Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
NỘI DUNG...............................................................................................................................................5
Chương 1: Cơ sỞ lý luẬn vỀ phát triỂn du lỊch sinh thái và du lỊch bỀn vỮng
...................................................................................................................................5
THỰC trẠng phát triỂn du lỊch sinh thái Ở Cát Bà..........................................19
2.3.3. Thực trạng về các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch sinh thái..............28
2.3.4.Thị trường khách du lịch.............................................................................33
2.4. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của du lịch sinh thái Cát Bà.....................34
Chương 3................................................................................................................37
MỘt sỐ giẢi pháp phát triỂn du lỊch sinh thái theo hưỚng phát triỂn du lỊch
bỀn vỮng tẠi Cát Bà.............................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................................................53
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN...................................................54
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN.....................................................55
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN CAM KẾT
Kính gửi: Ban Giám Hiệu trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đồng kính gửi: Các thầy cô trong khoa Du lịch & Khách sạn
Tên em là : Hoàng Thị Dịu
Lớp : Du lịch 48
Mã SV : CQ480338
Em xin cam đoan những nội dung trong báo cáo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đều do em tự thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy Nguyễn Đình Hòa. Bài
viết này có sử dụng một số tài liệu tham khảo từ sách, báo, bài viết trên các website
của một số tác giả làm tư liệu viết bài nhưng có ghi chú, trích dẫn rõ ràng.
Nếu vi phạm lời cam kết trên em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2010
bãi tắm đẹp…Thiên nhiên Cát Bà vẫn còn giữ được nét hoang sơ rất có tiềm năng phát
triển du lịch sinh thái.
Do vậy, em đã chọn đề tài:” Phát triển du lịch sinh thái ở Cát Bà theo hướng
phát triển du lịch bền vững” , với mong muốn có thể hiểu về du lịch sinh thái, và
nghiên cứu về tình hình phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà, từ đó đưa ra một số
kiến nghị những giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà theo hướng
phát triển bền vững.
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu tổng quan về du lịch sinh thái, mối quan hệ giữa du lịch sinh
thái và phát triển du lịch bền vững.
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà.
- Đưa ra những giải phát nhằm phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà theo
hướng phát triển bền vững.
Nhiệm vụ của đề tài
- Tìm kiếm và thu thập thông tin chính xác và đầy đủ để phục vụ cho việc
trình bày và làm sáng tỏ đề tài.
- Sau khi thu thập thông tin đầy đủ, sẽ tiến hành tổng hợp và phân tích tài liệu
để hoàn thành đề tài.
Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế-xã hội của Cát Bà.
- Các tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà, từ đó để khai thác hợp
lý và ứng dụng vào việc phát triển du lịch sinh thái ở đây.
Phạm vi nghiên cứu
Khu du lịch Cát Bà- Cát Hải- Hải Phòng.
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, đặc
biệt là nét đặc trưng của khu du lịch sinh thái Cát Bà qua sách, báo,
internet…
cứu về Chính sách)
1.1.2. Các đặc trưng của du lịch sinh thái
1.1.2.1. Tài nguyên tự nhiên trong du lịch sinh thái là những tài nguyên còn
tương đối nguyên sơ
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
- Môi trường tự nhiên trong du lịch sing thái còn tương đối nguyên sơ, chưa chịu
hoặc ít bị xâm hại bởi bàn tay con người
- Văn hoá bản địa : là các di tích kiển trúc, các giá trị văn hoá tồn tại dướ dạng
vật thể, phi vật thể được tạo ra bởi chính điều kiện tự nhiên và lịch sử phát triển
của nơi điểm đến.
- Mỗi khu vực bảo tồn tự nhiên phải đảm bảo tính đa dạng sinh học,có tính đặc
thù để mỗi điểm đến tham quan có sự hấp dẫn riêng đối với khách du lịch.
1.1.2.2. Các sản phẩm du lịch sinh thái hướng tới bảo tồn giá trị tự nhiên, văn
hoá, xã họi nơi điểm đến
- Bảo tồn các giá trị tự nhiên của hệ sinh thái vốn có: mục đích của du lịch sinh
thái là giúp khách du lịch hiểu biết về thiên nhiên, về hệ sinh thái tự nhiên. Từ
đó đánh giá lại những hành động của mình đối với thiên nhiên,tìm cách sống
hoà hợp với thiên nhiên
- Bảo tồn các giá trị văn hoá của cộng đồng dân cư địa phương
- Bảo tồn và nâng cao các giá trị xã hội của dân cư địa phương
1.1.2.3. Du lịch sinh thái trực tiếp mang lại phúc lợi cho cộng đồng dân cư địa
phương
- Đóng góp về vật chất: xoá đối giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho dân cư địa
phương, giúp tăng thu nhập.
- Đóng góp về tinh thần: người dân địa phương được tôn trọng không bị phân
biệt về văn hoá địa phương, giọng nói ngôn ngữ , phong tục tập quán…, được
thừa nhận làm chủ đối với thiên nhiên.
- Đóng góp nâng cao về mặt nhận thức: dân cư địa phương thấy được tầm quan
trọng của du lịch sinh thái từ đó có ý thức bảo vệ tài nguyên tự nhiên và giữ gìn
nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải thích vì sao hoạt
động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt
ở các vườn quốc gia, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao
và cuộc sống hoang dã. Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số
loại hình du lịch sinh thái phát triển ở những vùng nông thôn hoặc các trang trại
điển hình.
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh
thái ở 2 điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách du lịch
sinh thái, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am
hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương. Điều
này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch
sinh thái, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình
tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn
viên.Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương
để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò
là một người phiên dịch.
- Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có được người điều hành nguyên
tắc. Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và
không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn
giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn
hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc mất đi. Ngược lại, các nhà điều
hành du lịch sinh thái phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo
tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương
nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ
một cách lâu dài các giá trị tự nhiên
và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng
cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và du khách.
Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt
động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần
khách/thị trường khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ. Du lịch sinh thái
không thể đáp ứng được các nhu cầu của tất cả cũng như mọi loại khách.
Yêu cầu thứ tư là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách
du lịch. Việc thoả mãn mong muốn này của khách du lịch sinh thái về những kinh
nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn,
song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch sinh thái.
Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau
công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm.
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững.
Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục về du lịch. Đây là điểm
khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt nam bắt đầu lo lắng về tốc độ tăng
trưởng của du lịch .
Từ những yêu cầu trên đây của du lịch sinh thái ta rút ra những nguyên tắc cơ
bản để phát triển du lịch sinh thái:
- Phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và
khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trường tự nhiên.
- Không được làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về
môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài
(tự nhiên và văn hoá) nhằm thu hút khách mà còn bên trong của nó.
- Tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị bên ngoài và thúc đẩy sự
công nhận các giá trị này .
- Các nguyên tắc về môi trường và sinh thái cần phải đặt lên hàng đầu do đó
mỗi người khách du lịch sinh thái sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa
của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho
sự thuận tiện cá nhân.
- Phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và
đối với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội hay
khoa học).
động thể chất ngoài trởi hoặc các hoạt động kết hợp diễn ra tại một khu vực thiên
nhiên nhất định mà nó yêu cầu những phương tiện vận tải khác với truyền thống, có
thể là động cư hay không phải động cơ. Những hoạt động này mang tính mạo hiểm
mức độ rủ ro thì tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường, bản chất của hoạt động và các
phương tiện vận tải được sử dụng.
Du lịch mạo hiểm không chú ý đến việc tìm hiểu về thiên nhiên, hệ sinh thái mà
khai thác tài nguyên tự nhiên nhằm mục đích mạo hiểm,chứng tỏ khả năng chinh
phục thiên nhiên của con người. Còn du lịch sinh thái đi tìm sự thoả thuận cùng
chung sống hài hoà với thiên nhiên.
1.2.2. Du lịch dựa vào văn hóa
Du lịch văn hoá là loại hình du lịch rất phổ biến, tập trung mối quan tâm tới một
quốc gia hay một vùng đất chủ yếu dưới góc độ văn hoá. Du lịch văn hoá bao gồm
các tuyến du lịch đến những nơi có bề dày lịch sử hoặc những nơi có các công trình
văn hoá như các viện bảo tàng, nhà hát…Ngoài ra cũng có hình thức đưa khách đến
các vùng hẻo lánh để dự các lễ hội ngoài trời, đi thăm các nơi ở của những doanh
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
nhân văn hoá, những công trình kiến trúc hay những thắng cảnh thiên nhiên được biết
đến và ca ngợi qua văn chương hội hoạ.
Du lịch văn hoá và du lịch sinh thái đều có mục đích chiêm ngưỡng tìm hiểu,
nghiên cứu các nền văn hoá bản địa độc đáo từ đó làm khơi daỵ tình yêu và trách
nhiệm để bảo tồn, giữu gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hoá do con người sáng tạo
ra.
1.2.3. Du lịch công vụ
Du lịch công vụ là loại hình du lịch mà khách du lịch kết hợp hai mục đích là
công việc và đi du lịch. Mục đích của khách du lịch trong du lịch công vụ chỉ là
chiêm ngưỡng, tìm hiểu tài nguyên thiên nhiên, không mang tính trách nhiệm bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên, bản sắc văn hoá bản địa như du lịch sinh thái.
1.2.4. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch bền
vững
thiết phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, còn trong du lịch bền
vững và du lịch cộng đồng thì coi trọng yếu tố con người.
1.3. Các điều kiện để phát triển du lịch sinh thái
1.3.1. Tài nguyên tự nhiên, văn hoá bản địa phong phú còn tương đối nguyên
sơ có tính đặc thù cao của hệ sinh thái.
Tài nguyên tự nhiên trong du lịch sinh thái phải là những tài nguyên còn tương
đối nguyên sơ, chưa bị con người can thiệp hoặc thay đổi. trong một số giới hạn thì
những thay đổi do con người gây ra đối với tự nhiên phải là những thay đổi chấp
nhận được với khả năng tái tạo cao.
Như vậy du lịch sinh thái không cho phép con người can thiệp vào các hệ sin
thái tự nhiên, cho dù đó là những can thiệp mang lợi ích kinh tế-xã hội cho con người
và dù con chấp nhận đề bù bằng vật chất cho những thiệt hại mà họ định gây ra với
thiên nhiên.
Như chúng ta đã biết, những vùng có vị trí tương tự trên bản đồ thế giới thường
có những đặc điểm chung về khí hậu, nguồn nước, đất đai và các loài động thực vật,
thậm chí là con người đang cư trú tại đó. Sản phẩm du lịch sinh thái cũng như các sản
phẩm thông thường khác, được đưa ra để thu hút sự tò mò tìm hiểu của các khách du
lịch. Như vâỵ, những người làm du lịch đứng ở góc độ kinh doanh cũng phải đưa
những sản phẩm du lịch sinh thái đặc trưng, có tính đặc thù để phân biệt với sản
phẩm du lịch sinh thái ở các địa bàn khác.
Thế mạnh trong mỗi tài nguyên ở mỗi vùng, mỗi khu vực trong phục vụ hoạt
động du lịch sinh thái chính là ở chỗ đưa ra được tính đặc thù về mỗi loài động vật,
thực vật, nguồn nước, đất đai hay khí hậu tại đó. Những thế mạnh này cần được thể
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
hiện bên cạnh tính đa dạng sinh học của tất cả các khu vực, vùng và quốc gia có tài
nguyên để phục vụ du lịch sinh thái.
1.3.2. Sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư địa phương trong việc
phát triển du lịch bền vững
Du lịch sinh thái chỉ hấp dẫn và càng trở nên hấp dẫn hơn khi có sự tham gia
hệ thống này cũng là cơ sở để đánh giá chất lượng và mức độ phù hợp của những tổ
chức, cá nhân tham gia, tiến hành hoạt động kinh doanh DLST.Tất nhiên, tuỳ thuộc
vào đặc trưng từng địa phương, từng vùng và khu vực mà chi tiết cụ thể trong mỗi hệ
thống các nguyên tắc và giá trị đạo đức nêu trên các phần khác nhau giữa các lãnh thổ
nhưng phải thừa nhận là có cùng triết lý và nguyên tắc thực hiện chung.Các tổ chức,
cá nhân tham gia thực hiện du lịch sinh thái đều chịu sự chi phối của hệ thống các
nguyên tắc đó.
1.3.4. Có sự cố vấn giám sát từ các tổ chức môi trường phi chính phủ
Các tổ chức phi chính phủ quan tâm tới công tác bảo tồn các di sản văn hoá và
thiên nhiên. Các tổ chức phi chính phủ hoạt động vì mục đính phi lợi nhuận, sẵn sang
hỗ trợ, giúp đỡ phát triển hoạt động du lịch sinh thái vì nó mang lại những lợi ích
thực tiễn bền vững. Họ tìm kiếm các hoạt động để hỗ trợ như:
Bảo vệ môi trường thông qua ngăn ngừa, cải thiện, sửa chữa và hồi phục
những tài nguyên bị phá huỷ
Thúc đẩy các cá nhân và tổ chức liên quan đến du lịch sinh thái nhận thức tốt
hơn và bởi vậy quan tâm hơn thay vì cố gắng triệt để các tài nguyên.
1.3.5. Nguồn khách du lịch sinh thái có đặc điểm tiêu dùng tương thích với
sản phẩm du lịch sinh thái
Khách du lịch sinh thái là người tiêu dung du lịch với mục đích chính tham quan
nghiên cứu tài nguyên du lich, có ý thức và trách nhiệm bảo tồn và phát triển thiên
nhiên, có trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư bản địa. Khách du lịch sinh thái có
các đặc trưng:
Thứ nhất, yêu thiên nhiên, thích tìm hiểu hệ sinh thái đa dạng và khám phá
những điều bí ẩn của tự nhiên và văn hoá bản địa.
Thứ hai, thích lưu trú trong điều kiện tự nhiên, thích di chuyển bằng các phương
tiện không gây ô nhiễm môi trường.
Thứ ba, đặc biệt ưu thích các món ăn được coi là đặc sản có giá trị văn hoá ẩm
thực.
Thứ tư, thích tham gia vào các hoạt động đời thường, văn hoá dân gian của cư
dân bản địa.
Như vậy phát triển du lịch bền vững là việc phát triển về mặt kinh tế nhưng vẫn
phải đảm bảo việc duy trì được sự toàn vẹn về môi trường tự nhiên và văn hoá.
1.4.2. Nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Theo định nghĩa ở trên thì muốn phát triển du lịch bền vững về 3 mặt: kinh tế,
xã hội và môi trường.
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
1.4.2.1. Bền vững về kinh tế
Đây là một trong ba yều cầu đối với phát triển bền vững. Nó có ý nghĩa quan
trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch.
Thứ nhất nó phải bảo đảm sự tăng trưởng, phát triển ổn định và lâu dài, tạo ra
được nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp. Muốn được như vậy doanh nghiệp kinh
doanh du lịch và sở du lịch của địa phương phải thoả mãn được những điều kiện sau:
công tác tuyên truyền quảng bá phải được thực hiện nghiêm chỉnh, trong phạm vi
rộng; sản phẩm du lịch phải thật đặc biệt để thu hút được nhiều khách du lịch trong
và ngoài nước. Bên cạnh đó chất lượng của các sản phẩm du lịch cũng cần phải được
đảm bảo, đội ngũ nhân lực cũng cần được đào tạo bài bản có chất lượng cao. Thêm
vào đó cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch ở đó phải có chất lượng và thuận tiện cho
khách như: tình trạng buồng phòng luôn đáp ứng được cho khách du lịch kể cả vào
thời điểm đông nhất trong năm, giao thông đi lại phải thuận tiện…Làm được nhu vậy
sẽ giữ chân khách ở khu du lich lâu hơn, khách tiêu dùng nhiều hơn. Đó là yếu tố mà
một doanh nghiệp kinh doanh nào cũng muốn đạt được.
Nội dung thứ hai mà yêu cầu bền vững về mặt kinh tế cần có là: kinh doanh du
lịch phải góp phần tích cực vào phát triển của cộng đồng địa phương. Nó thể hiện ở
chỗ có sự phát triển cân đối giữa các ngành nghề, không để có sự chênh lệch quá lớn.
Vì như vậy rất dễ dẫn đến sự mất cân bằng trong nền kinh tế địa phương. Các ngành
nghề không nên phát triển riêng biệt mà cần có sự liên kết chặt chẽ giữa kinh doanh
du lịch với các ngành nghề khác, cùng hỗ trợ nhau phát triển. Chính quyền và doanh
nghiệp kinh doanh du lịch cần nghiên cứu và khai thác tốt những khía cạnh của
những ngành nghề khác để phục vụ cho du lịch. Làm như vậy loại hình du lịch sẽ trở
Khai thác tài nguyên không quá giới hạn cho phép, phải tôn trọng sức chứa của
khu du lịch. Doanh nghiệp phải xác định được số lượng khách tối đa mà không gây
thiệt hại đến môi trường tự nhiên, không làm cho khách cũng như người dân địa
phương cảm thấy khó chịu và chính quyền địa phương vẫn có thể quản lý được.
Ngoài việc khai thác hợp lý ra doanh nghiệp cũng cần phải sử dụng nó một cách hợp
lý tránh sự lãng phí tài nguyên. Duy trì sự đa dạng và ổn định của các hệ sinh thái,
các động thực vật…không để chúng bị phá huỷ.
Không gây ô nhiễm và giảm thiểu chất thải cũng là một vấn đề quan trọng trong
việc phát triển bền vững môi trường. Đối với môi trường cần giảm thiểu tối đa rác
thải và đảm bảo việc xử lý rác tốt. Đối với môi trường không khí xung quanh môi
trường cần có biện pháp để giảm khí thải do các phương tiện giao thông, các thiết bị
phục vụ cho du lịch gây nên. Quy hoạch cơ sở hạ tầng và giải phóng mặt bằng cũng
phải phù hợp với điều kiện cho phép của môi trường. Như địa phương nên xác định
xem có bao nhiêu khách sạn, nhà hàng là hợp lý về vấn đề về điện, nước, hệ thống xử
lý rác thải phục vụ cho du lịch mà vẫn đảm bảo cuộc sống cho người dân nơi đây.
1.4.3. Mối quan hệ giữa phát triển du lịch sinh thái và phát triển du lịch bền
vững
Du lịch bền vững là hoạt động du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du
lịch và của chính khu du lịch đồng thời bảo vệ, thúc đẩy cơ hội phát triển cho tương
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
lai. Du lịch bền vững hướng tới việc quản lý các nguồn tài nguyên sao cho các nhu
cầu kinh tế xã hội phải được thoả mãn trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá,
các đặc điểm sinh thái, sự đa dạng sinh học và hệ thống các giải pháp hỗ trợ. Du lịch
bền vững xác định vai trò trung tâm của cộng đồng trong việc lập kế hoạch và ra các
quyết định phát triển du lịch. Du lịch bền vững phục vụ cho mục đích phát triển con
người cho nên du lịch bền vững không chỉ tập trung vào mục đích kinh tế mà còn
nhằm vào phát triển xã hội bao gồm giáo dục, y tế, môi trường và vấn đề tôn giáo.
“Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo
tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”. Du lịch sinh thái là
quốc tế tài trợ trong phạm vi của chương trình UNESCO về con người và sinh quyển.
Đảo và biển Cát Bà có lịch sử con người lâu đời với nền văn hoá nông nghiệp,
đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản.Dựa trên những di tích khảo cổ, có thể thấy con người
đã sống ở khu vực này ít nhất 6.000 năm trước. Cát Bà có 42 khu vực khảo cổ với các
di tích tiền sử, trong số đó: 4 điểm còn chứa đựng những dấu vết của kỷ nguyên
Pleitoxen, 7 điểm thuộc thời tiền sử, 2 điểm liên quan đến thời kỳ lịch sử, 8 động và
những vòm đá cho thấy những dấu vết khảo cổ văn hoá. Các di tích khảo cổ của Cát
Bà nằm trên các dải cát gần biển và cách thị trấn Cát Bà 1,5 km về phía đông nam.
Bên cạnh xương của các động vật biển, tập hợp những đò vật kháccủa thời kỳ văn
hoá này cũng được tìm thấy từ biển. Điều này chứng tỏ con người trong khu vực này
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
sống gần gũi với môi trường biển và Cát Bà bị tách ra khỏi lục địa vào một số giai
đoạn. trong số 4 động còn chứa một số động vật như hươu, nai, tê giác, nhím và đười
ươi. Di tích của các mồ mả ở các động trên đảo Cát Bà được tìm thấy ở động Khay
Quy, động Ang Giua trong đó đã tìm thấy xương của người Melanedi. Những vật
dụng và các di tích văn hoá trên đảo Cát Bà bao gồm di tích của các miếu “các
bà”,”các ông” có liên quan chặt chẽ với truyền thuyết “ bảy ngày ba ông” kể về cuộc
chién đáu chống lại quân xâm lược vào thời kỳ đầu dựng nước. Ngoài ra còn có thành
cổ nhà Mạc ở xã Xuân Đàm. Các lễ hội cũng còn lưu giữ bao gồm lễ hội đua thuyền
rồng, đua thuyền nan, lê tế thần biển và lễ hội đánh cá cung trở thành những nét hấp
dẫn du khách.
2.2. Các điều kiện phát triển du lịch sinh thái ở Cát Bà
2.2.1. VỊ trí, địa lý
Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên
vịnh Hạ Long.Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70 m
so với mực nước biển (dao động trong khoảng 0-331 m). Trên đảo này có thị trấn Cát
Bà ở phía đông nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long,
Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám. Cư dân chủ yếu là người Kinh.
2.2.2. Lịch sử
• Động Phù Long (Cái Viềng) mới tìm ra, được cho là đẹp hơn động Trung
Trang.
Bãi tắm Cát Cò
• Các bãi tắm: Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Dứa, Cát Ông, Cát Trai Gái, Đường
Danh v.v... là những bãi tắm nhỏ, đẹp, kín đáo, có nhiều mưa, che nắng, cát
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
trắng mịn, nước biển có độ mặn cao, trong suốt tới đáy. Người ta dự định xây
dựng ở đây những "thuỷ cung" để con người có thể trực tiếp quan sát các đàn
cá heo, tôm hùm, rùa biển, mực ống, cá mập bơi lượn quanh những cụm san
hô đỏ.
Một bãi tắm đẹp trên Đảo Khỉ thuộc quần đảo Cát Bà
Cát Bà với vẻ đẹp nguyên sơ và hùng vĩ, nó được mệnh danh là Hòn Ngọc của Vịnh
Ngoài ra Cát Bà còn có nhiều động, thực vật quý hiếm: Gần 60 loài đã được coi
là các loài đặc hữu và quý hiếm đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam như các loài
động vật: ác là, quạ khoang, voọc đầu vàng, voọc quần đùi trắng và các loài thực vật
như chò đãi, kim giao (Podocarpus fleurii), lá khôi (Ardisia spp.), lát hoa (Chukrasia
tubularis),dẻ hương, thổ phục linh, trúc đũa, sến mật. Ngoài ra còn 8 loài rong, 7 loài
động vật đáy cũng cần được bảo vệ.
2.2.4. Tài nguyên nhân văn
Quần đảo Cát Bà có tiềm năng phát triển du lịch cả về tự nhiên lẫn nhân văn.
Cát Bà còn lưu giữ các di tích cổ sinh, di chỉ khảo cổ học, di tích lịch sử - văn hóa
như thành nhà Mạc, khu thương cảng (bến Gốm), di chỉ Cái Bèo và đặc biệt là hoá
thạch trầm tích trong hang động Đá Trắng. Theo giám định của Viện Khảo cổ học,
hóa thạch được tìm thấy có niên đại Pleistocen muộn (từ 01 triệu đến 11.000 năm
trước).
Môi trường thiên nhiên của Cát Bà-Cát Hải đã là cái nôi của người từ cổ xưa.
Các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật 17 địa điểm trên đảo Cát Bà. Kết quả cho
thấy có tới 15 điểm có dấu tích của người cổ xưa như hang Eo bùa thuộc xã Hiền
Hào, Tùng Bà thuộc Vườn Quốc Gia, Bờ Đá, Khoăn Mui thuộc xã Trân Châu, Áng
Giám: Nguyễn khắc Minh, Bùi Quang Trịnh, Vũ Tiến Tước là người làng Hoàng
Châu đã học hành đỗ đạt tại cơ quan học viện cao nhất nước ta thời kỳ tiền Lê Hoàng
Triều. Người dân trên đảo có quyền tự hoà về con đường học hành, đỗ đạt của cha
ông một thời.Có thể nói văn hoá của huyện đảo Cát Hải phong phú đa dạng bởi lẽ
người dân định cư trên đảo có nguồn gốc từ nhiều nơi họp thành là cộng đồng những
người sống bằng nghề biển vùng Duyên Hải.
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48
Chuyên đề thực tập
Đến với Cát Bà, chúng ta còn được hòa mình vào lễ hội làng cá được tổ chức
vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 hàng năm để ghi nhớ ngày Bác Hồ về thăm làng cá Cát
Bà.
2.2.5. Khu dự trữ sinh quyển
Quần đảo Cát Bà có rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các
rặng san hô, thảm rong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng, là nơi hội tụ đầy đủ
các giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm các yêu cầu của khu dự trữ sinh quyển
thế giới theo quy định của UNESCO.
Cát Bà đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới ngày 02
tháng 12 năm 2004. Ngày 1 tháng 4 năm 2005 tại đây đã diễn ra lễ đón nhận bằng
quyết định của UNESCO và kỷ niệm sự kiện này. Việt Nam hiện có 06 khu dự trữ
sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận là: Cần Giờ, Cát Tiên, châu thổ sông
Hồng, miền Tây Nghệ An, Kiên Giang và quần đảo Cát Bà.Tổng diện tích khu dự trữ
sinh quyển Cát Bà rộng hơn 26.000 ha, với 2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không
có tác động của con người), 2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế song kết
hợp với bảo tồn) và 2 vùng chuyển tiếp (phát triển kinh tế). Khu dự trữ sinh quyển
Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn,
các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang động.
2.2.6. Điều kiện kinh tế-xã hội
Với lợi thế gần biển đã tạo điều kiện thuận lợi cho Cát Bà phát triển kinh tế.
thành phố Hải Phòng và Bộ Thuỷ Sản đã coi Cát Bà là trung tâm của dịch vụ thuỷ
sản. Chính phủ và Tổng cục du lịch đã quyết định phát triển Cát Bà thành trung tâm
Hải hiện nay làmột trung tâm hội tụ đầu tư với dự án quy hoạch du lịch sinh thái và
khu vực cảng biển Cát Don, Xuân Đàm và Cát Bà với tổng đầu tư trên 500 tỷ trên
diện tích 104ha và một số dự án khác.
2.2.7. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Trong chiến lược phát triển Uỷ ban nhân dân và Huyện uỷ đã xác định “xây
dựng hạ tầng cần phải được ưu tiên tạo động lực cho sự phát triển của các ngành kinh
tế mũi nhọn”. Theo định hướng này, mấy năm qua huyện đã triển khai tích cực việc
xây dựng hạ tầng với hiệu quả cao. Theo đó, huyện đã đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng
nhằm khuyến khích đầu tư vào các trung tâm dịch vụ hỗ trợ thuỷ sản và du lịch tại
đảo Cát Bà. Hoàn thành kế hoạch xây dựng huyện Cát Hải và kế hoạch chi tiết thị
trấn Cát Bà để trình uỷ ban nhân dân Hải Phòng phê duyệt theo đó, huyện Cát Hải sẽ
mở rộng theo hướng tây về xã Phu Long. Ngoài ra huyện sẽ tích cực triển khai con
đường liên đảo thứ 2 xuyên qua Cát Bà, Gia Luận và Tuần Châu, tiếp tục đầu tư cho
các công trình xây dựng, xây dựng các trường học nhiều tầng, nâng cấp bệnh viện và
các trung tâm y tế. Cho tới nay, hầu hết các con đường nội hạt đã được bê tông và
nhựa hoá. Các tuyến nội đảo qua Đình Vũ, Cát Hải và Cát Bà đã khuyến khích tăng
mạnh lưu lượng xe cộ và hành khách đi lại. Tuyến giao thông khác là sử dụng tầu cao
tốc để chuyên chở, phục vụ du lịch và phát triển phúc lợi xã hội. Tuy nhiên với vị trí
Sinh viên: Hoàng Thị Dịu Du lịch 48