B GIO DC V O TO
HC VIN CHNH TR QUC GIA
H CH MINH
HC VIN BO CH V TUYấN TRUYN
NGUYN TH THANH H
GIáO DụC Lý LUậN CHíNH TRị
CHO CáN Bộ LãNH ĐạO, QUảN Lý NGàNH GIáO
DụC
TỉNH LàO CAI HIệN NAY
LUN VN THC S CHNH TR HC
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU....................................................................................1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ NGÀNH GIÁO
DỤC..........................................................................................9
1.1. GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA
GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI CÁN BỘ
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ NGÀNH GIÁO DỤC...............................
1.2. NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC CỦA GIÁO DỤC LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN
LÝ NGÀNH GIÁO DỤC................................................................
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO
CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ NGÀNH GIÁO DỤC TỈNH LÀO CAI
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
GD&ĐT
: Giáo dục và Đào tạo
GDLLCT
: Giáo dục lý luận chính trị
HĐND
: Hội đồng nhân dân
LĐ,QL
: Lãnh đạo, quản lý
LLCT
: Lý luận chính trị
THCS
: Trung học cơ sở
TTBDCT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển không ngừng của tri thức nhân loại, ngày nay
giáo dục không chỉ là thước đo văn minh mà còn là nền tảng cho sự phát triển
bền vững của mỗi quốc gia. Ở nước ta hiện nay, ngành giáo dục được tổ chức
và phân cấp quản lý theo từng cấp học, tạo nên sự công khai, rõ ràng trong
việc thực hiện nhiệm vụ và xác định trách nhiệm của mỗi cấp. Để bộ máy
giáo dục của đất nước hoạt động được hiệu quả, đúng định hướng giáo dục
của Đảng và Nhà nước không thể không nhắc đến vai trò to lớn của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành giáo dục.
Cán bộ LĐ,QL ngành giáo dục được ví như những thuyền trưởng tài tình
chèo lái con thuyền đưa những kỹ sư tâm hồn của đất nước thực hiện thành
công sự nghiệp trồng người, sánh vai với các cường quốc năm châu. Vì vậy,
Đảng ta xác định:
Phát triển giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con
người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà
giáo và cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành giáo dục là lực lượng nòng
cốt, có vai trò hết sức quan trọng [3].
Vì thế, cán bộ LĐ,QL phải là những người tiêu biểu, có lập trường chính
trị vững vàng; có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn và năng lực
công tác đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới.
Nằm trong xu thế phát triển chung của cả nước, tỉnh Lào Cai rất chú
trọng đến giáo dục lý luận chính trị, đặc biệt cho đội ngũ cán bộ LĐ,QL ngành
giáo dục. Tỉnh đã xây dựng những đề án và kế hoạch riêng cho ngành và đã đạt
được nhiều thành tích đáng ghi nhận, nhưng trong thực tế cũng bộc lộ không ít
khó khăn, bất cập: Một số cấp ủy đảng chưa nhận thức hết được vai trò, tầm
2
3
nước nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác GDLLCT trước
yêu cầu đổi mới. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này của các tập
thể, cá nhân, đó là nguồn tài liệu quý báu giúp tác giả tham khảo, kế thừa
trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận văn của mình như:
Đề tài: "Cơ sở lý luận và thực tiễn để đổi mới công tác đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp quận, huyện, thị xã các tỉnh
Nam Bộ", (Chủ nhiệm: Nguyễn Thanh Bình - đề tài cấp Bộ, năm 1996); Đề
tài: "Thực trạng tình hình đội ngũ cán bộ giảng dạy của các trường chính trị
tỉnh, thành phố", (Chủ nhiệm: Thạc sĩ Tống Trần Sinh, năm 1998); Đề tài
mang mã số kx-10-09D do nhóm tác giả: Tô Huy Rứa, Đỗ Công Tuấn ở Đại
học Tuyên giáo “Đổi mới nội dung, chương trình giảng viên lý luận chính trị
các trường Đại học và Cao đẳng (nghiệm thu năm 1994).
Một số công trình của các tác giả đề cập đến giáo dục lý luận chính trị có
liên quan đến đề tài, đó là: PGS.TS Phạm Huy Kỳ (2002), “Lý luận và
phương pháp nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị”; Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh kỷ yếu "Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng,
lý luận", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; TS. Trần Thị Anh Đào (2009),
“Công tác tư tưởng trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội; PGS.TS. Lương Khắc Hiếu (Chủ biên) (2008), “Nguyên lý
công tác tư tưởng”, tập I, II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2005), “Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa hình thức, phương
pháp tuyên truyền, giáo dục, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng” ,
Công ty in Tiến Bộ, Hà Nội; Đào Duy Quát (2004), “Về công tác tư tưởng
của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; TS. Vũ
Ngọc Am (2003), “Đổi mới công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán
bộ, đảng viên ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội; PGS. TS, Hà Học Hợi (Chủ biên) (2002), “Đổi mới và nâng cao
5
nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới”; Tạp chí Triết học số 01 năm 2004:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh và học tập lý luận”…
Một số bài của các tác giả ở nhiều Hội thảo như: PGS.TS Nguyễn
Khánh Bật: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng lý luận; PGS.TS
Hoàng Trang: “Mấy suy nghĩ về công tác tư tưởng, lý luận ở Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh trong tình hình mới dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ
Chí Minh”; PGS.TS Lê Văn Tích: “Đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc
sống - khâu trọng yếu ở công tác tư tưởng, lý luận hiện nay”, TS. Phạm Ngọc
Anh: “Quan niệm của Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận...”.
Một số công trình khác có liên quan đến đề tài, như: Nguyễn Trọng
Khiêm (2004), Tăng cường phối hợp các phương tiện công tác tư tưởng ở
tỉnh Hòa Bình hiện nay, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện Báo
chí và Tuyên truyền, Hà Nội; Nguyễn Văn Quang (2012), Chất lượng giáo
dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên huyện Cẩm Mỹ tỉnh Đồng nai hiện
nay, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,
Hà Nội; Nguyễn Thu Thủy (2012), Công tác giáo dục lý luận chính trị ở
Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị với việc hình thành văn hóa chính trị cho cán
bộ, đảng viên thành phố Thái Nguyên hiện nay, Luận văn Thạc sĩ khoa học
chính trị, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội; Vũ Thi Hằng (2012),
Dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh Lào Cai đến năm 2020,
Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, trường Đại học sư phạm Hà Nội...
Mặc dù đã các công trình nghiên cứu, đặt ra những vấn đề rất cơ bản cả
về lý luận lẫn thực tiễn, đề ra những phương hướng và giải pháp để nâng cao
trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ LĐ,QL. Tuy nhiên, có thể nói rằng, cho tới
nay vẫn còn hiếm hoặc chưa có công trình nghiên cứu một cách chi tiết, đầy
đủ, có hệ thống và chuyên sâu về thực trạng cũng như nêu ra những phương
4.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ
lãnh đạo, quản lý ngành giáo dục tỉnh Lào Cai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
7
Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng giáo dục lý luận chính trị cho
cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục hệ công lập của ngành Giáo dục và Đào tạo
tỉnh Lào Cai từ năm 2009 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng về giáo dục lý luận chính trị; một
số văn kiện của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Lào Cai, đề tài còn tiếp thu, kế
thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có
liên quan.
Cơ sở thực tiễn của đề tài là thực trạng giáo dục lý luận chính trị ở tỉnh
Lào Cai.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin, đề tài sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương
pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lôgic - lịch sử, thu thập thông tin,
nghiên cứu tài liệu, quan sát, thống kê, so sánh,...
6. Đóng góp khoa học và ý nghĩa của đề tài
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
vận dụng vào thực tiễn giáo dục lý luận chính trị và làm tài liệu tham khảo
cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này trong học tập và nghiên cứu.
Góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục lý
luận chính trị trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
độ tư duy trừu tượng, hệ thống hóa và khái quát hóa để tìm ra bản chất của sự
vật, hiện tượng, phát hiện ra đặc điểm, mối liên hệ xu hướng vận động và phát
triển của các sự vật, hiện tượng đó trong thế giới khách quan.
Với nghĩa rộng, lý luận là một dạng hoạt động của con người, nhằm thu
nhận tri thức về hiện thực tự nhiên, xã hội và cùng với thực tiễn tạo thành
hoạt động tổng thể của xã hội.
Với nghĩa hẹp, lý luận là một dạng tri thức khoa học đáng tin cậy về một
tổng thể các khách thể nào đó. Nó là hệ thống những luận điểm gắn bó chặt
chẽ với nhau về mặt lô gíc và phản ánh bản chất các quy luật hoạt động, phát
triển để nghiên cứu.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Lý luận là tổng kết có hệ thống những kinh
nghiệm của loài người phát sinh từ thực tiễn để chi phối và cải tạo thực tiễn”,
[55, tr.496].
Từ điển Triết học đã định nghĩa: “Lý luận là sự tổng hợp các tri thức về
10
tự nhiên và xã hội tích luỹ được trong quá trình lịch sử”; là “hệ tư tưởng chủ
đạo trong một lĩnh vực tri thức” [56, tr.526].
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài
người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá
trình lịch sử” [39, tr.497]. Mọi lĩnh vực đời sống tự nhiên, xã hội, tư duy khi
đã trở thành nghiên cứu của con người thì kết quả của quá trình nghiên cứu ấy
đều được thể hiện dưới hình thức tri thức lý luận với trình độ khái quát hóa
nhất định. “Lý luận hiểu theo nghĩa chung nhất là các khái niệm, phạm trù,
quy luật đươc khái quát từ nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn của
con người. Lý luận là kết quả nhận thức chủ quan của con người về những
hiện tượng khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy” [12, tr.183].
Từ những quan niệm trên, lý luận được hiểu là hệ thống tri thức được
tưởng của giai cấp cầm quyền nhằm duy trì sự thống trị của mình đối với xã
hội. Đến đây, cho phép chúng ta hiểu khái quát chính trị theo một nghĩa tổng
quát như sau: Chính trị là những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc
những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều
hành Nhà nước. Như vậy chính trị là chủ thể của kiến trúc thượng tầng có
chức năng xử lý và điều tiết các mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp, các dân
tộc giữa các quốc gia.
- Lý luận chính trị
Với góc độ tiếp cận khái niệm lý luận và khái niệm chính trị ở trên, ta
có thể hiểu khái niệm lý luận chính trị như sau: Lý luận chính trị là lý luận
trong lĩnh vực chính trị. Lý luận chính trị ra đời khi xã hội có giai cấp và đấu
tranh giai cấp để đại diện cho lợi ích của một Đảng, một giai cấp nhất định
trong xã hội. Lý luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ trương đường
lối, chính sách của một Đảng, một giai cấp để giành, giữ và thực thi quyền lực
Nhà nước.
Như vậy lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận chính trị của giai
cấp vô sản, là hệ tư tưởng chân chính nhất của giai cấp vô sản và chính đảng
của nó - Đảng Cộng sản.
12
LLCT là hệ thống tri thức về lĩnh vực chính trị thể hiện thái độ và lợi
ích giai cấp đối với quyền lực nhà nước trong xã hội có giai cấp, là kết quả
của hoạt động nghiên cứu khoa học và thực tiễn chính trị của nhiều người,
qua nhiều thế hệ. Chẳng hạn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là bộ phận
nền tảng, cốt lõi trong lý luận chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công để
xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh - xã hội chủ nghĩa. Đó chính là
lý luận của giai cấp vô sản được xây dựng dựa trên sự kế thừa có phê phán hệ
trong quá trình đổi mới vừa qua.
Có thể nói, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam. Thực tế cách mạng Việt
Nam cũng đã chứng minh rằng, khi nào chúng ta vận dụng nhuần nhuyễn và
sáng tạo hệ thống lý luận này thì gặt hái được nhiều thành quả và ngược lại.
Trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhờ vận dụng sáng tạo lý luận này mà chúng
ta đã đánh bại các thế lực thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai; từ một nước thuộc
địa, bị xâm chiếm, chia cắt trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất đang
trên đà phát triển. Trong thời kỳ cả nước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa, đã có lúc chúng ta vận dụng chưa đúng chủ nghĩa mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh nên đã có giai đoạn rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài
(1975-1985). Sau đó cũng chính nhờ sự nhận thức đúng đắn về vai trò nền tảng
của lý luận này và vận dụng sáng tạo nó trong thực tiễn mà chúng ta đã đưa đất
nước thoát khỏi khủng hoảng và từng bước phát triển vững chắc.
Vì nắm vững tinh thần cốt lõi chủ nghĩa Mác - Lênin, thấm nhuần sâu
sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, nên từ khi ra đời đến nay Đảng ta đã đưa cách
mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và cùng với việc ban
hành được những chủ trương, chính sách, mang tính đúng đắn, khoa học, cách
mạng hợp lòng dân.
1.1.1.2. Khái niệm giáo dục lý luận chính trị
- Giáo dục
14
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm giáo dục do
xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, chẳng hạn như trong Từ điển tiếng
Việt khi coi giáo dục là một động từ thì nó được hiểu "là hoạt động nhằm tác
động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối
tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm hình
thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, phương
pháp tư duy và phương pháp làm việc biện chứng, khoa học, góp
phần nâng cao và phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của các
chủ thể chính trị trong xã hội trong hoạt động thực tiễn [40, tr.332]
Các khái niệm trên đều chỉ ra một cách rõ ràng, cụ thể các yếu tố chủ thể,
khách thể, nội dung, mục tiêu của GDLLCT. Từ đó những hoạt động GDLLCT
không chỉ được xem là nhận thức mà còn là hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện
hóa nhận thức LLCT. Vì thế hoạt động LLCT được nâng lên một tầm cao hơn
không chỉ nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng vận dụng sáng tạo, tính tích cực
cho đối tượng mà còn cho cả chính chủ thể của hoạt động GDLLCT.
Đặc trưng của GDLLCT là một hoạt động mà chủ thể giáo dục là Đảng,
Nhà nước, trực tiếp là đội ngũ cán bộ giảng dạy LLCT trong hệ thống giáo
dục của Đảng, Nhà nước và đối tượng người học là cán bộ, đảng viên và quần
chúng nhân dân.
Mục đích của GDLLCT nhằm trang bị thế giới quan khoa học, nhân
sinh quan cộng sản, phương pháp tư duy, phương pháp làm việc biện chứng
và tính tích cực chính trị - xã hội cho người học.
Nội dung của GDLLCT là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Phương pháp của GDLLCT là phương pháp sư phạm, tức là cách thức
truyền thụ kiến thức và giáo dục đối tượng của chủ thể giáo dục lý luận chính trị.
Từ khái niệm và đặc trưng của giáo dục lý luận chính trị, ta có thể xác
định: Giáo dục lý luận chính trị là hoạt động truyền bá những nguyên lý, lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính
sách của Đảng, nhà nước cho cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân,
17
18
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, đối với cán bộ giảng dạy cái cần trước hết
là phải giỏi về chuyên môn. Vì không giỏi chuyên môn sẽ đem lại cho người
học những điều vô ích, có hại. Sau đó là đạo đức của người làm thầy. Do đó,
đối với cán bộ giảng dạy LLCT "người huấn luyện của đoàn thể", Người yêu
cầu họ phải là người kiểu mẫu về đạo đức, tư tưởng, tác phong. Theo Người,
người giáo viên dạy cho người học không chỉ là truyền thụ cho họ những kiến
thức về chuyên môn, mà phải giúp họ trao dồi, rèn luyện cả về đạo đức, tư
tưởng. Đối với cán bộ lãnh đạo thì đây lại là tiêu chuẩn hàng đầu. Để người
học tin, nghe theo thì người thầy phải là tấm gương sáng về nhiều mặt:
Một là, phải đáp ứng được mọi yêu cầu trong công tác giảng dạy của
đơn vị, trong mọi điều kiện và mọi phương thức đào tạo. Đặc biệt, trong điều
kiện hiện nay, khi nhu cầu giáo dục - đào tạo ngày càng được nâng cao, các
phương thức giáo dục mở ra hết sức phong phú đa dạng, yêu cầu trên đặt ra
hết sức cấp thiết. Muốn đáp ứng được yêu cầu này đòi hỏi phải có một đội
ngũ giảng viên vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, gương mẫu về đạo đức
Hai là, phải đảm bảo tính liên tục trong đội ngũ cán bộ giảng dạy, giữ
vững tính kế tục, ổn định về chuyên môn. Vì thế, bên cạnh đội ngũ giảng viên
có kinh nghiệm, những nhà khoa học đầu đàn, phải có cả những lớp giảng
viên trẻ. Đây chính là hàng ngũ kế cận, đảm bảo tính liên tục trong đội ngũ
giảng viên.
1.1.1.4. Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành giáo dục
- Cán bộ
Về cán bộ, Hồ Chí Minh đã từng đưa ra khái niệm rất cụ thể. Theo
Người, cán bộ là "người đem đường lối chính sách của Đảng, của Chính phủ
giải thích cho dân chúng được rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của
dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho
đúng" [36, tr.269]. Như vậy, theo Hồ Chí Minh, cán bộ là lực lượng nòng cốt
20
(khách thể) theo những yêu cầu nhất định. Vậy thì quản lý theo từ điển tiếng
Việt là: “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất
định” [41, tr.772].
Nếu xét về mục tiêu, nội dung, phương pháp thì có sự khác nhau căn
bản giữa hai khái niệm trên.
Về mục tiêu: Hoạt động lãnh đạo là hoạt động định hướng chung, còn
hoạt động quản lý là hoạt động tổ chức sắp xếp các vấn đề theo một trật tự
nhất định nhằm đạt hiệu quả cao nhất các quyết định của lãnh đạo.
Về nội dung: Hoạt động lãnh đạo là đề ra những quan điểm, chủ
trương, đường lối, hoạch định các kế hoạch mang tính chất định hướng chung.
Còn hoạt động quản lý là xây dựng những phương án, chỉ tiêu, kế hoạch cụ
thể, tổ chức lực lượng để thực thi nhiệm vụ.
Về phương pháp: Hoạt động lãnh đạo chủ yếu dùng phương pháp giáo
dục, thuyết phục, động viên, cổ vũ nhằm phát huy tính tự giác của đối tượng.
Còn hoạt động quản lý là sử dụng mệnh lệnh, mang tính nguyên tắc bắt buộc
với những chế tài biện pháp hành chính nhất định.
Hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý tuy là hai khái niệm khác
nhau, nhưng chúng có đặc trưng giống nhau, chúng đều là quá trình chủ thể
có quyền uy tác động đến đối tượng là những người dưới quyền để thực hiện
một nhiệm vụ nào đó theo những yêu cầu và mục đích định trước. Trong thực
tế, hoạt động lãnh đạo cũng đồng thời thực hiện chức năng quản lý, và ngược
lại hoạt động quản lý cũng đồng thời thực hiện chức năng lãnh đạo.
Như vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý là khái niệm chỉ những người đứng
đầu phụ trách các đơn vị, một tổ chức phong trào nhất định (nào đó) do bầu
cử hoặc do bổ nhiệm.
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành giáo dục
cũng như quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị mình. Đại hội đại