Zc
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐỖ HỒNG HẢI
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI NHẰM
PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
Ở MỘT SỐ TRƢỜNG MẦM NON TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐỖ HỒNG HẢI
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI NHẰM
PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
Ở MỘT SỐ TRƢỜNG MẦM NON TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trịnh Thị Xim
HÀ NỘI, 2017
cả những tham khảo và kế thừa đều đƣợc trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Tác giả
Đỗ Hồng Hải
MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................... 3
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu .................................................................... 3
4. Giả thuyết khoa học ............................................................................................ 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................................... 3
6. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................................... 4
7. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 5
8. Cấu trúc luận văn ................................................................................................ 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NGOÀI TRỜI NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
Ở TRƢỜNG MẦM NON ........................................................................................... 6
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ..................................................................... 6
1.2. Một số khái niệm cơ bản ................................................................................ 11
1.2.1. Một số khái niệm về tổ chức, hoạt động ngoài trời, và tổ chức hoạt
động ngoài trời ................................................................................................. 11
1.2.2 Khái niệm về sáng tạo ............................................................................. 13
1.3. Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi ................................................. 21
1.4. Tầm quan trọng của hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo
cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trƣờng mầm non ..................................................................... 24
1.5. Quá trình tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho
trẻ 5 - 6 tuổi ở trƣờng mầm non ............................................................................ 25
Kết luận chƣơng 2 ................................................................................................. 64
CHƢƠNG 3. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI NHẰM
PHÁT TRIỂN TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI ....................................... 65
VÀ THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ............................................................................. 65
3.1. Một số biện pháp tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng
tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trƣờng mầm non ............................................................... 65
3.1.1. Một số yêu cầu khi đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động hoạt động
ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non ..... 65
3.1.2. Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát
huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non .................................... 66
3.2. Thực nghiệm .................................................................................................. 82
3.2.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................ 82
3.2.2. Nội dung thực hiện ................................................................................. 82
3.3.3. Chọn mẫu thực hiện ................................................................................ 83
3.2.4. Thời gian thực hiện: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2017 ........................ 83
3.2.5. Tổ chức thực nghiệm .............................................................................. 83
3.2.6. Phân tích kết quả thực nghiệm ............................................................... 85
Kết luận chƣơng 3 ................................................................................................. 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................................... 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 100
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
Mầm non
MGL
Mẫu giáo lớn
MG
Mẫu giáo
ST
Sáng tạo
SPST
Sản phẩm sáng tạo
TB
Trung bình
TST
Tính sáng tạo
TC HĐNT
Tổ chức hoạt động ngoài trời
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ ở hai trƣờng mầm non Việt
Đoàn và mầm non Phật Tích (lấy phần trăm của các mức độ
đƣợc xếp loại). ...........................................................................................56
Biểu đồ 3.1: Kết quả biểu hiện mức độ sáng tạo của trẻ 5- 6 tuổi trong hoạt động
ngoài trời nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trƣớc thực nghiệm
(theo mức độ) .............................................................................................85
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ kết quả mức độ biểu hiện tính sáng tạo của 2 nhóm sau thực
nghiệm (theo mức độ) ................................................................................88
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
HĐNT là loại hình hoạt động hàng ngày của trẻ ở trƣờng MN. Đây là một trong
những lọai hình HĐ đem lại cho trẻ nhiều cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên, ở đó, trẻ có
thể tìm tòi, khám phá thiên nhiên và thoả mãn nhu cầu vận động của mình. Đối với
trẻ mẫu giáo, vui chơi là hoạt động chủ đạo, qua chơi trẻ đƣợc phát triển chức năng
tâm lý và hình thành nhân cách. Khi chơi cũng là dịp tốt để trẻ khám phá môi trƣờng
xung quanh, qua đó kích thích tính tò mò, khả năng quan sát, năng lực phán đoán, trí
tƣởng tƣợng… của trẻ. Trẻ cần chơi nhƣ cần ăn no, mặc ấm, cần đƣợc yêu thƣơng.
Trò chơi nuôi dƣỡng tâm hồn trẻ mà không có gì thay thế đƣợc
HĐNT là một hoạt động không thể thiếu trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của
trẻ. Bởi thông qua đó, trẻ đƣợc tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên, hít thở bầu không
khí trong lành, đồng thời đƣợc khám phá, thoả mãn trí tò mò. HĐNT cũng chính là
hoạt động vui chơi có mục đích, hƣớng trẻ đến những khám phá tìm hiểu về thế giới
tự nhiên, về những mối quan hệ giữa tự nhiên với con ngƣời và giữa ngƣời với
ngƣời Vui chơi là một hoạt động luôn đi cùng và gắn bó với cuộc sống của con
hứng thú sang một số hoạt động thụ động khác nhƣ điện tử, vi tính, công nghệ. Điều
đó làm mất sự cân bằng cho trẻ cả về thể chất, tinh thần, và đặc biệt là hạn chế tiềm
năng sáng tạo của trẻ.
Về mặt cơ sở vật chất cũng còn nhiều khó khăn. Đặc biệt trong điều kiện hiện
nay, môi trƣờng HĐNT bị thu hẹp hầu hết phần diện tích của sân trƣờng bị bê tông
hóa. Khoảng không gian tiếp xúc với môi trƣờng tự nhiên bị thu hẹp, số lƣợng học
sinh quá đông, giáo viên còn thiếu, phƣơng tiện hoạt động không đổi mới (nhƣ đồ
chơi ngoài trời, đồ dùng dụng cụ thí nghiệm, trải nghiệm của trẻ còn sơ sài không
hiệu quả, GV chƣa tận dụng các nguyên liệu có sẵn từ tự nhiên…).
Về phía Ban quản lí lãnh đạo các cấp, một số chƣa thực sự quan tâm sát sao chƣa
quan tâm ủng hộ tạo lập môi trƣờng, phƣơng tiện, thiết bị khoảng không phù hợp cho
công tác tổ chức hoạt động ngoài trời. Do nhận thức chƣa đúng đắn về tầm quan trọng
của HĐNT đến sự phát triển toàn diện về thể chất tinh thần của trẻ nên dẫn đến những
hạn chế nhất định trong sự phát huy tối đa tiềm năng của trẻ trong HĐNT
Từ thực trạng công tác TC HĐNT cho trẻ ở một số trƣờng mầm non chúng tôi
nhận thấy sự cần thiết phải có giải pháp để HĐNT thực sự mang lại hiệu quả và
3
phát huy đƣợc tác dụng to lớn của HĐ này đối với những tiềm năng của trẻ về mọi
mặt, để hoàn thiện con ngƣời mới trong tƣơng lai. Từ đó chúng tôi mạnh dạn đƣa ra
đề tài nghiên cứu “Tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho
trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non tỉnh Bắc Ninh”. Với đề tài trên chúng tôi
hy vọng sẽ thực sự đóng góp một phần nhỏ bé vào quá trình đổi mới giáo dục hiện
nay để xây dựng con ngƣời mới cho tƣơng lai từ những mầm non của đất nƣớc.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc TC HĐNT nhằm phát huy TST
cho trẻ 5 - 6 tuổi.
Đề xuất biện pháp TC HĐNT nhằm phát huy TST cho trẻ 5 - 6 tuổi ở một số
trƣờng mầm non tỉnh Bắc Ninh góp phần nâng cao chất lƣợng của hoạt động này ở
Quan sát giáo viên TC HĐNT cho trẻ và quan sát biểu hiện của trẻ 5 - 6 tuổi
trong HĐNT để điều tra thực trạng của đề tài.
6.2.2 Phương pháp sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến
Phiếu hỏi GV về quá trình TC HĐNT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trƣờng MN nhăm
phát huy TST cho trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trƣờng MN .
6.2.3 Phương pháp đàm thoại
Trao đổi trò chuyện với giáo viên phụ trách nhóm trẻ 5 - 6 tuổi; trao đổi trò
chuyện với cán bộ quản lý ở 2 trƣờng mầm non tỉnh Bắc Ninh để thu thập thông tin
liên quan đến đề tài.
6.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kế hoạch giáo dục, giáo án, đồ dùng nguyên vật liệu, sản phẩm
của trẻ nhằm tìm hiểu thực trạng của việc TC HĐNT cho trẻ 5 -6 tuổi ở 2 trƣờng
mầm non tỉnh Bắc Ninh.
6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn
Nghiên cứu những kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến đề tài.
6.2.6 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo những ý kiến của các chuyên gia giáo dục mầm non về chƣơng
trình thực nghiệm và các tiêu chuẩn đánh giá của đề tài.
6.2.7 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm trên trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi để xác định tính
khả thi và hiệu quả của mô hình đề xuất.
5
6.2.8 Phương pháp sử lí số liệu
Sử dụng các công thức toán học để sử lí số liệu và phân tích kết quả nghiên cứu.
7. Phạm vi nghiên cứu
7.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng về TC HĐNT nhằm phát huy TST cho trẻ 5 - 6 tuổi ở
một số trƣờng MN tỉnh Bắc Ninh.
cứu rất quan tâm. Bởi thông qua đó, trẻ đƣợc tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên, hít
thở bầu không khí trong lành, đồng thời đƣợc khám phá, thoả mãn trí tò mò của trẻ.
Giai đoạn bé đi mẫu giáo là giai đoạn phát triển quan trọng trong cuộc đời của bé. Ở
giai đoạn này, trẻ hình thành, phát triển giao tiếp xã hội, phát triển về mặt tƣ duy, trí
tuệ, thể chất và nhiều kĩ năng khác. Nếu không đƣợc tham gia các HĐNT, sẽ ảnh
hƣởng không nhỏ đến tâm lý, tình cảm, kỹ năng giao tiếp của trẻ, có thể khiến trẻ
mất tự tin, thiếu sự linh hoạt, khó hòa đồng…
Từ thế kỉ 18 các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới đã thực sự coi giáo dục
tự nhiên gắn với môi trƣờng ngoài lớp học có tầm quan trọng đặc biệt không gì có
thể thay thế. J.Rut-xô (1712-1778) đã kêu gọi phải tiến hành giáo dục tự nhiên và tự
do vì “Thiên nhiên mong muốn rằng trẻ em phải là trẻ em trƣớc khi trở thành ngƣời
lớn” [57; tr 104]. Ông còn cho rằng trẻ em thời kì từ 3-12 tuổi là thời kì phát triển
mạnh mẽ các giác quan nên hoạt động thực tiễn là không gì có thể thay thế đƣợc.
Ngƣời lớn không đƣợc áp đặt ý muốn chủ quan lên trẻ, chỉ nên tạo điều kiện để trẻ
hoạt động tìm hiểu theo ý muốn bản thân trẻ.
Bƣớc sang thế kỉ 19 Jonh Deway (1859-1952) đã đề cao tính tự do học hỏi tìm
tòi của trẻ trong các hoạt động thực tiễn ông viết “Học sinh là mặt trời, xung quanh
chúng quy tụ mọi phƣơng tiện giáo dục. Nói không phải là dạy, nói ít hơn chú ý
nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh.” [58; tr13] Ngoài ra các nhà tâm lí
học
giáo
dục
học
nhƣ
A.P.Uxova,
chƣơng trình giảng dạy và do đó sẽ không cần tìm thêm thời gian cho việc giáo
dục ngoài trời. Bà bổ sung: “Đƣa giáo dục ngoài trời vào chính sách sẽ đảm bảo
việc giáo viên coi đó là một hoạt động đáng để làm” Tác giả Karen Malone đồng
tác giả nghiên cứu với bà Waite, cho biết: “Nghiên cứu đã đƣa ra bằng chứng để
khuyến khích các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách thấy đƣợc sự tƣơng
đồng giữa nghiên cứu và quy định nhằm định hình tƣơng lai tƣơi đẹp cho con em
chúng ta” [61].
Trẻ tham gia HĐNT nhiều hơn sẽ có sức khỏe tim, phổi cao hơn so với những
bé chỉ chơi với các thiết bị điện tử. Do đó, nên khuyến khích trẻ vận động nhiều
hơn, nên để bé đƣợc chơi đùa, vận động ngoài trời tối thiểu một giờ mỗi ngày. Điều
này giúp trẻ phát triển óc sáng tạo, trí thông minh và tăng khả năng tập trung. Các
8
nhà nghiên cứu cho rằng tuổi thơ của trẻ thay đổi rõ rệt nếu có nhiều cơ hội và thời
gian ở ngoài trời [66].
Theo quan điểm của Timo Heikkinen “Bọn trẻ sẽ không thể học nếu chúng
không đƣợc vui chơi" và cho rằng, vui chơi luôn là cách đơn giản nhất kích thích trẻ
tìm đƣợc hạnh phúc chứ không phải một ngƣời thành công bằng mọi giá. Bạn không
muốn tuổi thơ của trẻ bị vùi lấp trong những trang sách, muốn trẻ có những trải
nghiệm thực tế và tự khám phá thế giới xung quanh theo cách riêng của trẻ. [47]
chƣơng trình giáo dục này đƣợc thiết kế dành riêng cho trẻ từ 3-7 tuổi nhằm giúp các
bé thoải mái vận động, thỏa sức sáng tạo trong một không gian xanh mát gần gũi
thiên nhiên Cùng quan điểm trên những nhà giáo dục Phần Lan đã đƣa ra những biện
pháp kế hoạch tạo ra sự đổi mới và thành công trong giáo dục với một hệ thống giáo
dục độc đáo và tuyệt vời đƣợc xếp hạng đứng đầu châu Âu qua phƣơng pháp "học
mà chơi". Ở Phần Lan, học tập thông qua vui chơi là phƣơng pháp giáo dục đầu đời
mang ý nghĩa rất quan trọng. Ngoài việc học tập trên lớp, học sinh còn đƣợc dành
nhiều thời gian cho việc tự học, tự tìm hiểu và vui chơi... Học sinh thƣờng đƣợc tham
gia các tiết học ngoại khóa ngoài trời, không khí lớp học luôn vui vẻ, không áp lực
ra những âm thanh hạnh phúc cho trẻ khi đƣợc tham gia"[67]
Trong chuyên đề "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm" tác giả
đã nhấn mạnh vai trò của môi trƣờng hoạt động ngoài lớp học đặc biệt nhấn mạnh
vai trò của HĐNT: Nó đƣợc ví nhƣ ngƣời giáo viên thứ hai trong công tác tổ chức,
hƣớng dẫn cho trẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ, thông qua
đó, nhân cách của trẻ đƣợc hình thành và phát triển toàn diện. Một môi trƣờng sạch
sẽ, an toàn, có sự bố trí khu vực chơi và học trong lớp và ngoài trời phù hợp, thuận
tiện có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát triển thể chất của trẻ, mà còn thỏa
mãn nhu cầu nhận thức, mở rộng hiểu biết của trẻ, kích thích trẻ hoạt động tích cực,
sáng tạo. Xây dựng tốt môi trƣờng giáo dục trong trƣờng mầm non là phƣơng tiện,
điều kiện để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ, khả năng thẩm
mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội, tạo tiền đề vững chắc cho trẻ mầm non vào học lớp
1 trƣờng tiểu học; phù hợp với phƣơng châm của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ
đạo: "Học bằng chơi, chơi mà học"[42]
Trong một tài liệu nghiên cứu về tâm lí của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết khẳng
định: “có thể nói rằng nơi nào có đất, cát sỏi, đá, nƣớc non, cỏ cây, hoa lá thì nơi đó
10
có sức quyến rũ mãnh liệt đối với trẻ nhỏ. Mặc dù có những lúc bị cấm đoán, ngăn
cản chúng vẫn cứ sấn đến một cách công khai hoặc lén lút để chơi nghịch. Trẻ đến
với thiên nhiên một cách thích thú nhƣ thế đó chẳng khác nào nhƣ xà vào lòng mẹ
vậy. Chúng ta cần tạo mọi điều kiện để cho trẻ sớm đƣợc tiếp xúc với thiên nhiên
ngay từ tấm bé.”[36]
Nhƣ vậy tiếp xúc với thiên nhiên nhƣ một nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ
thơ. Tuy nhiên ngƣời lớn chúng ta dù đã trải qua tuổi thơ với những mong muốn
đƣợc đắm mình trong thế giới thiên nhiên. Nhƣng một bộ phận không nhỏ đã vô
tình quên đi sự gắn bó mật thiết của con ngƣời với thiên nhiên mà đƣa ra những áp
đặt sai lầm cho trẻ. Nhƣ cấm đoán trẻ không cho trẻ chơi nghịch đất cát. Không cho
trẻ tiếp xúc trải nghiệm với môi trƣờng tự nhiên bên ngoài. Yên tâm cho rằng để bé
Nguyễn Thị Tuyết Ánh có đề tài nghiên cứu về cách thức tổ chức HĐNT chủ yếu
nhằm phát huy kĩ năng vận động cho trẻ bất cập khó khăn của việc TC HĐNT
đặc biệt là những địa phƣơng còn khó khăn về kinh tế
Do chƣa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu trong vấn đề này nên trong ngành
mầm non tài liệu hƣớng dẫn TC HĐNT còn hạn chế, nên giáo viên, sinh viên hầu
hết có tổ chức hoặc ít tổ chức HĐNT nhƣng thiếu khoa học và chƣa quan tâm đến
hiệu quả giáo dục trong các buổi HĐNT. Từ những nguyên nhân chủ quan và khách
quan nêu trên, dẫn đến những thiệt thòi, thiếu hụt, mất cân bằng cho độ tuổi vàng
của chính con em chúng ta.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Một số khái niệm về tổ chức, hoạt động ngoài trời, và tổ chức hoạt động
ngoài trời
1.2.1.1 Khái niệm về tổ chức
* Tổ chức hoạt động giáo dục là sự sắp xếp, bố trí hoạt động giáo dục nhằm
đạt mục đích giáo dục
1.2.1.2 Khái niệm về hoạt động ngoài trời
* Khái niệm về hoạt động: Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động:
Thông thƣờng ngƣời ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lƣợng thần kinh và cơ bắp
của con ngƣời khi tác động vào hiện thực khách quan, nhằm thoã mãn những nhu
cầu của mình.[73]
12
Về phƣơng diện triết học, tâm lý học ngƣời ta quan niệm hoạt động là phƣơng
thức tồn tại của con ngƣời trong thế giới
Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con ngƣời với thế giới (khách
thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới cả về phía con ngƣời (chủ thể)
* Khái niệm ngoài trời: là khoảng không gian thoáng, trong môi trƣờng tự
nhiên hoặc nhân tạo không phải ở trong nhà hay nơi có mái che kiên cố[73]
* Vậy HĐNT là hoạt động được chủ thể tiến hành một cách có mục đích trong
ra đƣợc cái gì đó mới không kể cái đó đƣợc tạo ra ấy là một vật cụ thể hay là sản
phẩm của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ bản thân con ngƣời.[46]
Theo triết học: ST là say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới về
vật chất, tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó phụ
thuộc vào những cái đã có [69]
Nguyễn Đức Uy lại cho rằng ST là sự đột khởi bằng hành động của một sản
phẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh độc đáo của một cá nhân. Quan điểm này cho rằng
không có sự phân biệt về ST, nghĩa là sáng tạo dù ít dù nhiều đều là sáng tạo[38]
Từ các khái niệm trên chúng tôi thấy dù có nhiều cách giải thích về ST nhƣng
các tác giả đều thống nhất: ST là một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con ngƣời nó
diễn ra mọi lúc mọi nơi luôn say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới
về vật chất tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó
phụ thuộc vào những cái đã có. Trong quá trình tiến hành hoạt động, con ngƣời luôn
luôn suy nghĩ tìm tòi và học hỏi để tìm ra cái mới, cách giải quyết tốt nhất để đạt
đƣợc hiệu quả tốt nhất. Hoặc chỉ đơn giản là dám làm ra một cái gì đó mới mẻ, táo
bạo, khác thƣờng nhƣng vẫn rất hữu dụng. Tuy là nhiều quan điểm nhƣng hầu hết
các tác giả đều nhấn mạnh đến cái mới của sản phẩm đƣợc tạo ra có giá trị lợi ích
cho bản thân cá thể ấy hoặc cho một tập thể hay toàn xã hội. Từ đó mỗi tác giả đều
nhấn mạnh ý nghĩa xã hội của sản phẩm ST.
Vậy sáng tạo là loại tư duy có khuynh hướng phát hiện và giải thích bản chất
sự vật theo lối mới, hoặc tạo ra ý tưởng mới cách giải quyết mới không theo tiền lệ
đã có.
14
1.2.2.2 Bản chất của sáng tạo
Khi tìm hiểu về hoạt động ST các nhà nghiên cứu đã xác định bản chất của
hoạt động này ở những vấn đề sau:
Thứ nhất, hoạt động ST của con ngƣời mang bản chất xã hội.
Charles Van Doren đã viết “Nhu cầu kích thích hoạt động ST là lòng ham hiểu
kiên trì suy nghĩ sáng tạo. Phát minh không nằm ngoài tầm hoạt động kiên trì với
định hƣớng khoa học nghiêm túc. Linh cảm, trực cảm không đến với những ngƣời
lƣời biếng, đó chỉ là yếu tố bổ xung tuyệt vời cho kinh nghiệm và hiểu biết.[53]
Hai là những ý kiến cho rằng tƣ duy, tƣởng tƣợng mới là mắt xích của trung
tâm sáng tạo. Đại diện cho quan điểm này là các nghiên cứu nhƣ:
L.X Vƣgotski, A.N Leonchiev, X.L Rubinstein, cho rằng hoạt động ý thức
của con ngƣời có vai trò quan trọng trong HĐST[46],[69],[50].
A.N Leonchiev đã đề cập đến vấn đề này trong các nghiên cứu của mình, ông
cho rằng tƣ duy là vấn đề tham gia chính vào việc ST chứ không phải linh cảm.[70]
Có thể thấy rằng, hai quan niệm đƣa ra đều đúng nhƣng không trọn vẹn. Thực
tế những yếu tố linh cảm, tƣ duy, tƣởng tƣợng không thể tách rời nhau trong HĐST.
Linh cảm cung cấp cho lí trí những dữ kiện quý giá để lí trí phân tích sàng lọc, thử
nghiệm và khẳng định. Và ngƣợc lại sự nỗ lực nghiêm túc, kiên trì tƣ duy và tƣởng
tƣợng sẽ tạo điều kiện cho linh cảm xuất hiện. Rõ ràng, nếu chúng ta làm việc thật
sự căng thẳng và nghiêm túc trong một thời gian dài thì đến một thời điểm nào đó
chúng ta sẽ giải quyết đƣợc nhiệm vụ một cách tốt nhất nhƣ một sự lóe sáng.[70]
Tóm lại bản chất của hoạt động sáng tạo của con người có nguồn gốc từ hiện
thực khách quan và mang bản chất xã hội. Sáng tạo là hoạt động khó khăn, vất vả
của con người nhằm cải thiện cuộc sống và thúc đẩy xã hội phát triển. Nó là hoạt
động có ý thức và có mục đích của con người chứ không phải là hoạt động mang
tích chất huyền bí hay là sự may rủi và càng không phải là món quà Thượng đế ban
tặng cho.
1.2.2.3 Đặc điểm sáng tạo và đặc điểm sáng tạo của trẻ mẫu giáo nói chung và
trẻ 5- 6 tuổi nói riêng ở trường mầm non.
* Đặc điểm sáng tạo
Trong nghiên cứu về ST, đã có nhiều quan niệm về các đặc trƣng (thuộc tính)
của ST. Các quan niệm đều tập trung cho rằng tính linh hoạt, tính nhuần thục, tính