưới thì mới thực hiện được sự uỷ quyền, có bản giao việc phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ của họ, có đánh giá kết quả công việc. Cấp dưới được uỷ quyền phải xác định được
trách nhiệm trước cấp trên khi được giao quyền và phải thấy rõ những giới hạn trong quyền
lực của mình để không vượt qua giới hạn đó. Người uỷ quyền một mặt đòi hỏi hệ thống chỉ
huy phải rõ ràng, nhưng không nên đòi hỏi sự tuân thủ máy móc của người được uỷ quyền,
phải cho họ được linh hoạt giải quyết công việc, thậm chí được phép điều chỉnh, sửa đổi nội
dung công việc khi cần thiết. Người ủy quyền cũng phải biết chấp nhận một vài thất bại do
người được uỷ quyền phạm phải.
7
Việc uỷ quyền cần sử dụng các nguyên tắc sau:
CHỮ VIẾT TẮT
BHXH
: Bảo hiểm xã hội
CBQL
: Cán bộ quản lý
CSVC
: Cơ sở vật chất
CS-GD
: Chăm sóc- giáo dục
CSGDMN : Cơ sở giáo dục mầm non
CM
: Cha mẹ
ĐLTT
: Độc lập tư thục
GV
: Giáo viên
: Ủy ban nhân dân
9
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong những năm gần đây các nhóm trẻ ĐLTT phát triển với số lượng lớn nhằm đáp
ứng nhu cầu gửi trẻ dưới 36 tháng tuổi trong điều kiện các trường MN công lập không đủ điều
kiện nhận lứa tuổi này. Quản lý hoạt động của các nhóm trẻ ĐLTT như thế nào nhằm đảm bảo
chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ không những là vấn đề của các nhà quản lý
ngành mà còn là vấn đề đặt ra với các nhà nghiên cứu, các cấp chính quyền, tổ chức xã hội
trong sự mong đợi của người dân đặc biệt là các bậc CM có con trong độ tuổi này.
Năm 2015, Trung tâm Nghiên cứu GDMN, Viện KHGD Việt Nam được sự hỗ trợ của
Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF Việt Nam, đã triển khai nghiên cứu về Thực trạng và
cơ chế quản lý các nhóm trẻ ĐLTT, làm căn cứ để đề xuất các biện pháp khắc phục rào cản
trong cơ chế quản lý theo hướng lồng ghép - chi phí thấp nhằm góp phần nâng cao chất lượng
CS-GD trẻ dưới 3 tuổi ở Việt Nam.
Nghiên cứu được thực hiện tại các khu vực đông dân cư, khu công nghiệp và khu vực dân tộc
thiểu số của Việt Nam. Khảo sát thực địa được giới hạn ở 6 tỉnh: Lào Cai, Hà Nội, Nghệ An,
Vĩnh Phúc, Bình Dương, Gia Lai. Nghiên cứu tập trung vào 4 vấn đề:
1/Thực trạng hoạt động của các nhóm trẻ ĐLTT
2/Thực trạng quản lý nhóm trẻ ĐLTT của chủ nhóm,
3/Thực trạng cơ chế quản lý hiện hành, sự tham gia và phối hợp trong quản lí nhóm trẻ
ĐLTT của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội và gia đình trẻ,
4./Đề xuất các biện pháp khắc phục rào cản trong cơ chế quản lý nhóm trẻ ĐLTT theo
hướng lồng ghép- chi phí thấp
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm: Nghiên cứu tài liệu thứ cấp qua các
báo cáo, tài liệu của Phòng Mầm non, Sở GD&ĐT các tỉnh; Phòng GD&ĐT các địa phương;
Phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm; Quan sát các hoạt động GD, môi trường GD, các điều kiện
phục vụ CS-GD trẻ...
hợp lý giữa các bên. Trên thực tế, việc phân cấp nhiệm vụ chưa đồng bộ với phân cấp thẩm
quyền, trách nhiệm quản lý tài chính, nhân sự và các vấn đề khác nên đã tạo ra sự lúng túng
không đáng có trong thực hiện phân cấp của chính quyền địa phương.
- Phân cấp chưa phù hợp với tình hình quản lý ở địa phương, đặc biệt chưa phù hợp với
năng lực (vượt quá khả năng) của chính quyền địa phương. Phân cấp thực hiện nhiệm vụ diễn
ra quá nhanh, trong khi cấp dưới chưa đủ năng lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức lãnh
đạo, quản lý còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Khi phân cấp chưa tính đến các điều
kiện và đặc thù về KT-XH tại các địa phương. Phân cấp chưa đi đôi với nâng cao chất lượng
quy hoạch và tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát của cấp trên, gắn quyền hạn với trách
nhiệm được giao; chưa thực hiện nghiêm túc việc tự báo cáo, tự giải trình và còn thiếu những
cơ chế để bảo đảm sự quản lý thống nhất của cấp trên.
11
CÁC RÀO CẢN TRONG CƠ CHẾ QUẢN LÝ NHÓM TRẺ ĐLTT
Nghiên cứu đã phát hiện các rào cản từ các chính sách, các quy định, chế độ mang
tính pháp quy về quản lý nhóm trẻ ĐLTT ở cấp trung ương và cấp địa phương: nhiều văn bản
chưa quy định rõ chức năng nhiệm vụ của lực lượng tham gia hỗ trợ quản lý các nhóm trẻ, 1
số quy định mang tính một chiều, một số văn bản quy định diễn đạt chung chung, chưa rõ ràng
gây khó khăn khi triển khai, thiếu 1 số chính sách để đảm bảo công bằng cho trẻ học ở các
CSGDMN ngoài công lập, trẻ dưới 3 tuổi...
Các rào cản trong thực hiện các quy định, chính sách hiện hành như các điều kiện về
nhân lực; tài chính; nhận thức; thái độ đánh giá của chính đội ngũ GV, NV, của các cấp quản
lý và chính quyền, của người dân, sự tham gia và phối hợp của các bên...cũng như còn nhiều
quy định ràng buộc khiến cho các chính sách không khả thi trong thực tiễn.
CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC RÀO CẢN TRONG CƠ CHẾ QUẢN LÝ
NHÓM TRẺ ĐLTT THEO HƯỚNG LỒNG GHÉP- CHI PHÍ THẤP Ở VIỆT NAM
Từ việc phát hiện ra các rào cản, chúng tôi đề xuất các biện pháp cụ thể hướng tới việc hạn chế
và xóa bỏ rào cản trong công tác quản lý nhóm trẻ ĐLTT theo cơ chế lồng ghép - chi phí thấp:
góp phần đánh giá khách quan và toàn diện về thực trạng hoạt động CS-GD trẻ, thực trạng
quản lý và cơ chế quản lý các nhóm trẻ ĐLTT ở Việt nam, từ đó đề xuất các biện pháp khắc
phục rào cản trong cơ chế quản lý hiện hành đối với nhóm trẻ ĐLTT
1.4. Phạm vi, thời gian nghiên cứu và đối tượng khảo sát
Khảo sát thực địa được giới hạn ở 6 tỉnh: Lào Cai, Hà Nội, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Bình
Dương, Gia Lai, đại diện cho 3 khu vực: khu vực đông dân cư ở đồng bằng Bắc và Bắc Trung
bộ; khu vực công nghiệp ở phía Bắc và phía Nam Việt Nam và khu vực dân tộc thiểu số ở miền
núi Tây bắc và Tây nam bộ.
13
Bảng 1.1. Các khu vực được chọn khảo sát ở Việt Nam
Khu vực
Tỉnh
Xã/Phường
Quận/Huyện
P. Lĩnh Nam
Hà Nội
Q. Hoàng Mai
KV Đông dân cư
P. Thanh Trì
P. Quán Bàu
Xã Tả Phời
Xã Alba
Huyện Chư Sê
Gia Lai
Xã Iahlop
Thời gian nghiên cứu:
-
Xây dựng khung nghiên cứu và công cụ khảo sát: Quý I năm 2015
-
Nghiên cứu tài liệu thứ cấp và tiến hành khảo sát tại 6 tỉnh: Quý II năm 2015
-
Xử lý số liệu và viết báo cáo nhánh về kết quả khảo sát ở 3 khu vực: Quý III năm
2015
-
Viết báo cáo chung và tổ chức góp ý chuyên gia, chỉnh sửa báo cáo: Quý IV năm
2015 đến quý I năm 2016
-
3
Tuổi Thơ của Bé
chưa có phép
Hoàng Mai, Hà Nội
4
Nhóm Sao Việt
chưa có phép
Hoàng Mai, Hà Nội
5
Nhóm Ánh Kim
có phép
Vinh, Nghệ An
6
Hồng Lê
có phép
chưa có phép
Bến Cát, Bình Dương
11
Nhóm Tuổi Thơ
có phép
Phúc Yên, Vĩnh Phúc
12
Nhóm Phương Liên
có phép
Phúc Yên, Vĩnh Phúc
13
Nhóm trẻ Vành Khuyên
có phép
Phường Cốc Lếu, Lào Cai
14
- Các chủ nhóm trẻ ĐLTT, các GVMN được chọn khảo sát
- Một số cha mẹ có con gửi và chưa gửi ở các nhóm trẻ ĐLTT được chọn khảo sát
Bảng 1.3. Mẫu khảo sát
TT
Đối tượng cung cấp thông tin
PVS TLN Quan sát
1
Cán bộ Sở GD-ĐT phụ trách MN
6
2
Cán bộ Phòng GD-ĐT phụ trách MN
6
3
Phó chủ tịch UBND cấp tỉnh phụ trách văn xã
1
4
12
10
Chủ nhóm trẻ ĐLTT, nhóm trẻ gia đình
6
11
GVMN ở trường MN công lập
5
12
GVMN, bảo mẫu ở các nhóm trẻ
5
13
Cha mẹ trẻ có con đi học ở nhóm trẻ
12
14
Cha, mẹ trẻ chưa cho con đi học
kiện thuận lợi cho nghiên cứu.
Trước các cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm, cán bộ nghiên cứu nêu rất rõ mục đích của
nghiên cứu, các loại thông tin cần thu thập, cách sử dụng thông tin trong nghiên cứu và tính
bảo mật thông tin để người tham gia cung cấp thông tin tự quyết định về việc tham gia của họ
trong nghiên cứu. Trong quá trình triển khai nghiên cứu ở thực địa, việc chụp ảnh cho các hoạt
động liên quan đến nghiên cứu đều được xin ý kiến đồng ý của người cung cấp thông tin. Các
tranh ảnh chỉ được sử dụng cho việc minh hoạ các nhận định đưa ra trong nghiên cứu.
Các thông tin trong băng gỡ hoàn toàn được xoá bỏ các thông tin cá nhân như tên, địa điểm,
đơn vị/tổ chức công tác... và được mã hoá trong quá trình xử lý và phân tích thông tin. Thông
tin đưa vào báo cáo hoàn toàn không chỉ đích danh người cung cấp thông tin nhằm đảm bảo
tính bảo mật thông tin và an toàn cho người cung cấp thông tin.
3. Hạn chế của nghiên cứu
Do thời gian và nguồn lực có hạn, việc chọn điểm nghiên cứu ở 6 tỉnh đại diện cho 3 khu
vực (đông dân cư, khu công nghiệp và khu vực dân tộc thiểu số) chưa thể phản ánh 1 cách đầy
đủ, trọn vẹn về thực trạng vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam.
Mặc dù đã được báo cáo và xin phép trước, tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan mà nhóm
nghiên cứu chỉ gặp được 1/6 cán bộ UBND các tỉnh, 4/6 quận, huyện được chọn khảo sát, vì
thế, thông tin có liên quan đến cơ chế quản lý nhóm trẻ ĐLTT từ cấp Tỉnh, Quận/ huyện chủ
yếu được thu thập qua các báo cáo thứ cấp.
Thời gian nghiên cứu ngắn (5 ngày/ tỉnh), trong khi vấn đề về thực trạng và cơ chế quản lý
nhóm trẻ ĐLTT khá phức tạp, liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều cấp quản lý khác nhau đã
phần nào ảnh hưởng đến chất lượng các nhận định được rút ra trong nghiên cứu
Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là định tính, do vậy, chưa đảm bảo các nhận
định mang tính chiều rộng (do thông tin định lượng mang lại) vẫn thường sử dụng trong nghiên
cứu về khoa học giáo dục nói chung và GDMN nói riêng.
17
PHẦN B. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
18
dụng đất. (3) Cho thuê đất và miễn tiền thuê đất; Các chính sách miễn giảm về thuế, phí, lệ phí
cho các trường ngoài công lập và cho người đầu tư, khuyến khích các nguồn thu để phát triển
GD; các loại hình ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo quy định của phát luật;
Đối với những khoản thu phí, lệ phí Nhà nước không quy định mức thu, CSGDMN ngoài công
lập được tự quyết định. Nghị định số 59/2014/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 69/2008/NĐ-CP) về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh
vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường cùng Thông tư số 156/2014/TT-BTC
hướng dẫn thực hiện quy định nhà nước, xã hội coi trọng và đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm
và dịch vụ của cơ sở thực hiện XHH. Các cơ sở thực hiện XHH hoạt động trong lĩnh vực giáo dục,
dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường được miễn phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu tài sản gắn với đất; được miễn các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến quyền
sử dụng đất, tài sản gắn với đất. Nghị định số 218/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNDN quy định về việc các doanh nghiệp thực hiện dự án
đầu tư trong lĩnh vực XHH (giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường)
được giảm trừ thuế thu nhập từ thực hiện hoạt động XHH.
Các chính sách hỗ trợ này góp phần tích cực thúc đẩy công tác XHH giáo dục nói chung
và tạo những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các cơ sở giáo dục ngoài công
lập trong đó có nhóm trẻ độc lập tư thục.
- Đối với các CSGDMN ngoài công lập tại các vùng miền; khu vực, đặc biệt ở khu
công nghiệp, khu chế xuất:
Tại các khu vực đô thị: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI cũng chỉ rõ: khuyến khích
phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng yêu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao
ở khu vực đô thị. Tuy nhiên, đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể nào về phát triển giáo dục mầm
non chất lượng cao tại khu vực đô thị.
Tại các khu công nghiệp, khu chế xuất: Ngày 20/3/2014 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Hỗ trợ phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục ở khu công
dục và Đào tạo; Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của các Bộ, cơ quan ngang Bộ.
Ở cấp tỉnh: Chủ tịch UBND cấp tỉnh dự thảo quyết định thành lập, cho phép thành lập, sáp
nhập, chia, tách, giải thể các cơ sở giáo dục trực thuộc Sở GD&ĐT (khoản 1b điều 7 Nghị định
số 115/2010/NĐ-CP); Sở GD&ĐT chịu trách nhiệm quản lý về mặt chuyên môn giáo dục với
UBND cấp tỉnh.
Ở cấp huyện: UBND cấp huyện chịu trách nhiệm trước UBND cấp tỉnh về phát triển
GDMN (khoản 2, Điều 8-Nghị định số 115/2010/NĐ-CP). Trong đó: Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ
chức thực hiện và kiểm tra giám sát các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trong việc
thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục và thực hiện XHH giáo dục (khoản
2,3,4,8); Quyết định cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể đối
20
với các CSGDMN ngoài công lập trong đó có các nhóm trẻ ĐLTT thuộc thẩm quyền quản lý
của UBND cấp huyện (khoản 6), Phòng GD&ĐT quản lý các CSGDMN trực thuộc trên địa
bàn; hướng dẫn tổ chức thực hiện chuyên môn và phối hợp với UBND huyện cho phép hoạt động
giáo dục đối với nhóm trẻ ĐLTT (khoản 1, 2,8 điều 9).
Ở cấp xã: UBND xã cho phép thành lập nhóm trẻ độc lập tư thục theo tiêu chuẩn do Bộ
Giáo dục và Đào tạo quy định; bảo đảm và chịu trách nhiệm kiểm tra các nhóm trẻ ĐLTT trên
địa bàn hoạt động đúng quy định pháp luật (khoản 2), thực hiện công tác XHH giáo dục (khoản
3) và phối hợp với phòng giáo dục quản lý các CSGDMN (khoản 6).
Nhóm trẻ ĐLTT chịu sự quản lý trực tiếp của UBND xã/phường/ thị trấn (UBND cấp xã)
và Phòng giáo dục và đào tạo (điều 5- Quy chế tổ chức và hoạt động trường MN tư thục). Tuy
nhiên việc kiểm tra giám sát không chỉ thuộc trách nhiệm của các cơ quan quản lý giáo dục mà
bản thân các nhóm trẻ ĐLTT cũng có trách nhiệm thường xuyên thực hiện việc tự kiểm tra các
hoạt động theo quy định hiện hành (Điều 32- Quy chế tổ chức và hoạt động trường mầm non
tư thục).
Như vậy, chúng ta thấy rất rõ nhóm trẻ ĐLTT chịu sự quản lý phụ thuộc vào nhiều cơ quan,
đối tượng khác nhau: hoạt động chịu sự quản lý trực tiếp của UBND cấp xã; chuyên môn chịu