Chương 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc chuyển từ khai thác sử dụng gỗ rừng tự nhiên sang kinh doanh rừng trồng là
sự phát triển tất yếu của ngành lâm nghiệp ở các nước có ngành lâm nghiệp phát
triển. Trong một vài thập niên gần đây, Việt Nam đang phát triển phạm vi rộng trồng
rừng với các loài cây mọc nhanh nhằm cung cấp gỗ xẻ công nghiệp và cho các ngành
công nghiệp giấy, ván dăm và đóng đồ gia dụng khác. Đây được xem là một chiến
lược để bù đắp sự thiếu hụt nhu cầu về gỗ và đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng
trên thị trường bao gồm cả nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Trong những
năm trở lại đây, những loài cây mọc nhanh như cây Keo và Bạch đàn đã được lựa
chọn nhiều nhất. Khoảng 500.000 ha đã trồng thành rừng Keo ở Việt Nam. Trong số
đó, Keo tai tượng A. mangium, Keo lai giữa Keo tai tượng A. mangium và Keo lá
tràm A. auriculiformis là phổ biến nhất bởi tốc độ sinh trưởng nhanh. Tính phổ biến
của cây Keo lai và Keo tai tượng ở Việt Nam được khẳng định bởi sự lan rộng nhanh
ở các rừng trồng trên phạm vi cả nước. Gỗ của các loài cây Keo này không những là
rất thích hợp với nguyên liệu giấy mà còn tăng đối với nhu cầu sử dụng cho công
nghiệp làm đồ gỗ gia dụng. Tuy nhiên năng suất và chất lượng của các rừng trồng
Keo hiện nay vẫn còn hạn chế so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Để kinh doanh rừng trồng, giống đóng một vai trò hết sức quan trọng bởi nó là
nhân tố quyết định đến năng suất và chất lượng của sản phẩm (Lê Đinh Khả, 2011).
Theo Davidson (1996) tiến hành nghiên cứu đối với các rừng trồng kinh tế trồng các
loài cây mọc nhanh ở các nước nhiệt đới cho thấy vai trò của giống chiếm tỷ trọng
60% trong việc tăng năng suất của rừng trồng.
Thấy được vai trò quan trọng của công tác giống cây rừng, từ năm 2000 cho đến
nay với sự ra đời của Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm
nghiệp, các nhà khoa học nghiên cứu về giống đã đạt được những thành tựu nổi bật
về việc khảo nghiệm loài/ xuất xứ và thiết lập đươc tập đoàn giống có tính đa dạng di
truyền cao và năng suất cao cho những loài cây mọc nhanh như Keo và Bạch đàn.
Tuy nhiên, công tác giống chỉ mới tập trung ở các vùng sinh thái vùng thấp, trung
du, mà chưa tập trung nhiều đối với vùng núi cao. Đặc biệt vùng núi phía Bắc là nơi
có diện tích trồng rừng Keo rất lớn trong những năm qua, song việc khảo nghiệm
bình quân chung của các xuất xứ Keo tai tượng và các dòng Keo lai.
- Đánh giá khả năng thích ứng sinh thái và chống chịu sâu bệnh hại của các xuất
xứ Keo tai tượng và các dòng Keo lai.
- Khuyến cáo về việc lựa chọn một số giống tốt phục vụ cho công tác trồng rừng
hiện nay đối với vùng Tuyên Quang nói riêng và vùng miền núi phía Bắc nói
chung.
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đây là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống về khảo
nghiệm các xuất xứ Keo tai tượng và các dòng Keo lai ở vùng núi phía Bắc.
2
- Ý nghĩa thực tiễn: Xác định được một số xuất xứ Keo tai tượng và một số dòng
Keo lai có khả năng thích ứng ở địa bàn Tuyên Quang nói riêng và các tỉnh miền
núi phía Bắc nói chung.
3
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng, đặc biệt với
đối tượng là rừng trồng sản xuất. Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh
tế thì không thể đưa năng suất rừng trồng lên cao. Nghiên cứu của Davidson (1996)
về một số loài cây mọc nhanh ở vùng nhiệt đới đã thấy năm đầu sau khi trồng cải
thiện giống chỉ đóng góp 15% của năng suất thì đến năm thứ ba là 50% và năm thứ
sáu là 60%. Vì thế nghiên cứu chọn tạo giống cây rừng là một khâu thể thiếu trong
sản xuất lâm nghiệp.
lãnh thổ riêng biệt do đã thích ứng với lãnh thổ đó qua chọn lọc tự nhiên (Zobel và
Talbert, 1984).
Theo Zobel và Talbert (1984) thì nòi địa lí và xuất xứ là những khái niệm tương
đồng. Tuy vậy, nòi địa lí là thuật ngữ mang tính sinh thái di truyền, trong lúc xuất xứ
lại mang tính chất là nguồn gốc giống, thường được dùng trong công tác chọn giống.
* Xuất xứ (provenance): Tuỳ theo đặc điểm sinh thái mà mỗi loài cây đều có phạm vi
phân bố nhất định. Loài có biên độ sinh thái rộng thì có phạm vi phân bố lớn, loài có
phạm vi phân bố hẹp thì có phạm vi phân bố nhỏ. Mỗi một khu phân bố có điều kiện
sinh thái đặc trưng được gọi là một xuất xứ (provenance). Xuất xứ là địa điểm của
cây bố mẹ được lấy vật liệu giống (hạt, hom cành, mô, phấn, v.v…). Xuất xứ nguyên
sinh hay xuất xứ tự nhiên là nơi lấy giống từ rừng tự nhiên (trong trường hợp này
xuất xứ đồng nghĩa với nguồn gốc), xuất xứ phát sinh là nơi lấy giống từ rừng trồng.
Các xuất xứ khác nhau thường gắn với các điều kiện sinh thái địa lý khác nhau. Khi
biến dị là liên tục, các xuất xứ chỉ thể hiện khác biệt ở tỉ lệ sống và sức sinh trưởng
thì xuất xứ cũng có nghĩa là tập hợp những điểm dị biệt giữa những sinh vật đồng loại
(cline), còn khi không có sự khác biệt cần thiết thì đó chỉ thuần tuý là nơi lấy hạt hay
nguồn hạt. Vì thế, các xuất xứ có sự khác biệt cần thiết thì hạt cần được thu hái ở
những nơi cách nhau 300m về độ cao và 160km về vĩ độ (Zobel và Talbert, 1984).
* Nòi địa phương (land race): Nòi địa phương là một quần thể của những cá thể đã
thích ứng với điều kiện hoàn cảnh được gây trồng và cho hạt hữu thụ (Zobel và Talbert,
1984).
* Nguồn hạt (seed source): Nguồn hạt là thuật ngữ thuần tuý để chỉ nơi lấy hạt (Zobel
và Talbert, 1984). Thí dụ, Thông ba lá (Pinus kesiya) được lấy giống từ Đà Lạt để
trồng khảo nghiệm ở Zambia (Châu Phi), sau đó hạt giống thu thập từ Zambia lại
được ding để trồng khảo nghiệm ở các nơi khác trên thế giới thì nguồn hạt là Zambia
có xuất xứ gốc vẫn là Đà Lạt. Đồng thời xuất xứ Zambia cũng được gọi là nòi địa
phương (Hansen, 1998). Tuy nhiên trong một số trường hợp người ta vẫn không phân
5
cùng với việc áp dụng các biện pháp trồng rừng thâm canh (Zobel và Talbert, 1984).
6
2.1.2. Vị trí của khảo nghiệm xuất xứ trong công tác giống cây rừng
Cây rừng có đời sống dài ngày, vì thế lợi dụng biến dị tự nhiên ở các mức độ
khác nhau là con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất để chọn tạo các giống mới có
năng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng các yêu cầu cảu sản xuất. Việc chọn xuất xứ
chính là lợi dụng biến dị tự nhiên sẵn có, là khâu chọn giống mang lại kết quả nhanh
nhất, tạo được giống có tính ổn định di truyền nhanh nhất. Theo Saperon (1994) kết
quả chọn xuất xứ có thể coi là giống xuất xứ và có thể nhân giống hom hàng loạt để
phát triển trực tiếp vào sản xuất, song ở một số loài và một số tính trạng biến dị cá thể
lại có vai trò rất lớn. Khi chọn giống theo tỷ trọng gỗ biến dị cá thể chiếm đến 70%,
trong khi biến dị xuất xứ là 15%, còn biến dị điều kiện lập địa chỉ là 15%.
Khảo nghiệm xuất xứ là một trong những khâu quan trọng của hoạt động cải
thiện giống cây rừng. Sơ đồ chung của hoạt động cải thiện giống cây rừng là:
Rừng tự nhiên hoặc rừng trồng —› khảo nghiệm loài —› khảo nghiệm xuất xứ
—› chọn lọc cây trội—› xây dựng rừng giống và vườn giống —› lai giống —›
nhân giống —› rừng trồng mới.
Khảo nghiệm
loài (chọn loài)
A
Khảo nghiệm xuất
xứ (chọn xuất xứ)
Chọn lọc cây trội
Lai giống
dùng để xây dựng rừng giống để lấy giống phát triển vào sản xuất. Đây cũng là những
quần thể làm cơ sở cho việc chọn lọc cây trội và tiếp tục cải thiện giống về sau.
2.2. Lịch sử khảo nghiệm loài và xuất xứ
2.2.1. Trên thế giới
Khảo nghiệm loài và xuất xứ đầu tiên trong lâm nghiệp được Vilmorin tiến hành
cho Thông châu Âu (Pinus silvestris) tại Les Barres gần Paris của Pháp vào năm
1821. Sau đó là khảo nghiệm xuất xứ cho thông rụng lá châu Âu (Larix deciua) do
Cieslar tiến hành tại Vienerwald ở áo vào năm 1887 (Magini, 1974). Trong các năm
1908 và 1938 Hiệp hội các tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (IUFRO) đã tổ
chức khảo nghiệm xuất xứ cho 13 lô hạt của Thông têda (Pinus taeda) được thu nhập
từ 11 nơi của các nước khác nhau (Tewari, 1994). Năm 1926, một khảo nghiệm quốc
tế do 17 xuất xứ Vân sam (Picea abies) được thu nhập từ Pháp, Italia và Áo đã được
xây dựng ở Pháp và Italia (Magini, 1974). Trong các năm 1929 - 1936 nhà di truyền
chọn giống cây rừng Thụy Điển là Langlet đã có một khảo nghiệm đồ sộ cho Pinus
silvestris bằng cách thu hái hạt từ 582 quần thụ thuộc các vùng khác nhau trong cả
nước để gây trồng ở một số vùng sinh thái chính (Tewari, 1994).
Tại Indonesia từ năm 1932 đã có khảo nghiệm xuất xứ cho Tếch (Tectona
grandis). Các xuất xứ Tếch từ Lào, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ và Indonesia đã được
thu thập và xây dựng khảo nghiệm so sánh tại Indonesia (Coster và Eidmann, 1934).
Cuối những năm 1950 hàng loạt khảo nghiệm loài và xuất xứ cho những loài
cây trồng rừng quan trọng nhất đã được xây dựng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó
phải kể đến các khảo nghiệm xuất xứ cho Thông Caribê (P. Caribaea) đã được xây
8
dựng ở Fiji vào năm 1955. Đến năm 1968 đã thấy rằng trong các thứ (Varieti) được
khảo nghiệm thì tốt nhất là các xuất xứ của P. caribaea var. Hondurenssis, tiếp đến là
P. caribaea var. bahamensis và cuối cùng là P. caribaea var. caribaea (Bell, 1978).
9
Tiếp đó vào những năm 1960 đã xây dựng các khu khảo nghiệm loài tại Đà Lạt
cho một số loài cây lá kim như P. kesiya, P. caribaea, P. patula, P. taeda, P.
massoniana, P. elliottii, P.
radiata, P. taiwanensis, P. pinea, P. longifonia, P.
thumbergii, Fokienia hodginsii, Cupresus benthami, Cupresus pyramidalis, Cupresus
funebris,
Cupresus
macrocarpa,
Calitris
obtuse,
Calitris
robusta,
Calitris
cupresiformis, v.v… Đến nay chỉ còn lại một số loài như P. caribaea, P. patula,
Calitris obtuse, trong đó P. caribaea var. Hondurensis tuy không cho hạt hữu thụ, song
là loài cây rất có triển vọng để cây trồng ở vùng Lang Hanh (có độ cao 900 - 1000m)
của Đà Lạt. Cùng thời gian này một số loài keo (Acacia spp.) cũng được đưa vào khảo
Có thể nói, khảo nghiệm loài và xuất xứ ở nước ta được tiến hành tương đối
chậm, song đã thực hiện cho nhiều loài cây trồng rừng chủ yếu trên các vùng sinh
thái chính với một nhịp độ khá khẩn trương. Từ đó đã xác định được một số xuất xứ
có triển vọng nhất của một số loài, làm cơ sở cho các chương trình trồng rừng ở Việt
Nam.
Đối với loài cây Keo, từ những năm 1980 một loạt khảo nghiệm cho các loài Keo
vùng đồi thấp đã được xây dựng ở nhiều nơi trong nước. Đó là các loài Keo lá tràm
(A.auriculiformis), Keo tai tượng (A.mangium), Keo lá liềm (A.crassicarpa), Keo nâu
(A.aulococarpa) và Keo quả xoắn (A.cincinnata). Qua một thời gian khảo nghiệm
đến nay chúng ta đã biết những loài có triển vọng cho các chương trình trồng rừng là
A.mangium, A.crassicarpa và A.auriculiformi (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng,
2003).
Năm 1993 đã tiến hành khảo nghiệm cho hơn 10 loài Keo chịu hạn như A.tumida,
A.difficilis, A.torulosa, v.v… đã được xây dựng tại Tuy Phong (lượng mưa 700-800
mm/năm) thuộc tỉnh Bình Thuận và Ba Vì (lượng mưa 1650mm/năm) thuộc tỉnh Hà
Tây (cũ). Các xuất xứ thuộc 25 loài Keo vùng cao như A.maernsii, A.melanoxylon,
v.v… cũng được xây dựng tại Đà Lạt (1600m trên mặt biển) và núi Ba Vì (600m trên
mặt biển) và một số nơi khác (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003).
Lê Đình Khả và cộng sự (2008) cũng đã tiến hành khảo nghiệm các loài Keo vùng
thấp tại Đá Chông- Ba Vì được trồng từ năm 1990, khai thác năm 2007 cho thấy sự
khác biệt rất lớn của giống ở các mức độ loài và xuất xứ. Ví dụ như loài Keo tai
tượng đạt năng suất 22,5m3/ha/năm, thì Keo quả xoán chỉ đạt 3,8m3/ha/năm. Ngay
Keo tai tượng, loài được coi là sinh trưởng nhanh nhất tại Đá Chông cũng có sinh
trưởng hoàn toàn khác nhau giữa các xuất xứ , trong lúc xuất xứ Pongaki (PNG) có
thể đạt năng suất 28,5 m3/ha/năm.
Đối với Keo lai, khảo nghiệm khu vực hóa ở dạng hỗn hợp cho các dòng keo lai
được chọn ( BV5, BV10, BV16, BV29, BV33, BV32) đã dược xây dựng tại 10 địa
điểm từ Hàm Yên (Tuyên Quang) ở 22002’độ vĩ Bắc đến Long Khánh (Đồng Nai) ở
10057’ độ vĩ Bắc có điều kiện khí hậu và đất đai khác nhau trong cả nước. Kết quả
Phân họ (subfamilia): Trinh nữ (Mimosoideae)
Chi (genus): Keo (Acacia)
Loài (species): Keo tai tượng (A.mangium)
Tên hai phần: Acacia mangium Willd
Tên khác: Keo lá to, Keo đại, Keo mỡ.
12
* Đặc điểm hình thái: Keo tai tượng là cây gỗ trung bình, tuổi thành thục thường cao
trên 15m, đường kính 40-50cm, cây non mới mọc lúc đầu (khoảng 1-2 tuần tuổi) có
lá kép lông chim 2 lần, sau đó mới ra lá thật lá đơn mầu trắng hoặc mầu vàng nhạt, lá
keo to rộng 10cm, hoa màu trắng hoặc vàng, quả xoắn vặn.
* Đặc điểm sinh thái: Keo tai tượng là cây sinh trưởng tương đối nhanh, trong rừng
trồng có thể cao thêm 1,3 - 1,5m, đường kính tăng từ 1,5 - 1,8cm mỗi năm. Từ tuổi 20
trở lên tốc độ sinh trưởng chậm dần. Keo tai tượng ra hoa vào tháng 9 - 10 quả chín
tháng 2-3 năm sau. Cây 3 tuổi có thể ra hoa và kết quả. Keo tai tượng là cây ưa sáng,
sinh trưởng nhanh, rễ có nốt sần, có khả năng tái sinh bằng hạt và chồi tốt. Keo tai
tượng thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ bình quân 29 - 30oc, chỉ chịu được
sương giá nhẹ, lượng mưa 1000 - 4500mm/năm. Không có mùa khô kéo dài, Keo tai
tượng sinh trưởng trên đất bồi tụ, dốc tụ sâu, ẩm độ tốt, trên đất xói mòn mỏng lớp
đất khô hạn nghèo dinh dưỡng, chua PH: 4 - 5 vẫn sống, song sinh trưởng kém (Lê
Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999).
* Phân bố địa lý: Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở đông Bắc Australia, PNG, phía
Đông Indonesia, ở độ cao dưới 100m so với mực nước biển, thường mọc ven sông,
vùng đồng cỏ, rừng ngập mặn, rừng tràm. ở Việt Nam ta hiện nay đang mở rộng
trồng ở hầu hết các tỉnh đồng bằng cũng như trung du đến độ cao 400 - 500m so với
mặt nước biển, trên nhiều loại đất khác nhau: đồi bị xói mòn, chua, nghèo, xấu, khô
hạn... nó vẫn sinh trưởng bình thường và ra hoa kết quả (Lê Mộc Châu và Vũ Văn
Dũng, 1999).
tới 12.8cm và chiều cao trung bình có thể đạt tới 16.9m. Keo lai loài cây ưa sáng,
sống được ở nơi nhiệt độ bình quân là 220C tối thích là 24 - 280C và giới hạn là 400C,
lượng mưa 1500 - 2500mm/năm. Đất đai chủ yếu trồng trên các loại đất Feralit tầng
dày tối thiểu 75cm, đất phù sa cổ, đất xám bạc màu…Mùa ra hoa quả gần như quanh
năm (Lê Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999).
* Phân bố địa lý : Keo Lai đã xuất hiện trong các rừng Keo tai tượng vào đầu những
năm 1990 ở một số vùng nước ta, sau đó được gây trồng để lấy giống ở Ba Vì, Hà
Tây. Ở nước ta cây Keo lai được gây trồng rộng rãi trên toàn quốc những năm gần
đây. Cây mọc hầu hết các dạng đất thích hợp nhất là từ Quảng Bình trở ra.
* Giá trị kinh tế : Keo lai thuộc họ đậu nên có tác dụng cải tạo đất tốt, chống xói
mòn. Gỗ thẳng màu trắng có vân, có lõi giác phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt:
Kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng
đồ mỹ nghệ, hàng xuất khẩu. Gỗ cho nhiệt lượng cao có thể sử dụng làm củi hoặc
than chạy máy. Cây có hình dáng đẹp có thể trồng làm rừng phong cảnh. Ngoài ra lá
có thể làm thức ăn gia súc như dê, hươu,…
14
2.4. Một số thông tin cơ bản về khu vực nghiên cứu
2.4.1. Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1. Vị trí địa lý
Sơn Dương là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm
Thị xã Tuyên Quang 30 km về phía Đông Nam, có các vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc, giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Phía Đông, giáp huyện Định Hoá và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Phía Nam, giáp huyện Lập Thạch và huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phía Tây, giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và huyện Đoan Hùng, tỉnh
Phú Thọ.
hoặc Bắc; mùa hè là hướng Đông Nam hoặc Nam; tốc độ của các hướng gió đạt 1m/s.
2.4.2. Đất đai và tài nguyên rừng
2.4.2.1. Tài nguyên đất
Theo tổng hợp, trên địa bàn huyện Sơn Dương có các nhóm đất chủ yếu với
quy mô diện tích và phân bố như sau:
a. Nhóm đất phù sa: Chiếm khoảng 4,76% tổng diện tích tự nhiên, trong đó:
- Nhóm đất phù sa ngòi suối: Phân bố chủ yếu trên địa bàn các xã bám dọc
theo sông Lô và sông Phó Đáy; tầng đất dày, thành phần cơ giới cát pha-thịt nhẹ đến
trung bình, thích hợp cho việc trồng cây hàng năm, thường hay bị lũ lụt. Phần lớn loại
đất này thường được sử dụng trồng lúa 1 vụ hoặc lúa 2 vụ, năng suất trung bình thấp.
- Nhóm đất phù sa được bồi hàng năm: Phân bố chủ yếu trên địa bàn các xã
bám dọc theo sông Lô và sông Phó Đáy; tầng đất dày, thành phần cơ giới thị nhẹ đến
trung bình, thích hợp cho việc trồng cây hàng năm, thường hay bị lũ quét, bồi lấp phù
sa và sạt lở đất.
- Nhóm đất phù sa không được bồi hàng năm: Phân bố ở các bậc thềm cao hơn
đất phù sa được bồi tụ hàng năm; tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung
bình, thích hợp cho việc trồng cây hàng năm, năng suất ổn định.
b. Nhóm đất dốc tụ: Chiếm khoảng 3,89% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở
hầu hết các xã trong địa bàn huyện, trong các thung lũng giữa các dải đồi núi, thành
phần cơ giới thay đổi theo độ cao, đa số là trồng lúa.
c. Nhóm đất bạc màu: Chiếm khoảng 2,48% tổng diện tích đất tự nhiên, phân
bố ở các xã ven chân núi Tam Đảo; đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh.
d. Nhóm đất đỏ vàng: Chiếm khoảng 56% diện tích tự nhiên của huyện, trong
đó:
16
- Nhóm đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: Phân bố hầu hết ở các xã trên địa bàn
Bảng 2.1: Diện tích và trữ lượng các loại rừng huyện Sơn Dương năm 2009
Loại đất, loại rừng
Trữ lượng (m3)
Diện tích
Ha
%
Diện tích tự nhiên
52617,06
Đất lâm nghiệp
24.582,07
I. Đất có rừng
21.160,18
100,00
564.779,50
1.1.Rừng tự nhiên
4.477,75
Rừng trung bình
-
Rừng nghèo
1.261,91
28,18
50.476,40
-
Rừng phục hồi
1.620,36
36,19
5.877,55
230,57
5,15
8.069,95
230,57
16.682,43
78,84
464.190,00
1.2.1.Rừng gỗ có trữ lượng
9.283,80
55,65
464.190,00
1.2.2. Rừng gỗ chưa có TL
7.155,39
42,89
-
1.2.3. Rừng tre, vầu
63,82
0,38
319,1 nghìn cây
Dân số toàn huyện có 43.370 hộ với 171.795 nhân khẩu. Mật độ dân số bình
quân của toàn khu vực là 46 người/km2; dân số phân bố không đều, chủ yếu tập trung
18
ở thị trấn Sơn Dương, và các xã phía Nam huyện. Trên địa bàn huyện Sơn Dương có
10 dân tộc cùng sinh sống như: Kinh, Tày, Cao Lan, Dao, Sán Dìu, Sán Chí, Nùng,
Mông, Hoa, Mường…. Trong đó, đông nhất là dân tộc Kinh chiếm khoảng 58%, còn
lại các dân tộc khác chiếm khoảng 42%. Số người trong độ tuổi lao động là 95.527
người (chiếm 55,6% dân số). Hiện tại lao động ở khu vực nông thôn mới sử dụng
80% cố ngày làm việc trong năm trên có thể huy động lao động nhàn rỗi cho công tác
bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương.
Sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản) giữ vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế và ổn định đời sống nhân dân. Trên địa bàn huyện đã
hình thành vùng sản xuất hàng hóa như: Vùng trồng cây công nghiệp (chè, mía), lạc,
đậu tương và cây thực phẩm; ngày càng xuất hiện nhiều hộ chăn nuôi với quy mô lớn
theo phương pháp bán công nghiệp và công nghiệp.
Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu là bảo vệ, tu bổ làm giàu rừng và khai thác rừng.
Người dân địa phương phát triển kinh tế nhờ tham gia trồng rừng, chăm sóc rừng,
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng của chương trình 327, dự án 661 và trồng rừng sản
xuất bằng vốn tự có. Thu nhập từ phần kinh tế rừng đã làm tăng thu nhập, nâng cao đời
sống cho nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Đánh giá chung: Điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện là thuận lợi và phù
hợp cho phát triển lâm nghiệp đặc biệt đối với phát triển cây Keo tai tượng và Keo
lai.
19
20578
Acasia mangium
SSO KURANDA
Australia
2
20935
Acasia mangium
SSO Siloo – Philippines
3
21034
Acasia mangium
SPA Bavi – Vietnam
4
21071
Acasia mangium
SSO Kuranda 1-PNG Nth - QuenslandAustralia QLD
WIPIM-ORIOMO -Papua new guinea
9
21072
Acasia mangium
SSO Damper-PNG SW - QuenslandAustralia QLD
2
–Quensland-
20
Trong đề tài này, số lô hạt đồng thời để chỉ chung cho xuất xứ giống của lô hạt
đó. Vì vậy, khi nhắc tới lô hạt cũng có nghĩa là nói đến xuất xứ của chúng.
*Thiết kế khu khảo nghiệm:
Thiết kế khảo nghiệm theo khối hình vuông latin bao gồm 9 nguồn hạt giống
khác nhau, 4 lần nhắc lại và trong mỗi một ô gồm 36 cây. Khoảng cách sẽ là 3m x
3m.
Khu khảo nghiệm được bố trí theo sơ đồ sau:
21016
20132
21071
20940
RII
20133
21071
21072
20935
21034
21016
20132
20940
20578
RI
21072
20940
20578
Đường nhựa đỉnh đèo khế
Hình 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm các xuất xứ Keo tai tượng
3.3.2. Vật liệu trồng và bố trí thí nghiệm các dòng Keo lai
*Vật liệu trồng:
Gồm 7 dòng Keo lai và một giống Keo tai tượng làm đối chứng. Thông tin
được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.2: Thông tin về các dòng Keo lai trồng khảo nghiệm
TT
Dòng
Loài
Nguồn gốc
1
BV10
Keo lai
Giống quốc gia
2
BV16
Keo lai
Keo lai
Giống tiến bộ kỹ thuật
7
BV75
Keo lai
Giống tiến bộ kỹ thuật
8
ĐC
Keo tai tượng
Công ty giống TW
21
* Thiết kế khu khảo nghiệm:
Thiết kế khảo nghiệm theo khối hoàn thiện ngẫu nhiên gọi là “Thiết kế theo
cột – hàng” (“Row-Column Design”). Khu thí nghiệm được bố trí gồm 8 dòng khác
nhau, 4 lần nhắc lại theo từng ô thí nghiệm, mỗi thí nghiệm gồm 20 cây khoảng cách trồng
là 3 x 3 m. Khu khảo nghiệm được bố trí theo sơ đồ sau:
Phía đỉnh trên
Hình 3.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm các dòng Keo lai
3.3.3. Trồng và chăm sóc thí nghiệm
* Chuẩn bị khu thí nghiệm: Khu bố trí thí nghiệm phải được dọn thực bì và phải
được thiết kế hàng rào trước khi trồng. Tất cả các khối thí nghiệm lặp lại và các ô thí
nghiệm phải được đánh dấu, sau đó đào hố kích thước 40 x 40 x 40 cm.
* Trồng cây ô thí nghiệm:
- Trồng cây tiến hành vào tháng 6/2009.
- Trồng dặm: Sau khi trồng một tháng, tiến hành kiểm tra toàn bộ khu thí
nghiệm, nếu cây bị hư hỏng hoặc chết phải tiến hành trồng dặm lại, chỉnh sửa những
cây bị nghiêng, bị đổ. Những cây chết hoặc hư hỏng sẽ được thay thế đúng cây có
cùng nguồn gốc giống.
* Bón phân: Việc bón phân NPK sẽ được áp dụng cho việc trồng cây con giống trên
khu thí nghiệm để đảm bảo khả năng sinh trưởng. 50g phân NPK được bón cho mỗi
cây trước khi trồng. Tiếp tục bón tiếp 50g sau 2 tháng. Đào hố sâu 10 - 15 cm so tính
từ cổ rễ cây để bón phân.
* Bảo vệ và làm cỏ: Phải đảm bảo cây con ở giai đoạn đầu phát triển không bị cạnh
tranh hoàn toàn cỏ dại. Số lần làm cỏ tùy thuộc vào điều kiện nơi bố trí thí nghiệm.
22
Thông thường ít nhất có 3 lần làm cỏ bắt buộc trong vòng 18 tháng đầu. Hàng rào cản
lửa với khoảng cách 8 m chiều rộng phải được thiết kế xung quang khu thí nghiệm.
*Tỉa cành: Các thí nghiệm có thể chọn tỉa cành cho mục đích đo đếm và duy trì. Tỉa
cành trong khoảng cây có chiều cao từ 2 - 6m.
3.3.4. Phương pháp thu thập số liệu
* Theo dõi về sinh truởng, sâu bệnh hại và chất lượng cây:
- Các chỉ tiêu sinh trưởng được lựa chọn để đánh giá bao gồm: Đường kính gốc (Doo),
Chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc).
Xuất xứ/dòng :………….................................... Lần lặp thứ :…………...
Địa điểm
:…………………………………….....................................
Người điều tra:……………………………………....................................
HVN
(cm)
TT
HDC
(cm)
D00//D1.3
(cm)
Tình hình
sâu bệnh
Chất lượng cây
Tốt
TB
Xấu
Ghi chú
* Phương pháp tính các chỉ số bình quân
24
Tính các trị số trung bình và sai tiêu chuẩn mẫu của Doo, D1.3, Hvn , Hdc bằng Excel
trên máy vi tính.
- Vào Excel sau đó nhập các số liệu về Doo, D1.3, Hvn , Hdc của mỗi ô thí nghiệm
vào một cột theo hàng dọc.
- Trên thanh công cụ Tools vào Data Analysis
- Trong hộp hội thoại Data Analysis chọn mục Desriptive statistic
- Hộp thoại xuất hiện ta lần lượt thực hiện các bước sau:
+ Khai vùng số liệu đã được nhập vào mục Input range
+ Khai vùng xuất kết quả vào mục Output range
+ Chọn và tích vào mục Summary statistic
+ Bấm OK ta sẽ được một bảng kết quả trong đó:
Mean: Là trị số trung bình mẫu (X) cần tính
Standard Deviation: Là sai tiêu chuẩn mẫu (S) cần tính
Sau khi tính các trị số trung bình và sai tiêu chuẩn mẫu của Doo, D1.3, HVn , HDc từ đó
tiến hành tính hệ số biến động (%S) theo công thức:
Kết quả tính được ghi vào mẫu bảng sau:
Bảng tổng hợp kết quả chiều cao vút ngọn trung bình và các đặc trưng mẫu
Lần đo
Dòng
Hvn
S