DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH
1. CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
TS. ĐOÀN NGỌC KHÔI
2. CÁC CÁ NHÂN THAM GIA THỰC HIỆN CHÍNH
STT HỌ VÀ TÊN
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC
CHỮ KÝ
1
TS. Nguyễn Diên Xướng Trường Đại học Phạm Văn Đồng
2
CN. Phan Đình Độ
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
1
2
LỜI CẢM ƠN
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI VÀ CÁC THÀNH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CHÂN
THÀNH CÁM ƠN CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐỀ TÀI: SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ QUẢNG NGÃI, CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: LIÊN HIÊP CÁC HỘI
KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT ĐÃ TẬN TÌNH TẠO ĐIỀU KIỆN CHO CHÚNG
TÔI THỰC HIỆN HOÀN THÀNH ĐỀ TÀI NÀY. CÁM ƠN SỞ VĂN HÓA,
THỂ THAO VÀ DU LỊCH, CÁM ƠN CÁC CƠ QUAN VÀ CÁ NHÂN TẠI ĐỊA
BÀN KHẢO SÁT ĐÃ GIÚP ĐỠ CUNG CẤP TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU.
3
III. Tình hình nghiên cứu và áp dụng tri thức bản địa vào thực tiễn
tr.15
CHƯƠNG II MỘT SỐ GIÁ TRỊ TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG TRỒNG TRỌT
tr.22
I. Tri thức bản địa trong nông nghiệp lúa rẫy
tr.22
II. Tri thức bản địa trong nông nghiệp trồng lúa nước
tr.29
1. Tri thức bản địa trong nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng
tr.29
2. Tri thức bản địa trong nông nghiệp trồng lúa nước ở miền núi
tr.38
III. Tri thức bản địa trong trồng trọt khai thác các loại cây đặc trưng
tr.44
1. Tri thức bản địa trong trồng trọt khai thác cây dầu rái
4
IV. Tri thức bản địa trong kỹ thuật dệt vải ở người Hrê và dệt chiếu ở người
Việt
tr.109
CHƯƠNG IV TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN
I. Tri thức bản địa trong xây dựng quản lý khai thác thuỷ lợi miền núi
tr.125
II. Tri thức bản địa trong xây dựng quản lý khai thác thuỷ lợi vùng đồng bằng tr.135
III. Tri thức bản địa trong quản lý khai thác rừng cấm ở đồng bằng
tr.156
IV. Tri thức bản địa trong quản lý khai thác rừng ở miền núi
tr.163
CHƯƠNG V GIÁ TRỊ TRI THỨC BẢN ĐỊA – HƯỚNG BẢO TỒN PHÁT HUY.
I. Vai trò vị trí của tri thức bản địa
tr.175
tr.196
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN
tr.201
5
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Tính cấp thiết của đề tài: Trong giai đoạn hiện nay vấn đề đặt ra để phát
triển bền vững luôn cần phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa tri
thức bản địa của cộng đồng và tri thức khoa học. Tri thức bản địa đã và đang góp
phần quan trọng trong việc ổn định đời sống cộng đồng, do đó cần thiết phải nghiên
cứu bảo tồn và phát huy giá trị tri thức bản địa. Hiện nay Quảng Ngãi là tỉnh đang
phát triển mạnh mẽ về kinh tế đương nhiên các chương trình phát triển, các chính
sách dự án luôn có sự tác động đến mọi mặt đời sống xã hội do đó cần phải nghiên
cứu tri thức bản địa của cộng đồng mà các kết quả nghiên cứu góp phần vào việc phát
triển bền vững, ổn định đời sống cộng đồng.
2. Mục tiêu của đề tài: Mục tiêu đề tài được xác định với hai vấn đề cơ bản:
- Nghiên cứu một số giá trị tri thức bản địa của tỉnh Quảng Ngãi đã có trong
quá khứ, tiếp diễn trong hiện tại và đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị vai trò quan
trọng trong đời sống cộng đồng.
-Xây dựng các giải pháp bảo tồn giá trị tri thức bản địa; phát huy giá trị trị thức
bản địa vào thực tiễn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi.
3. Kết quả chính đã đạt được: Đề tài nghiên cứu các vấn đề sau: Tri thức bản
địa trong trồng lúa rẫy; trồng lúa nước; trồng trọt, khai thác cây quế; cây chè; cây
dầu rái; cây hành, tỏi. Tri thức bản địa trong một số nghề thủ công như kỹ thuật nấu
đường muỗng; kỹ thuật làm gốm đất nung và gốm men; kỹ thuật rèn đúc kim loại
đồng và sắt; kỹ thuật dệt vải và dệt chiếu. Tri thức bản địa trong xây dựng, quản lý và
Cuộc hội thảo đã bổ sung thêm nhận thức mới cho nội dung nhiên cứu của đề tài.
Đề tài tập hợp cộng tác viên bao gồm những người có tâm huyết, có bề dày
kinh nghiệm nghiên cứu trong các lĩnh vực văn hóa – xã hội; cùng các nghệ nhân trực
tiếp cung cấp tài liệu, thực hành các thao tác kỹ thuật công nghệ bản địa.
Đề tài có sự góp ý của các giáo sư, chuyên gia đầu ngành tại Hà Nội.
Xin trân trọng cám ơn.
CHƯƠNG I
7
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRI THỨC BẢN ĐỊA
I. Những vấn đề chung về tri thức bản địa
1. Các quan điểm nghiên cứu tri thức bản địa. Tri thức bản địa (Indigenuos
Knowledge) được coi trọng và đặc biệt nghiên cứu vào thập kỷ 80 trở đi. Cho tới nay,
khái niệm tri thức bản địa hay tri thức truyền thống vẫn được định nghĩa theo nhiều
cách khác nhau, tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn hay theo các mục đích sử
dụng. Mặc dù sử dụng các tên gọi khác nhau nhưng đối tượng tri thức bản địa được
nghiên cứu luôn là một hệ thống các tri thức đặc hữu của cộng đồng người địa
phương liên quan đến cái cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung
quanh.
Theo định nghĩa chung của tổ chức UNESCO, thuật ngữ tri thức bản địa
(indigenous knowledge) hay tri thức địa phương (local knowledge) dùng để chỉ những
thành phần tri thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự
tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên. Đó là một phần
của tổng hoà văn hoá, tập hợp những hiểu biết tri thức bao gồm hệ thống ngôn ngữ,
cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các hoạt động sản
xuất, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan ... Những tri thức này là cơ sở để
đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại
địa phương như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương
đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định. Hệ thống tri thức bản địa của một dân
tộc được trao truyền trong cộng đồng trải qua thử thách thời gian và vẫn duy trì phát
triển (CEFIKS). Như vậy trong cách tiếp cận này, tri thức bản địa được xem xét trên
cơ sở hệ thống tri thức kỹ thuật bản địa bao gồm tổ hợp tri thức, kỹ năng, công nghệ
hiện tồn tại. Các tổ hợp này được xem là bản địa khi nó tồn tại, phát triển trong một
phạm vi nhất định và nó mang tính đặc hữu của một dân tộc, cộng đồng địa phương
trong vùng địa lý nhất định. Cách định nghĩa của CEFIKS sát thực đúng với bản chất
của tri thức bản địa và phù hợp với hướng tiếp cận nghiên cứu của đề tài. Quá trình
nghiên cứu đề tài sử dụng cách phân loại của E.Mathias về hệ thống tri thức bản địa
(E.Mathias, 1995) được xem xét nghiên cứu theo các nội dung sau:
9
1- Các kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất đã được sàng lọc.
2- Niềm tin tín ngưỡng thần linh.
3- Cách thức tổ chức sản xuất.
4- Các thao tác kỹ thuật trong hoạt động sản xuất.
5- Các loại công cụ sản xuất tương ứng.
6- Quá trình vận động tiếp thu và thử nghiệm.
Cách phân loại trên được đề tài áp dụng nghiên cứu trong phạm vi một số giá
trị tri thức bản địa ở lĩnh vực sản xuất (nông nghiệp trồng trọt, nghề thủ công) và hoạt
động quản lý khai thác tài nguyên. Tuy nhiên trên quan điểm hệ thống, tri thức bản
địa luôn nhấn mạnh đến tính tổng thể, tất cả các thành phần trong hệ thống đều có mối
quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Do đó các vấn đề nghiên cứu của đề tài được đặt trong
một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ lẫn nhau phản ánh được các đặc trưng và giá
trị của nó.
2. Đặc điểm của tri thức bản địa
Tri thức bản địa có đặc tính phân cấp độ thuộc lứa tuổi, giới tính và đặc điểm
của nhóm xã hội. Có những tri thức chung, được tất cả mọi người trong cộng đồng
hiểu biết; có những tri thức bản địa tồn tại theo gia đình, dòng họ chỉ phạm vi một số
Kiểu suy nghĩa trực giác
Lý luận phân tích và quy nạp
Chủ yếu định tính
Chủ yếu định lượng
Dữ liệu do người lao động làm
Dữ liệu thu thập bởi các nhà
ra (có tính đại chúng)
chuyên môn (có tính cá biệt)
Dữ liệu dùng ngôn từ bản địa (địa
phương)
Dùng ngôn ngữ đương đại
Môi trường như một bộ phận của
Quản lý môi trường có tổ chức, có
những mối quan hệ xã hội – thần linh thứ bậc, ngăn nắp
Dựa trên những kinh nghiệm
Dựa trên các định luật và học
thu thập và tích luỹ
thuyết khoa học
Như vậy các khái niệm tri thức truyền thống (tradition knowledge), tri thức bản
địa (Indigenous Knowledge), tri thức địa phương (local knowledge) đều đề cập đến
kinh nghiệm thuần thục của cộng đồng cư dân địa phương đã có quá trình nghiệm
sinh trong một thời gian dài, được xác định chắc chắn ở một vùng, một dân tộc bản
địa hay ở một cộng đồng địa phương. Tri thức bản địa được bảo lưu trong ký ức cộng
6- Tri thức bản địa được giữ trong ký ức và trong hoạt động sản xuất của người
dân và được trao lại cho thế hệ sau bằng phương pháp giáo dục truyền nghề dân gian.
Tri thức bản địa được chia sẻ và truyền bá thông qua ngôn ngữ nói, bằng các ví
12
dụ cụ thể và thông qua luật tục, tập quán, văn hoá của cộng đồng. Các hình thức giao
tiếp và tổ chức của cộng đồng có ý nghĩa sống còn đối với các quá trình ra quyết định
ở cấp độ địa phương; có ý nghĩa sống còn đối với việc bảo tồn, phát triển và phổ biến
các tri thức bản địa (Hà Hữu Nga,2009).
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
1. Nghiên cứu những giá trị tri thức bản địa của tỉnh Quảng Ngãi, đó là tri thức
bản địa của địa phương đã có trong quá khứ, tiếp diễn trong hiện tại và giữ vai trò
quan trọng trong đời sống cộng đồng.
2. Xây dựng các giải pháp bảo tồn một số giá trị tri thức bản địa của địa
phương. Phát huy giá trị tri thức bản địa, áp dụng vào thực tiễn góp phần phát triển
kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ngãi.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Về phương pháp luận trong quan điểm
nghiên cứu đề tài dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các nghị quyết đường lối của Đảng về sự kế thừa và phát triển giữa truyền thống và
hiện đại. Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Vận dụng các phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành và liên ngành của các ngành Sử học, Khảo cổ học, Dân tộc học, Văn
hoá học, Xã hội học, Kinh tế học để tiếp cận vấn đề nghiên cứu. Để thu thập tài liệu,
đề tài sử dụng phương pháp điền dã tại hiện trường, bao gồm các tác nghiệp sau:
+ Điều tra thu thập tài liệu, số liệu.
+ Phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm.
+ Quan sát mô tả hiện trường.
+ Chọn lựa địa điểm nghiên cứu và mẫu điển hình.
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, đối chiếu so sánh, tổng hợp, phương
pháp loại hình học... để xử lý tư liệu và khái quát đặc trưng bản chất vấn đề. Trong
Nhìn chung việc phát triển các hệ thống tri thức bản địa có ý nghĩa sống còn
đối với cộng đồng địa phương đã sáng tạo ra nó. Các hệ thống tri thức bản địa cũng
không ngừng biến đổi, tri thức mới liên tục được bổ sung, không ngừng được đổi mới
14
từ bên trong và các kinh nghiệm, tri thức học hỏi được từ bên ngoài, không ngừng
được nội tại hoá, được sử dụng, thích ứng với điều kiện địa phương.
III. Tình hình nghiên cứu và áp dụng tri thức bản địa vào thực tiễn
1. Tình hình nghiên cứu về tri thức bản địa
Tình hình nghiên cứu chung về tri thức bản địa ở Việt Nam trong những thập
niên 90 trở đi, số lượng các công trình nghiên cứu về tri thức bản địa không nhiều.
Các công trình nghiên cứu tri thức bản địa vùng núi phải kể đến tác phẩm:
“Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên
thiên nhiên” của Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc đề cập đến các giống lúa chịu hạn ít
bệnh, năng suất ổn định của người Thái (Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc, 1998).
Phạm Quang Hoan và Hoàng Hữu Bình trong bài viết “Các dân tộc thiểu số và
việc quản lý tài nguyên thiên nhiên ở vùng cao Việt Nam” đề cập đến nguyên tắc
quản lý khai thác rừng hài hoà với phương pháp canh tác rẫy luân canh bảo vệ rừng
của đồng bào thiểu số Tây Nguyên (Phạm Quang Hoan và Hoàng Hữu Bình, 1996).
Trong bài viết “Luật tục với việc phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam”
GS. Ngô Đức Thịnh cho rằng: Một trong những giá trị nổi bật của các dân tộc thiểu số
là những tri thức bản địa của nhân dân về quản lý và khai thác tài nguyên thiên nhiên,
ở đó con người và tự nhiên gắn bó hữu cơ, con người là một bộ phận không thể tác rời
tự nhiên. Luật tục với những tri thức bản địa về môi trường và cách thức quản lý, khai
thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn giữ nguyên giá trị tích cực của nó (Ngô
Đức Thịnh, 1999).
Tình hình nghiên cứu về tri thức bản địa ở Quảng Ngãi trước đây chưa thật sự
rõ nét bằng những công trình, tác phẩm cụ thể, đâu đó trong các tài liệu cũng được đề
cập sơ qua nhưng không làm nổi bật giá trị các tri thức bản địa đó. Nghiên cứu về tri
16
Công trình nghiên cứu về “ Nhà ở dân gian và nghề dệt của người Hrê” Nguyễn
Ngọc Trạch (chủ biên) tác giả đã nghiên cứu về tri thức dân gian kiến trúc nhà sàn và
nghề dệt vải truyền thống của nhóm Hrê ở vùng sông Liêng. Tác phẩm liên quan đến
lĩnh vực nghiên cứu của đề tài như: “Nghề thủ công cổ truyền ở Quảng Ngãi” đã đề
cập đến hoạt động nghề thủ công truyền thống Quảng Ngãi.
Một tác phẩm khác là Hương ước Quảng Ngãi do Vũ Ngọc Khánh – Lê Hồng
Khánh (sưu tầm – biên soạn), trong đó sưu tầm giới thiệu các văn bản hương ước
phần lớn viết vào thập niên 30, 40 và ít có tài liệu gốc bằng chữ Hán.Nội dung tác
phẩm giới thiệu không thật đầy đủ về hương ước các làng xã Quảng Ngãi nhưng dù
sao tài liệu này cũng đã cung cấp các bằng chứng quy ước của tổ chức cộng đồng làng
ở Quảng Ngãi xưa.
Tác phẩm “Văn hoá truyền thống đảo Lý Sơn” (1999) do Đoàn Ngọc Khôi (chủ
biên) nghiên cứu về văn hoá vật thể và phi vật thể ở Lý Sơn, trong đó đề cập đến tri
thức bản địa tổ chức nên cộng đồng Làng và Vạn, các hoạt động kinh tế - văn hoá
truyền thống phản ảnh đặc trưng văn hoá của người Việt ở đảo.
Tác phẩm “Quảng Ngãi - Truyền thống và hiện đại” (2005), là kỷ yếu hội thảo
tập hợp các bài viết về lịch sử, nhân vật, văn hoá Quảng Ngãi.
Như vậy từ trước đến nay ở Quảng Ngãi chưa có đề tài nào đi vào nghiên cứu
cụ thể, chuyên sâu về tri thức bản địa.
2. Áp dụng tri thức bản địa vào thực tiễn
Tri thức bản địa của dân tộc bản địa hay của cộng đồng địa phương là kết quả
từ sự tương tác của các cư dân với điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống. Có những yếu
tố thích ứng với môi trường văn hoá – xã hội và môi trường kinh tế, có những yếu tố
không thích ứng và trở thành yếu tố cản trở quá trình hội nhập vào môi trường mới
17
biết gìn giữ màu sắc hoa văn dệt, kỹ thuật dệt. Do đó sản phẩm dệt và nghề dệt vẫn
giữ nguyên bản sắc đặc trưng của người Hrê.
Ví dụ 2: Nghề gốm lâu đời ở Châu Ổ (Mỹ Thiện) để đảm bảo sản phẩm chiếm
lĩnh được thị trường họ đã chủ động du nhập và phát triển các kiểu dáng sản phẩm
phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nhưng họ vẫn giữ các kỹ thuật làm gốm, các
dòng men, kỹ thuật lò nung truyền thống, như thế họ vẫn giữ được linh hồn của gốm
Châu Ổ và đó đã trở thành thương hiệu. Trong khi đó sau năm 1975, Hợp tác xã ở đây
đã du nhập nguyên xi kỹ thuật gốm men Hải Dương vào thay thế gốm truyền thống
Châu Ổ, những nghệ nhân ở đây đã tiếp nhận sự thay đổi này một cách xa lạ và hệ
quả sau đó là sự suy tàn của một làng nghề vốn phát triển từ lâu đời như nghề gốm
Châu Ổ.
Ví dụ 3. Người Hrê có kỹ thuật làm ruộng nước từ lâu đời ở vùng đồng bằng
thung lũng hẹp ven chân núi dọc theo sông. Họ vốn đã có những giống lúa ruộng
truyền thống vốn đã thích nghi với chân đất luôn có nước thường xuyên, không cần
phun thuốc trừ sâu hoặc bón lót phân hóa học. Hiện nay khuyến nông muốn áp dụng
các giống mới vào cho năng suất cao hơn bằng cách làm thí điểm, tuy nhiên họ vẫn
ngần ngại không áp dụng, hoặc áp dụng một cách miễn cưỡng vì giống mới với kỹ
thuật chăm sóc mới quá phụ thuộc vào phân bón lót trong mỗi thời kỳ phát triển cây
lúa, luôn phải dùng thuốc trừ sâu điều đó có nghĩa là phải mất tiền, trong khi đó giống
lúa truyền thống rất khỏe kháng sâu bệnh tốt, người nông dân không bị phụ thuộc vào
phân bón, thuốc trừ sâu từ bên ngoài. Điều này cho thấy ở đồng bằng, lúa thu hoạch
được các đại lý thuốc trừ sâu, phân bón đã mua trước đó vì lý do cấn trừ thiếu chịu.
Như vậy giải pháp duy nhất thích hợp ở đây là cần nghiên cứu kỹ lưỡng giống lúa
ruộng bản địa của người Hrê, du nhập vào đó là các kỹ thuật chăm sóc thích hợp để
nâng cao năng suất, không nên thay đổi và bỏ giống lúa truyền thống, như vậy cộng
đồng địa phương ở đây dễ dàng tiếp thu tri thức ngoại nhập áp dụng phù hợp với tri
thức bản địa vốn có của cộng đồng.
19
chính cho công tác chuyển giao kỹ thuật mới tại cộng đồng.
4. Bảo vệ bản quyền sở hữu tri thức bản địa khi đưa ra thị trường. Đây là vấn
đề quan trọng để bảo vệ bí quyết của các nghề thủ công. Các cơ quan chuyên môn
hướng dẫn người dân trong vấn đề đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và các bí quyết truyền
nghề, các dạng tri thức bản địa khác.
5. Có chính sách chế độ đãi ngộ cho các nghệ nhân trong công việc truyền
nghề. Thực tế chúng ta chưa có chính sách cụ thể về vấn đề này, việc truyền nghề
mang tính tự phát tự nguyện trong cộng đồng. Đặc biệt có những nghề thủ công quan
trọng đang có xu hướng biến mất thì việc đãi ngộ cho nghệ nhân truyền nghề là việc
làm cần thiết.
CHƯƠNG II
MỘT SỐ GIÁ TRỊ TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG TRỒNG TRỌT
I. Tri thức bản địa trong nông nghiệp trồng trọt lúa rẫy
21
Thư tịch cổ gọi kiểu canh tác nương rẫy là “đao canh hoả chủng”, tức là chặt
cây phơi khô rồi đốt trước khi trồng. Thuật ngữ canh tác nương rẫy được dùng để chỉ
các hệ canh tác liên quan đến việc con người khai phá từ đất rừng sau khi đã có sự lựa
chọn hợp lý và dùng các phương tiện như dao, rìu để chặt phát cây, phơi khô, đốt và
trồng trọt bằng gậy chọc lỗ và trỉa lúa trên vùng đất khô với hệ giống lúa dài ngày có
tính năng chịu hạn cao. Hệ canh tác nương rẫy là hệ thống nông nghiệp cơ bản của
vùng núi không những ở Việt Nam mà cả khu vực Đông Nam Á, nó đã tồn tại ở khu
vực này hàng thiên niên kỷ qua nhưng cũng có có sự khác biệt về cây trồng, chu kỳ
canh tác, bỏ hoá cũng như kỹ thuật thâm canh và xen canh giữa các khu vực khác
nhau. (Nikolas Arhem, Nguyễn Thị Thanh Bình, 2006)
Hệ canh tác là khái niệm dùng để chỉ bao gồm một tổ hợp cây trồng, được canh
tác bởi các kỹ thuật nhất định, ở một vùng khí hậu nông nghiệp thổ nhưỡng đặc thù,
trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định (Ngô Đức Thịnh, 2009). Hệ canh tác
màu sau một hay hai vụ, muốn để chúng tự sản, tự tiêu, tự tái sinh thì phải để mảnh
đất đó hưu canh trong một thời gian nhất định (Ngô Đức Thịnh, 2009).
Tuy nhiên trước sức ép của sự bùng nổ dân số, đất đai bạc màu môi trường tàn
phá, thì nhu cầu đảm bảo nguồn lương thực để sống khiến cho gia đình và cộng đồng
phải cần có nhiều mảnh đất rẫy để thực hiện chế độ luân canh hoặc rút ngắn thời gian
luân canh để có đất trồng trọt. Thông thường do địa hình vùng núi hiểm trở đi lại khó
khăn, bán kính hoạt động giữa vùng rẫy sản xuất và làng cư trú thường cách xa nhau
cho nên các gia đình trong làng thường làm trại ở rẫy để chăm sóc lúa, còn sau khi thu
hoạch thì trở về làng. Tuy nhiên đây không phải là hình thức cư trú mà là do nhu cầu
công việc làm rẫy. Hầu như ở miền núi Quảng Ngãi hiện nay đại bộ phận rừng đều là
rừng tái sinh, trước đây đã được phát làm rẫy. Càng ngày những vạt rừng già xanh
thẫm càng thưa dần, đất đai trồng lúa rẫy bị vắt kiệt, xói mòn không đủ thời gian hồi
phục độ màu mỡ khiến cho cộng đồng làng đi tìm rẫy mới ở nơi xa hơn và như vậy
khoảng cách nơi cư trú và nơi canh tác cứ nới rộng dần.
Nhìn chung kỹ thuật canh tác rẫy theo hình thức luân canh luân khoảnh theo
chu kỳ khép kín, tạo một khoảng thời gian để đất tái phục hồi độ màu mỡ là một tri
23
thức bản địa quý giá của các dân tộc thiểu số ở vùng núi, vừa đỡ tốn sức lao động,
năng xuất lúa rấy khá cao.
Tri thức bản địa trong kỹ thuật xen canh nối vụ có vai trò quan trọng đảm bảo
ổn định lương thực. Kỹ thuật xen canh đó là trong một đám rẫy lúa người ta trồng đan
xen vào đó là bắp, đậu, bầu, bí, rau, cây có củ, đặc biệt là trồng loại cây pho trái bằng
trái bắp có hạt cơm trắng, đem giã nấu như cơm, ăn rất ngon, có giá trị như lương
thực chống đói. Bìa đám rẫy người dân trồng chuối, mì. Và như vậy trước khi thu
hoạch lúa đã có nguồn lương thực gối vụ, chống việc thiếu đói giáp hạt, bản thân
những cây trồng phụ có tác dụng tái phục hồi đất. Kỹ thuật nối vụ được xem là tri
thức bản địa quan trọng của các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi, nó liên quan đến giống
lúa, nông lịch canh tác.
vào tháng 3 -4 khi có tiếng sấm đầu mùa. Đó là thời điểm kết thúc những tháng ăn
chơi, mọi người chuẩn bị bắt tay vào lao động “đánh thức” hồn lúa ngủ quên trong
kho lúa, gọi hồn các nông cụ trở dậy. Người nông dân vùng núi có thể bắt đầu vụ rẫy
mới ở vùng đất luân canh theo chu kỳ tái hồi vòng rẫy hoặc tìm vùng đất làm rẫy mới.
Trong việc chọn rẫy mới hay tái canh tác rẫy cũ phải dựa trên kỹ năng tìm đất tốt với
kinh nghiệm nhìn nơi nào có cây chuối nước, cây khoai môn và nhiều ụ giun đất,
thường màu đất xám là nơi đất nhiều mùn, đất có độ ẩm, gần nước thích hợp để phát
rẫy mới hay rẫy cũ đã phục hồi dinh dưỡng sau chu kỳ bỏ hoá.
Đồng bào không phát rẫy ở gần ngọn nước, đây là đều nghiêm cấm để bảo vệ
nguồn nước của làng, chặt hạ cây phải tuân theo luật tục của cộng đồng, không được
vi phạm vào rừng cấm, rừng thiêng. Nếu vi phạm rừng cấm họ sẽ bị thần trừng phạt
như cây ngả đè gãy chân, làng bị lũ lụt, mất mùa, dịch hại, bệnh tật và nhiều tai hoạ
ập đến. Trong việc phát rẫy của đồng bào miền núi bao giờ trên đỉnh đồi núi cũng
chừa lại một khoảnh rừng lớn nó được thiêng hóa là nơi thần về ngự nhưng thực chất
vai trò các khoảnh rừng này có tác dụng chống xói mòn do nước chảy từ trên cao
xuống đối với rẫy được canh tác ở khu vực thấp phía dưới trong trường hợp mưa lũ.
Như vậy thực chất đây là những tri thức bản địa trong canh tác rẫy dung hòa với tự
nhiên đã được thiêng hóa để lưu truyền về sau.
25