Một số vướng mắc, bất cập từ những quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và xóa án tích - Pdf 44

Một số vướng mắc, bất cập từ những quy định về thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự và xóa án tích
Tại chương IV và Chương IX của BLHS hiện hành đã có những quy định tương đối cụ thể về
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 23); những trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự cùng các quy định về xóa án tích; những trường hợp đương nhiên được xóa án
tích (Điều 67); cách tính thời hạn để xóa án tích (Điều 67)… Chúng tôi cho rằng, những quy định hiện
hành là tương đối đầy đủ và chặt chẽ, song thực tiễn áp dụng những quy định này vào một số trường
hợp cụ thể thì cũng nảy sinh những vướng mắc, bất cập cho tới nay chưa có hướng dẫn để áp dụng
thống nhất. Chúng tôi xin nêu một số vướng mắc, bất cập về vấn đề này để các đồng nghiệp cùng
tham khảo và có ý kiến đóng góp để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, bảo đảm sự công bằng
trong Luật hình sự Việt Nam.
Thứ nhất: Về vấn đề thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 23 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự có quy định
“1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi
hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:
a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;
b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;
c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;
d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện.
Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật
quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua
không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.
Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì
thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị
bắt giữ”.
Những quy định tại Điều 23 đã chỉ rõ Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do
Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự. Nếu trong thời hạn quy định nói trên, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự quy
định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không

vẫn còn nhưng đối với Đinh Văn M và Bùi Quốc T thì có hai quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc Hoàng Văn H bỏ trốn không thể bắt Đinh Văn M và Bùi
Quốc T phải chịu về việc bỏ trốn của H. Do đó trong trường hợp này, chỉ có thể truy tố đối với Hoàng
Văn H còn đối với Đinh Văn M và Bùi Quốc T đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ,
một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự nước ta là trách nhiệm cá nhân. Trong một vụ án
có đồng phạm hoặc nhiều người tham gia thì trách nhiệm hình sự bao giờ cũng là trách nhiệm cá
nhân, việc Hoàng Văn H bỏ trốn không thể bắt Đinh Văn M và Bùi Quốc T phải chịu về việc bỏ trốn
của H. Trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với một ngươì không trốn tránh và không có lệnh truy nã thì hết thời hạn
đó không được truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ nữa, ngay cả trường hợp họ trốn tránh mà cơ
quan điều tra “quên” không ra lệnh truy nã mà đã hết thời hiệu thì cũng không được truy cứu trách
nhiệm hình sự đối họ.
Quan điểm thứ hai cho rằng, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Văn H, Đinh
Văn M và Bùi Quốc T là 5 năm kể từ ngày 10-4-2000 nhưng vì H bỏ trốn, Cơ quan điều tra phải tạm


đình chỉ điều tra nên thời gian tạm đình chỉ điều tra không được tính vào thời hạn truy cứu trách
nhiệm hình sự. Quan điểm của Tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao đồng tình với quan điểm này và
cho rằng: Mặc dù Đinh Văn M và Bùi Quốc T không bỏ trốn nhưng Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can
đối với M và T, tức là từ khi khởi tố bị can trở đi thời hạn điều tra, truy tố, xét xử có bị kéo dài vì lý do
khác nhau thì cũng không được trừ vào thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự. Về nguyên tắc, sau khi
Hoàng Văn H bị bắt theo lệnh truy nã, Cơ quan điều tra phục hồi điều tra vụ án là phục hồi điều tra đối
với cả Hoàng Văn H, Đinh Văn M và Bùi Quốc T chứ không chỉ có Hoàng Văn H.
Chúng tôi lại không đồng tình với quan điểm thứ hai mà đồng tình với quan điểm thứ nhất bởi
lẽ: Đinh Văn M và Bùi Quốc T dù không bỏ trốn nhưng lại phải “chờ” bắt được Hoàng Văn H mới
“được” xử lý là gây bất lợi cho Đinh Văn M và Bùi Quốc T, trong lúc Hoàng Văn H bỏ trốn thì cuộc
sống của Đinh Văn M và Bùi Quốc T đã ổn định, bản thân Đinh Văn M và Bùi Quốc T đã là người
lương thiện và không còn nguy hiểm cho xã hội nữa mà khi bắt được Hoàng Văn H họ vẫn bị xử lý là
không công bằng. Việc vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đinh Văn M và Bùi Quốc T là trái với
quy định tại Điều 165 Bộ luật tố tụng hình sự.


Cơ quan tố tụng Trung ương cũng cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng pháp
luật được thống nhất.
Thứ hai: Về quy định xóa án tích.
Án tích là việc một người bị Tòa án kết án và chưa được xóa án. Việc quy định chế định án tích
và xóa án tích trong Bộ luật hình sự (BLHS) thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước đối với người bị kết
án. Việc đặt ra chế định xóa án tích nhằm khuyến khích người bị kết án nghiêm chỉnh tuân thủ pháp
luật, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội.
Theo quy định tại Điều 63 BLHS thì người bị kết án được xoá án tích theo quy định tại các Điều
từ 64 đến Điều 67 thì coi như chưa bị kết án và được toà án cấp giấy chứng nhận. Sau khi được xoá
án tích mà phạm tội mới thì không được căn cứ vào bản án trước đó để xác định tái phạm.
Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến trường hợp đương nhiên xoá án tích.
Theo quy định tại điều 64 Bộ luật hình sự, thì những người được đương nhiên xoá án tích gồm:
Người được miễn hình phạt; Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI (Các tội
xâm phạm an ninh quốc gia) và Chương XXIV (Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội
phạm chiến tranh), nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người
đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
- Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù
nhưng được hưởng án treo.
- Ba năm trong trường hợp hình phạt tù đến ba năm.
- Năm năm trong trường hợp hình phạt tù từ trên ba năm đến mười năm.
- Bảy năm trong trường hợp hình phạt tù từ trên mười lăm năm.
Khi đã đủ điều kiện để được xoá án tích đã nêu ở trên, thì người bị kết án đương nhiên được
xoá án tích (tức là coi như chưa phạm tội). Toà án không phải cấp giấy chứng nhận cho tất cả những
người được đương nhiên xoá án tích mà chỉ cấp giấy chứng nhận khi những người được đương
nhiên xoá án tích có đơn yêu cầu.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực tiễn, chúng tôi thấy việc quy định điều kiện để tính thời hạn xóa
án tích là kể từ khi người phạm tội chấp hành xong toàn bộ các quyết định của bản án và không phạm
tội mới trong thời hạn như đã nêu cũng nảy sinh những vướng mắc đối với một số trường hợp như
sau:

thường, án phí…Còn việc cấp dưỡng chỉ coi là nghĩa vụ của họ phải thực hiện và họ phải chấp hành
theo quy định của Luật thi hành án dân sự, chứ không nên quy định như hiện hành, tránh trường hợp
người phạm tội cho tới lúc chết vẫn phải mang án tích.
TS. Phạm Minh Tuyên, Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status