Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên - Pdf 44

Bộ giáo dục và đào tạo

bộ nông nghiệp và PTNt

Trường đại học lâm nghiệp
----------------------------------

Trần quang phục

điều tra, đánh giá và đề xuất giảI pháp khai thác,
sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển
kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều
ở 3 xã vùng đệm (tà long, húc nghì và a bung) thuộc
khu bảo tồn thiên nhiên đakrông - tỉnh quảng trị

luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà Nội - 2008


Bộ giáo dục và đào tạo

bộ nông nghiệp và PTNt

Trường đại học lâm nghiệp
----------------------------------

Trần quang phục

điều tra, đánh giá và đề xuất giảI pháp khai thác,
sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển

kinh tế, khoa học và văn hoá. Khu bảo tồn thiên nhiên Đakông là vùng rừng
phòng hộ đầu nguồn, cung cấp và điều tiết nước cho sông Đakrông và sông
Thạch Hãn, điều hoà nguồn nước vùng hạ lưu. Dân cư sinh sống xung quanh
khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông gồm nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau,
trong đó, dân tộc Vân Kiều và Pa Kô là hai dân tộc chiếm số lượng lớn (80%).
Tà Long, Húc Nghì và A Bung là 3 xã nằm trong vùng đệm của Khu bảo tồn
thiên nhiên Đakrông gồm 4 dân tộc Vân Kiều, Pa Hy, Pa Kô và Kinh cùng
sinh sống. Đây là khu vực vẫn còn độ che phủ rừng khá cao, hệ động, thực vật
tương đối phong phú đa dạng cả về thành phần loài và nơi sống. Canh tác
nông nghiệp là phương thức sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc trong
vùng, bên cạnh đó khai thác lâm sản đóng vai trò đáng kể trong thu nhập của
các hộ nghèo trong cộng đồng. Nền sản xuất còn lạc hậu, trình độ văn hoá và
nhận thức về tự nhiên chưa cao dẫn đến khai thác và sử dụng tài nguyên rừng


2
không có tổ chức. Tuy nhiên, những hiểu biết và kinh nghiệm sử dụng thực vật
của cộng đồng người Vân Kiều và Pa Kô mang nhiều nét độc đáo và sắc thái
riêng. Cho tới nay, mới chỉ có một số nghiên cứu sơ bộ về sử dụng thực vật
làm thuốc. Các nhóm cây có ích khác như cây cho chất nhuộm màu, cây lấy
sợi, cây sử dụng làm thực phẩm...gần như chưa được quan tâm, nghiên cứu.
Vì vậy, việc "Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử
dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của
đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều ở 3 xã vùng đệm (Tà Long, Húc
Nghì và ABung) thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông - Tỉnh Quảng
Trị", tham gia xoá đói giảm nghèo, duy trì, bảo tồn đa dạng sinh học, tri thức
bản địa và bản sắc văn hoá dân tộc.


3

nhà nghiên cứu đã mô tả sự phụ thuộc của đời sống vật chất, tinh thần của các
cộng đồng dân cư vào giới thực vật địa phương, đã đưa ra các luận chứng khoa
học về bảo tồn, truyền thống văn hoá của các cộng đồng trên cơ sở cùng tồn
tại hài hoà với giới thực vật [9].
Năm 1978 là thời kỳ có sự thay đổi lớn nhất về nghiên cứu Thực vật dân
tộc học, Rechard Ford đưa ra quan niệm Sự tổng hợp mới của Thực vật dân
tộc học [47]. Theo quan niệm này, các nhà thực vật dân tộc học cần phải có
năng lực để nhận biết các loài cây có ý nghĩa gì làm cơ sở cho sự phân chia
chúng trên cơ sở các nền văn hoá khác nhau. Xác định được dân cư của các
nền văn hoá đã nhận thức chúng, sử dụng chúng và phụ thuộc vào chúng như
thế nào. Để thực hiện được các nội dung của mình, Thực vật dân tộc học đã
thực sự trở thành một bộ môn khoa học đa ngành, vì thế nó cũng chấp nhận
nhiều lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác có
liên quan như thực vật học, dược học, hóa học, khảo cổ học.
1.2. Tình hình nghiên cứu cây có ích trên Thế giới và Việt Nam.
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về cây có ích trên thế giới
1.2.1.1. Cây có ích trong đời sống nhân loại.
Lịch sử phát triển, tiến hoá của loài người gắn liền với quá trình sử dụng
tài nguyên thiên nhiên trên trái đất, trong đó, cây cỏ luôn là đối tượng được
con người sử dụng đầu tiên và nhiều nhất. Ban đầu chỉ là để đáp ứng các nhu
cầu về cái ăn và nơi cư trú. Nhưng dần dần trong quá trình tiến hoá, con người
lại biết gieo trồng, chăm sóc, thu hái, cất giữ và chế biến những loại cây mang
lại nhiều lợi ích cho đời sống của mình. Để thích nghi và tồn tại, con người
phải chống chịu với thiên nhiên lúc này xuất hiện nhu cầu về thuốc chữa bệnh
và chất độc để săn bắt. Vì vậy, vai trò của cây cỏ gần như bao trùm toàn bộ
đời sống con người (lương thực - thực phẩm, nơi cư trú, thuốc, may mặc, săn
bắt và cả các nghi lễ tôn giáo).


5

6
khô cho vào chiếc gối để gối đầu (Hương chẩm) để điều trị đau đầu, mất ngủ,
cao huyết áp.
ở châu Âu, vào những năm 1960 cũng đã phát triển phương pháp dùng
hương thơm chữa bệnh (Phương hương tễ liệu pháp - Aromathérapie) là một
bộ phận của Hoa trị liệu pháp. Thời kỳ đầu của giai đoạn này, giới Y học Pháp
vô tình phát hiện một hiện tượng đặc biệt: Các nữ công nhân trong xưởng
nước hoa không ai bị bệnh phổi. Xưởng chế tạo đó sau này trở thành xưởng
sản xuất hoá học về chất thơm từ thực vật và chế tạo nước hoa [11].
Ngoài tác dụng chữa bệnh, hoa còn là một nhân tố quan trọng trong văn
hóa ẩm thực đồng thời đề bồi bổ sức khoẻ. Dùng hoa làm thức ăn (Hoa
thực) là một môn nghệ thuật với các cách chế biến khác nhau thành các
món ăn vừa có màu sắc- mùi vị hấp dẫn, tăng hứng thú vị giác, thị giác và
khứu giác. Y học hiện đại đã chứng minh màu sắc của hoa có tác dụng nhất
định đối với điều tiết chức năng chuyển hoá trong cơ thể. Hoa Kim cúc có
tác dụng giải độc...
Màu sắc của thức ăn nói chung và của hoa nói riêng có tác dụng làm cho
ngon miệng (thực dục) và còn có tác động đến tâm sinh lý: màu đỏ làm
tăng hưng phấn thần kinh trong bữa ăn; màu vàng làm cho thích ăn, vui vẻ;
trên bàn ăn có hoa màu trắng làm cho người ăn có cảm giác thong thả, thư
giãn; màu xanh lục làm cho hô hấp và mạch đập ổn định, hạ huyết áp một
cách tương đối.
Sử dụng thực vật gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Trải qua
hàng nghìn năm, một số lượng lớn các loài thực vật bậc cao đã và đang được
con người sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Theo thống kê của UNESCO năm
1992, ở các vùng nông thôn của các nước đang phát triển, các sản phẩm làm
lương thực- thực phẩm có nguồn gốc thực vật chiếm tỷ lệ 90- 93%; các sản
phẩm làm thuốc có tỷ lệ là 70- 80%. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới
(WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số




8
lớn cho nhiều ngành và đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của nhân loại.
Sản xuất sản phẩm mới trên cơ sở ứng dụng thực vật dân tộc có nhiều lợi thế.
Đối với thực phẩm, đó là các loại sản phẩm ăn được của các cộng đồng trải
qua nhiều thế hệ nên có độ an toàn cao; đối với các nghiên cứu sàng lọc và sản
xuất các loại thuốc chữa bệnh mới trên cơ sở tri thức dược học dân tộc sẽ cho
hiệu suất cao. Hiệu xuất nghiên cứu sản xuất thuốc mới từ cây thuốc dân tộc
là 1/125, trong khi đó hiệu xuất sản xuất thuốc mới theo phương pháp tổng
hợp hóa học ngẫu nhiên là 1/10.000 (Farnsworth, in Chadwick and Marsh,
1994). Đối với các sàng lọc các loài cây thuốc kháng HIV thì hiệu quả từ kinh
nghiệm dược học dân tộc là 1/5 trong khi sàng lọc ngẫu nhiên là 1/18 (Balick
Michael J. , 1990) [9], [52].
Trên cơ sở các nghiên cứu về tri thức và kinh nghiệm sử dụng của các
dân tộc trên thế giới, nhiều sản phẩm có giá trị đã được sản xuất phục vụ nhu
cầu của con người. Từ kinh nghiệm sử dụng vỏ cây mận châu Phi (Pygeum
africanum) của thổ dân Đông Phi, các nhà khoa học Mỹ đã sản xuất thuốc
Pygeum điều trị bệnh phì đại tuyến tiền liệt [9]. Trên cơ sở kinh nghiệm sử
dụng cây Nhàu (Quả Noni - Morinda citrifolia) làm thuốc và dùng trong các
bữa ăn kiêng của cư dân bản địa ở đảo Tahiti, các nhà khoa học Mỹ đã tìm ra
các giá trị chữa bệnh và dinh dưỡng của cây này. Tập đoàn Tahition Noni
International (TNI) đã ứng dụng các kết quả nghiên cứu để sản xuất các loại
nước ép trái cây, mặt hàng này đã giúp cho TNI trở thành tập đoàn hàng đầu
thế giới về nước ép trái cây. Từ kinh nghiệm sử dụng cây Butea superba của
các dân tộc ở Thái Lan, các nhà dược học Thái đã nghiên cứu và sản xuất
thành công loại thuốc tăng lực cho nam giới [51]. Hiện nay, trên thị trường thế
giới xuất hiện nhiều sản phẩm mới được sản xuất trên cơ sở các nghiên cứu
Thực vật dân tộc học. Thuốc điều trị tiểu đường từ cây Bằng lăng nước, thuốc
điều trị yếu sinh dục nam từ cây Bách bệnh, cây Gai chông, thuốc nhuộm tóc

Dương của Lecomte xuất bản từ cuối thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 19, bộ sách này
đã thống kê được hơn 7000 loài thực vật, bộ sách Danh mục các sản phẩm ở


10
Đông Dương của Ch. Crévost và A. Pételot năm 1935, Bộ sách này chỉ thống
kê khoảng 1340 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc dùng trong y học ở ba nước
Đông Dương [26].
Năm 1952 A. Pételot tái bản có bổ sung và đặt tên mới là Những cây
thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam (Les Plantes Medicinales du
Cambodge, du Laos et du Vietnam) gồm 4 tập, 1050 trang. Đây là một bộ
sách đồ sộ về dược liệu vào thời kỳ đó, liệt kê 1480 loài thực vật tuy nhiên về
mô tả, phân bố, thành phần hoá học và đặc tính dược lý thì chưa được hoàn
thiện đầy đủ [24].
Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ
Cây cỏ Việt Nam, trong đó có nêu công dụng làm thuốc của nhiều loài thực
vật. Năm 1965, Đỗ Tất Lợi cho xuất bản bộ sách Những cây thuốc và vị
thuốc Việt Nam. Bộ sách này ngày càng được hoàn thiện và thể hiện được
giá trị của nó. Đến nay đã tái bản có bổ sung tới lần thứ 9 (năm 2000) với
khoảng 800 cây và vị thuốc [24].
Tác giả Trần Khắc Bảo năm 1991 thống kê các nhóm cây có ích của Việt
Nam: Cây tinh dầu: 500 loài, trong đó có đến 160 loài có giá trị kinh tế cao;
nhóm cây có tanin khoảng 600 loài, cây thuốc khoảng 1850 loài. Tác giả nêu
tầm quan trọng của việc bảo tồn nguồn gen thực vật nói chung và nguồn gen
cây thuốc nói riêng.
Võ Văn Chi (1991) đã biên soạn Từ điển cây thuốc Việt Nam gồm
3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa là 2.500 loài thuộc 1050 chi,
được xếp vào 230 họ thực vật theo hệ thống của A.L. Takhtajan. Tác giả đã
giới thiệu sơ bộ về nhận dạng, bộ phận sử dụng, nơi sống, cách thu hái, thành
phần hoá học, tính vị và công dụngcủa tổng loài thực vật [12].

Việc phân nhóm các cây có ích ở Việt Nam cũng có nhiều quan
điểm khác nhau, hầu hết là tiếp thu các hệ thống của Liên Xô (cũ) như hệ
thống Tasken, 1935 (hệ thống được đề xuất tại hội nghị tài nguyên thực
vật ở Tasken năm 1935), hệ thống của Pavlopski năm 1942 hay hệ thống


12
của M. M. Ilin năm 1948. Các hệ thống này đều dựa vào mục đích sử
dụng chính như dùng trong công nghiệp, nông nghiệp, sử dụng tự nhiên,
nhưng giữa các hệ thống không có sự đồng nhất. Năm 1969, Phan Kế
Lộc đã đưa ra hai sơ đồ phân loại cây tài nguyên ở miền Bắc Việt Nam.
Một sơ đồ tác giả dựa vào chất có ích, bộ phận trong cơ thể thực vật được
sử dụng làm căn cứ, sơ đồ còn lại tác giả lại căn cứ vào mục đích sử dụng
để phân chia [26].
Gần đây, các nhà thực vật trong quá trình biên soạn bộ Tài nguyên thực
vật Đông Nam á đã đi tới thống nhất phân chia các loài cây có ích theo giá
trị sử dụng và các sản phẩm mà thực vật cung cấp. Đây là cách phân chia thể
hiện được tính khách quan, tính thực tiễn và tránh được nhiều nhược điểm mà
các tác giả trước mắc phải [26].
1.2.2.2. Tình hình nghiên cứu các nhóm cây có ích ở Việt Nam.
Nghiên cứu thực vật dân tộc ở Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
bởi nước ta có tới 54 dân tộc anh em sinh sống ở khắp các vùng trong cả nước.
Mỗi dân tộc sinh sống ở mỗi khu vực khác nhau có nguồn tài nguyên khác
nhau nên tri thức về sử dụng thực vật cũng khác nhau. Mặt dù vậy cho tới nay,
chúng ta chưa có điều kiện để điều tra, tư liệu hoá hệ thống tri thức về sử dụng
thực vật quý giá của mình. Đã có những nghiên cứu nhưng còn nhỏ lẻ và chủ
yếu tập trung vào nhóm cây thuốc dân tộc, còn các nhóm cây khác gần như
chưa được đầu tư [9].
Để khai thác một cách hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốc
Việt Nam, trong vòng 10 năm qua các ngành Y tế, Lâm nghiệp và Sinh học đã

đích chữa bệnh cụ thể như Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005. Đã tiến hành điều
tra, sàng lọc các cây thuốc dân tộc có khả năng chữa bệnh ung thư [40], từ
kinh nghiệm chữa bệnh truyền thống của dân tộc Tày.
Trần Huy Thái và cộng sự (2007) đã nghiên cứu tách chiết và thử hoạt
tính chống ung thư từ cây Mộc hoa trắng (Holarrhema pubescens). Các tác


14
giả đã phân lập và xác định được 8 hợp chất hoá học và thử hoạt tính phòng
chống khối u ở chuột [36].
Ninh Khắc Bản và cộng sự (2007) đã nghiên cứu tạo sản phẩm thiên hoa
phấn có hàm lượng protein bất hoạt Ri bô xôm (RIP) cao từ một số loài trong
chi Qua lâu. Các tác giả đã phân lập được 3 chất TK1, TK2 và TK3 từ loài
Qua lâu (Trichchossanthes kirilowii và Trichchossanthes rosthornii ). Các chế
phẩm tạo được có hoạt tính kháng các dòng tế bào ung thư gan, ung thư màng
tử cung và ung thư màng tim. Sản phẩm thiên hoa phấn của đề tài có tác dụng
chống virut cường độc gumboro [1]
Các nhà khoa học của trường Đại học Dược Hà Nội đã sản xuất thành
công thuốc chữa bệnh đau dạ dày từ cây chè dây (Ampenopsis cantonensis),
viện Hoá học các hợp chất Thiên nhiên sản xuất được thuốc chữa viêm loét dạ
dày từ củ nghệ (Curcuma longa).
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cũng đã có những thành công bước
đầu trong việc nghiên cứu thuốc chữa ung thư tuyến tiền liệt từ bài thuốc
truyền thống của người Tày ở Cao Bằng,
Viện Y học Cổ truyền Trung ương cũng đang có nhiều nghiên cứu về các
bài thuốc dân tộc như: bài thuốc chữa sỏi thận, chữa viêm gan [9].
Một số nhóm cây có ích khác được nghiên cứu đến nhưng với quy mô
nhỏ, chưa đầy đủ như nhóm cây có chất màu - trong đó có chất nhuộm màu
thực phẩm; nhóm cây có chất độc, cây lấy sợi, có thể kể đến một số đề tài đã
và đang được thực hiện trong các hướng này như: Điều tra phân bố chất màu


16

H×nh 1.1: B¶n ®å Khu b¶o tån thiªn nhiªn §akr«ng


17
1.3. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực
nghiên cứu.
1.3.1. Xã A Bung
A Bung là một xã biên giới, nằm phía cực nam của huyện miềm núi
Đakrông tỉnh Quảng Trị.
Phía Đông giáp: Xã Húc Nghì
Phía Tây giáp: Nước CHDCND Lào
Phía Nam giáp: Huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế
Phía Bắc giáp: Xã A Ngo
Với lợi thế nằm trên trục đường Hồ Chí Minh, lại có tuyến biên giới
chung với nước bạn Lào, nên có nhiều thuận lợi trong nền kinh tế thương mại.
Địa hình của xã bị chia cắt phức tạp gồm những dãy núi cao, phía bắc bị
chắn bởi dãy động Kakava cao 672 m và động APông cao 1017 m. Phía đông
bị chắn bởi động Ka Pút cao 1405 m. Phía nam là những dãy núi nhỏ hẹp chạy
dọc theo sông Đakrông thành những bản làng quần cư.
A Bung chịu ảnh hưởng của khí hậu tây Trường Sơn, nhiệt độ quanh năm
khá cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng 260C. Nhiệt độ cao thời tiết khô hạn
dẫn đến thiếu nước sinh hoạt và thiếu nước để canh tác nông nghiệp.
Diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 14.647.07 ha, bao gồm những nhóm
đất chính sau: Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs), đất nâu tím trên đá sét (Fe), đất đỏ
vàng trên đá biến chất (Fj)...
Toàn xã có 432 hộ với 2251 khẩu. Tổng số lao động 1337 người. Lao
động tập trung chủ yếu ở khối sản xuất nông nghiệp (chiếm 93%), đây là

có độ cao từ 200 - 400m so với mực nước biển, thích hợp cho phát triển nông
nghiệp và trồng rừng theo mô hình nông lâm kết hợp.
Xã Tà Long chịu ảnh hưởng của khí hậu Tây trường sơn, thể hiện rõ tính
chất nhiệt đới nóng ẩm với nền nhiệt cao hầu như quanh năm. Nhiệt độ trung
bình hàng năm 25 - 300C, vào tháng 4, 5, 6 nhiệt độ lên đến 37- 380C, tháng


19
12, 1, 2 nhiệt độ xuống còn 17 - 180C. Lượng mưa trung bình năm 2260mm
nhưng phân bố không đồng đều, tháng 8 có lượng mưa lớn nhất khoảng
320mm, tháng 3, 4 có lượng mưa thấp nhất.
Gió Tây khô nóng thịnh hành từ tháng 4 - 9, từ tháng 5 - 8 có gió Nam.
Hệ thống sông suối trên địa bàn gồm Sông Đakrông, Suối Xi pa, Suối Pa
Ngàn, Suối Làng An, là nguồn cung cấp nước khá phong phú phục vụ sản
xuất và sinh hoạt của người dân trong xã.
Diện tích đất lâm nghiệp cả xã là 10.664,5 ha. Trong đó rừng tự nhiên
10.390 ha, rừng trồng 274,5 ha. Tỷ lệ che phủ của rừng 57,29%, rừng tự nhiên
chủ yếu là rừng đặc dụng 5.237 ha chiếm (50,4%), rừng phòng hộ 1884 ha,
còn lại là rừng sản xuất 3269 ha.
Toàn xã có 422 hộ với 2569 khẩu, có tổng số lao động 1101 người. Tiềm
năng lao động lớn nhưng chất lượng lao động nhìn chung thấp, đại bộ phận là
lao động phổ thông, trình độ sản xuất lạc hậu.
Dân tộc Vân Kiều chiếm 82.26%, Pa Hy chiếm 10,66%, Pa Kô chiếm
0,71% còn lại là dân tộc kinh chiếm 2,37%. Hầu hết đồng bào dân tộc vẫn
sống dựa vào rừng là chính.
Diện tích lúa nước: 104 ha, lúa rẫy: 260 ha, ngô: 116,5 ha, sắn: 85,4 ha,
rau các loại: 13,6 ha, đậu các loại: 11,6 ha, lạc: 11ha, cây ăn quả (chuối, dứa):
29,1 ha, cây công nghiệp dài ngày (cà phê, hồ tiêu): 31,75 ha.
Toàn xã có 512 con trâu; Bò 326 con; Dê 270 con; Lợn 367 con, tổng đàn
gia cầm 2985 con.

93,73%, năng suất bình quân 19,12 tạ/ha/năm. Ngô (36 ha), năng suất bình
quân 9,3 tạ/ha/năm. Sắn (21 ha), năng suất bình quân 89,5 tạ/ha/năm. Lạc
(5,5ha), năng suất bình quân 10 tạ/ha/năm. Cây ăn quả (Chuối, dứa, cam
quýt,..) 19,1 ha. Cây công nghiệp dài ngày gồm cà phê, hồ tiêu (17,6 ha).
Về lâm nghiệp, trong những năm qua, toàn xã đã triển khai trồng rừng
được là 11,9 ha, trong đó một phần là do dự án đầu tư và một phần là do người
dân tự bỏ vốn để trồng.


21
Trên địa bàn xã hiện có 1 tuyến đường quốc lộ đi qua, các tuyến đường
liên thôn, đường lâm nghiệp đa số là đường đất nên chỉ đi lại được trong mùa
khô, còn mùa mưa thì việc đi lại rất khó khăn.
Toàn xã có 01 trường phổ thông cơ sở nằm ở thôn Húc Nghì và 03 trường
mầm non ở 3 thôn: Húc Nghì, Là Tó và thôn 37. Xã có 01 trạm y tế, trong đó
2 y sỹ và 1 nữ hộ sinh, cùng với sự giúp đỡ của cán bộ huyện.
1.3.4. Nhận xét và đánh giá chung về khu vực nghiên cứu
- Thuận lợi
Có tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua, đây là lợi thế cho việc đi lại, phát
triển kinh tế và giao lưu văn hóa.
Nguồn lao động khá dồi dào, khả năng tiếp thu và áp dụng các tiến bộ
khoa học kỷ thuật vào sản xuất đã được phát triển tạo ra khâu đột phá trong sản
xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác, góp phần làm tăng lượng lương
thực đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của xã.
Thảm thực vật rừng ở đây có tỷ lệ che phủ cao, mang một ý nghĩa lớn và
đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước,
chống xói mòn đất, đặc biệt là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài sinh
vật trong khu vực.
Trong khu vực có Lâm trường và Hạt kiểm lâm hoạt động tích cực đã hỗ
trợ rất nhiều cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

của đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều trong khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên cây có ích,
nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn tri thức thực vật của dân tộc
Pa Kô và Vân Kiều ở các xã đã lựa chọn.
2.2. Đối tượng nghiên cứu.
- Các loài cây có ích được đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều huyện
Đakrông sử dụng.
- Tri thức và kinh nghiện về sử dụng thực vật của đồng bào dân tộc Pa Kô
và Vân Kiều huyện Đakrông.
2.3. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã Tà Long, Húc Nghì và A Bung
thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông - Quảng Trị
2.4. Nội dung nghiên cứu
Đánh giá về thu nhập của các hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu.
Điều tra về thành phần loài cây có ích được đồng bào dân tộc Pa Kô và
Vân Kiều khai thác sử dụng.
Điều tra kinh nghiệm và tri thức truyền thống của dân tộc Pa Kô và
Vân Kiều về sử dụng các loài cây có ích.
Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài cây có ích ở khu
vực nghiên cứu.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status