BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THÁI HOÀNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NHẰM PHÁT
HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “PHƯƠNG PHÁP
TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN” - TOÁN LỚP 12
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC GIÁO DỤC
SƠN LA, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Nguyễn Thái Hoàng
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG “PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG
KHÔNG GIAN” - TOÁN LỚP 12 THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: ............
Khoa Toán - Lí - Tin cùng tất cả quý thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Ban Giám Hiệu và quý thầy cô giáo Tổ Toán Trường THPT Gia Phù đã
tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực nghiệm sư phạm.
Gia đình, bạn bè và quý đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi để hoàn thành tốt
luận văn này.
Sơn La, ngày 30 tháng 09 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thái Hoàng
41
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………..
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT
ĐỘNG TỰ HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC
1
TẬP CỦA HỌC SINH……………………………………………...
11
1.2.2. Cơ sở khoa học và vai trò của tự học…………………………
1.2.4. Bảng so sách mô hình dạy - tự học và mô hình dạy học lấy
10
việc dạy ( thầy) làm trung tâm ………………………………………
12
1.2.5.1. Chu trình tự học của trò …………………………………….
13
1.2.5. Chu trình dạy – tự học ………………………………………..
1.2.5.2. Chu trình dạy của thầy ……………………………………..
1.2.5.3. Chu trình dạy – tự học …………………………………….
1.2.6. Một số phương pháp dạy học tích cực áp dụng trong quá
12
14
17
trình tổ chức hoạt dộng tự học……………………………………….
23
1.3.1. Tạo tình huống có vấn đề nhằm tạo hứng thú học tập ……….
1.3.3. Tạo các động cơ học tập ……………………………………
1.3.4. Làm rõ vai trò của Toán học trong khoa học, kỹ thuật và đời
22
23
sống ………………………………………………………………….
24
1.4.1 Khái niệm tự học ngoài giờ trên lớp...........................................
25
1.4. Tổ chức tự học ngoài giờ trên lớp.................................................
1.4.2 Các hình thức tự học ngoài giờ trên lớp.....................................
Chương 2: SOẠN THẢO TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT
25
26
ĐỘNG TỰ HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC
TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG
“PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN” – TOÁN
2.3.2. Tiến trình tổ chức hoạt động tự học từng bài cụ thể ………….
31
2.3.2.2. Bài 2 “Phương trình mặt phẳng” …………………………..
58
2.3.2.1. Bài 1: “Hệ Tọa độ trong không gian”………………………
2.3.2.3. Bài “Phương trình đường thẳng trong không gian” ……….
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM…………………………
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm ……………………………….
3.2. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm …………….
3.2.1. Đối tượng thực nghiệm sư phạm ……………………………..
3.2.2. Phương pháp thực nghiệm ……………………………………
3.2.2.1. Cách tiến hành ……………………………………………..
3.2.2.2. Cách đánh giá ……………………………………………..
3.3. Kết quả thực nghiệm sư phạm …………………………………
3.3.1. Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm ……………………..
3.3.2. Phân tích tần số tham gia các hoạt động học tập của học sinh..
KẾT LUẬN…………………………………………………………
71
97
103
105
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HS:
Học sinh
GV:
Giáo viên
MP :
Mặt phẳng
SGK :
Sách giáo khoa
ĐC:
Đối chứng
81
91
I.
MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của
quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao
động có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn
mới. Người lao động phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận
dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực
tế, tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Để có được những
năng lực ấy, con người phải học tập không ngừng, học tập suốt đời, học ở mọi
nơi thông qua nhiều hình thức, trong đó phải lấy tự học là làm cốt. Do đó, cần
phải bồi dưỡng và rèn luyện năng lực tự học cho học sinh ngay từ khi còn ở
trường phổ thông. Xây dựng được năng lực tự học cho học sinh ở trường phổ
thông là tạo nền tảng cho học sinh phát triển năng lực tự học ở mức độ cao
hơn ở các cấp học cao hơn và xa hơn nữa là đào tạo được những con người có
khả năng tự học, tự nghiên cứu trong một xã hội học tập suốt đời.
minh họa cho học sinh hiểu kỹ về một vấn đề nào đó thì giáo viên chỉ giảng
và đọc cho học sinh ghi chép những nội dung chính của bài học; thay vì
hướng dẫn cho học sinh luyện tập, rèn luyện những kỹ năng thì giáo viên chỉ
yêu cầu học sinh lặp lại theo mẫu một cách máy móc,… Phương pháp dạy
học này dẫn đến sự thụ động của người học, nặng về ghi nhớ lý thuyết, thiếu
kỹ năng thực hành áp dụng, chưa phát huy tinh thần thần tự học và tư duy
sáng tạo của người học…
Xuất phát từ những vấn đề trên cho thấy, việc tổ chức hoạt động tự học
cho học sinh THPT là rất cần thiết và phải được tiến hành qua các bài học và
trong suốt quá trình dạy học bộ môn Toán. Thời gian tự học là lúc học sinh có
điều kiện tự nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng
và với tốc độ thích hợp. Điều đó không những giúp học sinh nắm vấn đề một
cách chắc chắn và bền vững, bồi dưỡng phương pháp học tập và kỹ năng vận
dụng tri thức, mà còn là dịp tốt để học sinh rèn luyện ý chí và năng lực hoạt
động sáng tạo. Đó là những điều không ai cung cấp được cho học sinh nếu
các em không thông qua hoạt động tự học của bản thân.
Do đó tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức hoạt động tự học nhằm
phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương “Phương
pháp tọa độ trong không gian” – Toán lớp 12 THPT” nhằm góp phần vào
Nghiên cứu biện pháp tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích
cực học tập của học sinh lớp 12 THPT trong dạy học chương “Phương pháp
tọa độ trong không gian” ở trường THPT Gia Phù huyện Phù Yên tỉnh Sơn
La.
VI. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu cơ sở lí luận dạy học Toán để thiết kế các tiến trình tổ
chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh.
2. Tìm hiểu thực tế biện pháp dạy và học chương “Phương pháp tọa độ
trong không gian” hiện nay ở các trường THPT thuộc tỉnh Sơn La.
3. Xây dựng các tiến trình tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính
tích cực học tập của học sinh trong dạy học chương “Phương pháp tọa độ
trong không gian” – Toán 12 THPT.
31
4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm các tiến trình đã xây dựng để xác
định mức độ phù hợp, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của từng tiến trình đối
với việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Sau đó rút kinh nghiệm
- Các tiến trình đã xây dựng sau khi hoàn thiện có thể phổ biến trong
trường và mở rộng cho nhiều trường khác góp phần đổi mới phương pháp dạy
học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay.
41
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC
SINH
1.1. Tự học và tính tích cực học tập
1.1.1. Khái niệm tự học
Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác
nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản:
Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đức trong cuốn
“Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ
bản ở đại học. Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ
thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở
ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy
định”.[5]
- Tự học không có sự hướng dẫn của giáo viên: trường hợp này thường
liên quan đến những người đã trưởng thành, các nhà khoa học.
- Tự học trong cuộc sống: thường gặp ở các nhà văn, các nhà văn hóa,
các nhà kinh tế, các nhà chính trị - xã hội…
Theo tác giả Quang Huy:
“Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ
cùng các phẩm chất khác của mình, cả động cơ và tình cảm, thế giới quan để
chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó thành sở hữu của mình. Có thể nói
một cách ngắn gọn, tự học là quá trình tư duy độc lập để khám phá và sáng
tạo”.
Có nhiều kiểu tự học như:
- Tự mình mò mẫm: người học không có điều kiện đi học, các tri thức
họ có được là do sự tìm tòi trải nghiệm của chính bản thân họ trong cuộc
sống.
- Tự học không cần thầy hướng dẫn: người học đã có một trình độ học
vấn nhất định, đã có một thời gian dài học với thầy.
- Tự học với sự hướng dẫn của thầy: hoạt động tự học này gắn với quá
trình dạy học.
Theo quan điểm về tính tích cực trong lí luận dạy học:
“Tính tích cực là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao
về nhiều mặt trong hoạt động học tập” (L. V. Relrova, 1975). Học tập là một
trường hợp riêng của nhận thức, “một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng
đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của GV” (P. V. Edroniev, 1974). Vì vậy,
nói đến tính tích cực là nói đến tính tích cực của sự học tập, thực chất là nói
đến tính tích cực nhận thức.
Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thế đối với khách thể
thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết
những vấn đề học tập - nhận thức. Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là
phương tiện, vừa là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt
động. Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân.
Tùy theo việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lí nào và mức
độ huy động những chức năng tâm lí đó mà người ta phân ra ba loại tính tích
cực:
- Tính tích cực tái hiện, bắt chước: tính tích cực chủ yếu dựa vào trí nhớ
và tư duy tái hiện. Học sinh tích cực bắt chước hoạt động của GV, của bạn bè.
các câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu
ra.
- HS hay nêu thắc mắc, đòi hỏi phải giải thích cặn kẽ những vấn đề GV
trình bày chưa đủ rõ.
- HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để
nhận thức các vấn đề mới.
- HS mong muốn đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ
những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học.
- Về mặt ý chí: tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì làm bài
tập, không nản khi gạp bài khó,…
- Về mặt cảm xúc: thái độ hào hứng, hoan hỉ… trong học tập.
81
Theo các tác giả Trần Kiều, Nguyễn Thị Lan Phương, Đặng Thành
Hưng thì trong hoạt động học tập , TTC của học sinh diễn ra ở nhiều phương
diện khác nhau: tri giác tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, vận dụng, và
được thể hiện ở nhiều hình thức như:
hoặc trong từng giao đoạn của quá trình nhận thức như đạt ra nhiệm vụ, lập
kế hoạc hực hiện nhiệm vụ đó,…, lúc này TTC đóng vai trò như một tiền đề
cần thiết.
- Tính sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tìm ra cái mới, cách
giải quyết mới, không bị phụ thuộc vào cái đã có. Đây là mức độ biểu hiện
cao nhất của tích cực.
1.2. Tổ chức hoạt động tự học nhằm phát huy tính tích cực học tập của
học sinh
91
1.2.1. Quan niệm về tổ chức hoạt động tự học.[3.31]
Thuật ngữ “ tổ chức ” có hai nghĩa chính. Khi được dùng như một danh
từ, nó chỉ một nhóm người tập hợp lại để thực hiện một mục đính, chức năng,
nhiệm vụ nhất định( ví dụ tổ chức công đoàn, tổ chức đoàn thanh niên,…).
Còn khi được dùng như một động từ, nó có nghĩa là tiến hành một công việc
theo một cách thức, trình tự nào đó; hoặc sắp xếp bố trí thành các bộ phận để
thực hiện một chức năng chung.
Quan điểm trong đề tài này của tôi về “Tổ chức hoạt động tự học” bao
101
Nghị quyết TW khoá VIII đã nhấn mạnh: Cần phải phát triển mạnh
phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất
là thanh niên. Luật giáo dục nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm
2005 trong chương 1 điều 4 cũng ghi rõ: Phương pháp dạy học phải phát huy
tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng
năng lực tự học với lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.
Với các lý do trên dạy học tự học là vô cùng cần thiết.
1.2.3. Phương pháp dạy học tự học
Phương pháp dạy học tự học là cách thức tác động của GV vào quá
trình tự học của HS. Hệ thống phương pháp dạy học tự học nằm trong hệ
thống phương pháp dạy học môn toán.
Phương pháp dạy học tự học bao gồm các hoạt động sau:
(1) Hoạt động làm mẫu: GV có thể hướng dẫn tại lớp cách đọc, cách
ghi chép một chương, một bài nào đó trong sách giáo khoa, tài liệu tham
khảo, có thể làm mẫu về cách khai thác một bài toán và giao cho HS các bài
toán để khai thác.
Mô hình dạy - tự học lấy việc học ( trò
) làm trung tâm
1. Thầy truyền đạt kiến thức cho 1. Thầy hướng dẫn cho trò tự nghiên cứu
trò tiếp thu.
2. Thầy độc thoại hay phát vấn.
tìm ra kiến thức ( qua giải bài tập).
2. Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện, hợp
tác với bạn, đối thoại trò – trò, trò – thầy.
3. Thầy giảng giải cho trò ghi 3. Thầy hướng dẫn cho trò cách tự học,
nhớ, thuộc lòng.
cách giải quyết vấn đề, cách xử lý tinh
huống, cách sống và trưởng thành.
4. Thầy độc quyền kiểm tra đánh 4. Thầy kiểm tra đánh giá trên cơ sở tự
giá.
kiểm tra, tự điều chỉnh của trò.
“ Dạy chữ, dạy nghề, dạy người”
học, hướng dẫn, tổ chức cho trò biết “
5. Thầy là thầy dạy, lo việc dạy: 5. Thầy là thầy học, chuyên gia về việc
hiện vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến
thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản
phẩm thô có tính chất cá nhân.
- Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói,
tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản
phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối
thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của
cộng đồng lớp học.
đổi
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao
với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá
sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh bằng sản phẩm khoa học
(tri thức).
1.2.5.2. Chu trình dạy của thầy [12.161]
Chu trình dạy của thầy nhằm tác động hợp lí, phù hợp và cộng hưởng với chu
131
trình tự học của trò, cũng là chu trình ba thời tương ứng với chu trình tự học
Thầy hướng dẫn cho từng cá nhân học sinh về các tình huống học, về
các vấn đề cần phải giải quyết, về các nhiệm vụ cần phải thực hiện trong tập
thể học sinh. Học sinh tự nghiên cứu, tìm tòi cách xử lý các tình huống, cách
giải quyết vấn đề, tự mình tìm ra kiến thức, chân lý, bằng hoạt động của chính
mình, tạo ra sản phẩm ban đầu
141
- Thời hai (2): Tổ chức
Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn: tổ chức
các cuộc tranh luận, trao đổi trò-trò, trò-thầy và sự hợp tác cùng nhau tìm ra
kiến thức, chân lý. Thầy là người đạo diễn và dẫn chương trình.
- Thời ba (3): Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
Thầy là trọng tài, cố vấn, kết luận về các cuộc tranh luận đối thoại, trò –
trò, trò - thầy để khẳng định về mặt khoa học kiến thức do người học tự mình
tìm ra.
Cuối cùng thầy là người kiểm đánh giá kết quả tự học của trò trên cơ sở
trò tự đánh giá, tự điều chỉnh…
Thời hai (2): Sản phẩm ban đầu của học sinh thông qua sự trao đổi,
thảo luận, hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học trở thành khách quan
hơn, tri thức có tính chất cá nhân ở thời (1) bây giờ đã mang tính chất xã hội
(xã hội lớp học).
Tri thức
Xã hội
Lớp
Thầy
Tổ chức
Trò
Tự nghiên cứu
Thời ba (3): Với kết luận cuối cùng của thầy, nguời học tự kiểm tra
điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình, tri thức người tự học tự tìm ra giờ đây
mới thật sự khách quan khoa học theo đúng nghĩa của tri thức.
Tri thức
Thầy
Trọng tài, cố vấn
Kết luận, kiểm tra