Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài:
MARKETING TRỰC TUYẾN CỦA CÔNG TY
TNHH DU LỊCH & THƯƠNG MẠI BỐN MÙA
Giáo viên hướng dẫn
:
PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Sinh viên thực hiện
:
Nguyễn Thị Ngọc
Lớp
:
Du lịch 48
MSSV
:
CQ481989
Hệ
:
Chính quy
HÀ NỘI - 2010
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
1
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
MỞ ĐẦU
Đầu tháng 4/2010, tổ chức nghiên cứu Marketing và nhãn hiệu Cimigo đã công bố
các con số thống kê về tình hình sử dụng Internet ở Việt Nam qua một nghiên cứu
ảnh hưởng đến tất cả các ngành nghề lĩnh vực kinh doanh, không loại trừ bất cứ lĩnh
vực nào cả.
Theo tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã nhận định từ năm 1998 thì “Chìa
khóa dẫn đến thành công của các doanh nghiệp lữ hành nằm ở việc nhanh chóng nắm
bắt được những nhu cầu của khách hàng và đem đến cho những khách hàng tiềm
năng những thông tin đầy đủ, chính xác, độc đáo và cập nhật”. (GT QTKD LH,u
trang 307)
Là một sinh viên chuyên ngành Du Lịch và Khách Sạn Khóa 48, Trường Đại Học
Kinh Tế Quốc Dân, học tập trong một môi trường kinh tế đầy biển động và thay đổi,
phần nào cũng nhận thức được ảnh hưởng của Internet đến các hoạt động kinh tế nói
riêng, và các lĩnh vực khác nói chung. Tôi xin mạnh dạn chọn đề tài về lĩnh vực
Marketing Internet làm chuyên đề tốt nghiệp cho mình.
Lý do chọn đề tài:
Bản thân em là người viết chuyên đề thực tập rất mong muốn tìm hiểu tình hình
Marketing Internet ở một doanh nghiệp lữ hành cụ thể. Theo xu hướng chung của nền
kinh tế quốc gia và quốc tế, thì Marketing Internet (Marketing trực tuyến) ngày càng
đóng vai trò quan trọng, đặc biệt hơn nữa là đối với ngành kinh doanh Du lịch dịch
vụ.
Mặt khác, những kiến thức về Marketing Internet ứng dụng trong ngành du lịch
trong chương trình học mới chỉ được đề cập đến dưới dạng là kiến thức chung tổng
quát, chưa được đi sâu vào chi tiết cụ thể để có thể vận dụng khi thực hành công việc
trên thực tế. Qua việc thực hiện chuyên đề tốt nghiệp, người học rất mong muốn tích
lũy thêm kiến thức để có thể tự tin hơn khi vào nghề.
Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ nhu cầu sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin du lịch của khách hàng.
Thực trạng cung cấp những thông tin và dịch vụ của doanh nghiệp lữ hành.
Xác định công cụ cần thiết cho 1 trang web để thực hiện Marketing Internet.
Xác định quy trình thực hiện Marketing Internet.
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
3
dịch vụ của công ty được đặt ở các trang Web khác thì có nghĩa là họ đã làm
“Marketing Internet”.
Thực tế trong nhiều năm trở lại đây, Marketing Internet trên thế giới được coi như
là một ngành công nghiệp, và chính người làm nó thì coi nó như là một nghề vậy. Ở
Việt Nam thì cụm từ này được dịch ra là “marketing trực tuyến”, hay “tiếp thị trực
tuyến”…Cũng có nhiều cách hiểu cho rằng: Internet Marketing là việc tiếp thị sản
phẩm dịch vụ thông qua môi trường Internet…Nhằm cung cấp các thông tin về sản
phẩm dịch vụ của công ty, khuyến khích khách hàng sử dụng và trung thành với nó.
Tất cả những cách hiểu trên, thực ra chưa hoàn toàn đầy đủ. Những cách hiểu này
mới chỉ xuất phát từ một hoặc một vài khía cạnh của Marketing Internet.
Hiểu một cách đơn giản nhất thì Internet Marketing là việc làm Marketing trên
môi trường Internet. Sử dụng các phương tiện điện tử để giới thiệu và cung cấp các
thông tin về sản phẩm dịch vụ đến với khách hàng, và thuyết phục họ chọn nó. Suy
cho cùng, giữa Marketing truyền thống và Marketing Internet cuối cùng đều hướng
đến một mục đích là tìm kiếm thị trường cho sản phẩm và dịch vụ cho nhà sản xuất.
Sự khác biệt giữa e-marketing (marketing trực tuyến), e-business và e-commer
E-marketing: Được hiểu như là việc sử dụng các phương tiện điện tử trên môi
trường internet để giới thiệu, mời chào, cung cấp những thông tin về sản phẩm dịch
vụ của nhà sản xuất đến người tiêu dùng và thuyêt phục họ chọn nó.
E-business: Được hiểu như là tất cả các công việc kinh doanh kiếm tiền từ mạng,
từ bán các hàng hóa dịch vụ đến các hoạt động tư vấn đầu tư.
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
5
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
E-Commerce: Chỉ các hoạt động mua bán thông qua phương tiện điện tử. Ở đây
nhấn mạnh về phương tiện và phương thức thanh toán.
(Nguồn: />1.2 Nội dung của Marketing trực tuyến
1.2.1 Nguyên lý nền tảng của Marketing trực tuyến
Trong Marketing truyền thống thì người làm marketing cần phải hiểu và nắm rõ
được về mô hình 4P (Product, Price, Place, Promotion). Còn đối với Marketing
Và điều gì ở trang web sẽ khiến cho khách hàng quay trở lại? Có phải là do các
nguyên nhân sau hay không: dịch vụ trực tuyến, thông tin phản hồi của khách hàng
được xử lý tốt, vấn đề quản lý mối quan hệ khách hàng, chất lượng thông tin, bảo mật
khách hàng, an toàn?
Synergy (Hỗ trợ): Nghĩa là cần có thêm các thành phần này hỗ trợ thì kế hoạch
Marketing Internet mới vận hành tốt được: Kết hợp giữa chiến lược Marketing và các
hoạt động marketing. Kết hợp trang web với quá trình tổ chức, các cơ sở dữ liệu.
Tạo ra các mạng lưới liên kết với các đối tác, bên mà sẽ giúp giải quyết các vấn
đề liên quan đến hậu cần, thương mại và các hoạt động của trang web.
System (Hệ thống): Đó là tất cả những gì liên quan đến kỹ thuật, công nghệ và
quản trị website. Bao gồm phần mềm, phần cứng, các giao thức truyền thông, nội
dung quản lý, hệ thống dịch vụ, trang web chính, lưu trữ các quyết đinh, hệ thống
thanh toán, thực hiện phân tích.
Mối quan hệ gữa 4Ps trong Marketing truyền thống với Marketing trực
tuyến
Cho dù là làm Marketing trực tuyến thì mô hình 4Ps vẫn đóng một vai trò hết sức
quan trọng đối với người làm marketing trực tuyến và các hoạt động marketing trực
tuyến. 4Ps: Product, Price, Place, Promotion. Doanh nghiệp triển khai các hoạt động
marketing nhằm mục đích làm cho sản phẩm của doanh nghiệp được nhiều người biết
đến, thúc đẩy động cơ và hành vi mua của nhóm đối tượng khách hàng, đặc biệt là
khách hàng mục tiêu.
Product – sản phẩm vẫn đóng vai trò quan trọng, cả trong marketing truyền
thống và marketing trực tuyến. Sản phẩm mà không tốt thì không hy vọng gì được
khách hàng tin tưởng và sử dụng lại. Các nội dung thông tin mà doanh nghiệp giới
thiệu trên trang website của họ chiếm phần lớn là giới thiệu về sản phẩm dịch vụ của
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
7
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
họ. Thông tin trên website có đúng với thực tế thì mới mong khách hàng xây dựng
niềm tin và sự trung thành đối với doanh nghiệp. Nói như vậy có nghĩa là, cho dù
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
8
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Hiện nay đa phần là các chủ website miễn phí cho người sử dụng khi sử dụng dịch vụ
của họ (chủ yếu là download tài liệu) chỉ trừ một số trang web trong một vài lĩnh vực.
Place – Mạng lưới phân phối: Internet tạo ra một môi trường liên kết toàn cầu
không biên giới, nhưng không có nghĩa là place không tồn tại. Trong marketing trực
tuyến thì place được hiểu như là sự thuận tiện của khách hàng. Khách hàng có thể
chia sẻ trực tuyến những thông tin hữu ích mà họ biết đến cho bạn bè người thân của
họ thông qua các liên kết với các trang web xã hội như Facebook, Flickr, Twitter…
Ngày nay các trang web còn phải xây dựng thêm những công cụ phân phối của mình
trên điện thoại di động.
Promotion – Đây chính công đoạn chiếm nhiều thời gian nhất và giữ vị trí quan
trọng nhất đối với một kế hoạch Marketing trực tuyến. Trong marketing truyền thống
thì đối khi người ta vẫn triển khai hoạt động marketing mà không có chữ P này.
Song, chữ P này giữ vài trò sống còn đối với doanh nghiệp thực hiện marketing trực
tuyến. Khi 3 chữ P kia đã được xây dựng mà lại không có chữ P cuối cùng này thì
chẳng khác nào việc xây dựng một công viên giải trí ngoài đảo không người. Những
ai có nhu cầu thì tự bơi đến. Việc quảng bá trên internet này được hỗ trợ bởi các công
cụ như: quảng cáo trực tuyến, seo, e-mail marketing…So với marketing truyền thống
thì marketing trực tuyến tập trung nhiều nhất vào công đoạn này. Hiện nay ở Việt
Nam còn tồn tại khá nhiều doanh nghiệp xây dựng được website riêng cho công ty
mình, có những trang web rất chuyên nghiệp và đẹp đẽ nhưng lại không được daonh
nghiệp quảng bá website, thành ra tính hữu ích của website không được phát huy.
1.2.2 Các cách thực hiện Marketing trực tuyến
Quảng cáo trực tuyến:
Công việc này chính là việc đăng các thông tin quảng cáo cho sản phẩm và dịch
vụ của doanh nghiệp lên trên trang web chủ của công ty, và lên các không gian của
các trang web khác nữa. Nội dung chủ yếu mà các doanh nghiệp thường làm hiện nay
đó là thiết kế các banner quảng cáo với những hình ảnh và từ ngữ thu hút sự chú ý
300.000 Đ 700.000 Đ 1.200.000 Đ 2.300.000 Đ
Logo nhỏ bên trái
(163*68 pixel)
120.000 Đ 330.000 Đ 500.000 Đ 1.000.000 Đ
Banner lớn dưới cùng
(514*62 pixel)
270.000 Đ 600.000 Đ 1.200.000 Đ 2.100.000 Đ
Nguồn:
Catalogue điện tử:
Đây chính là một cuốn sách tổng hợp tất cả các thông tin về sản phẩm và dịch vụ
mà công ty cung cấp ra thị trường. Cuốn sách này không phải được in ra những trang
giấy để đọc, mà nó được đăng tải lên trang web chủ của công ty. Khách hàng có thể
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
10
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
nhìn thấy và có thể tìm kiếm những thông tin về sản phẩm sịch vụ như: tính năng, giá
cả, các dịch vụ hậu mãi, chắm sóc khách hàng…Nếu như trên mặt đất, các công ty
thường lựa chọn các Showroom để làm nơi trưng bày và giới thiệu sản phẩm thì
Catalogue điện tử cũng đóng vai trò tương tự như thế ở trên mạng.
Không có gì thất vọng hơn là khi người tiêu dùng truy cập vào trang website của
công ty bạn mà không tìm kiếm được những thông tin thích đáng về sản phẩm và
dịch vụ mà công ty bạn cung cấp.
Thư điện tử (E-mail):
Đây chính là các bức thư điện tử chứa đựng các thông tin có liên quan đến sản
phẩm, dịch vụ và công ty, các thư quảng cáo. Có 3 kiểu thư điện tử điển hình, thứ
nhất là thư điện tử từ công ty đến khách hàng, thứ hai là thư điện tử từ khách hàng
đến công ty, thứ ba là thư điện tử từ khách hàng đến khách hàng.
Đây là một phương pháp khá hay, tuy nhiên nhiều công ty đã lạm dụng thái quá
phương pháp này. Nhiều công ty gởi e-mail quảng cáo tràn lan (được gọi là Spam).
Chỉ nên gởi cho những e-mail đăng ký nhận tin, vì nếu không, những e-mail quảng
engine optimization – Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm). Tuy nhiên để công tác SEO đạt
được kết quả như mong muốn thì đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian và công sức.
Với SEO, đây là một cách để nâng cao thứ hạng của trang web trong danh sách
tìm kiếm mà không phải trả tiền, theo một số từ khóa nhằm tăng chất và lượng của
khách viếng thăm.
Các liên kết đến trang web của công ty:
Để thu hút lượng người truy cập vào trang web của công ty thì công ty cần phải
có nhiều liên kết chỉ đến trang web của mình càng tốt. Để thực hiện nó thì bằng cách
hoặc là trao đổi đường link của trang web mình với các trang web khác, đăng ký để
được đua vào các website về danh bạ, trang vàng. Hoặc cũng có thể trả tiền để được
đưa link vào các trang website tầm cỡ hơn.
Truyền thông (PR) và các diễn đàn thảo luận:
Đây là việc xây dựng cộng đồng cho trang web của công ty. Thông thường, các
công ty hay lập ra các diễn đàn, hoặc blog công ty. Đây cũng chính là nơi mà hay thu
hút được lượng người truy cập. Là nơi mà các thành viên hoặc khách ghé thăm có
thể trao đổi ý kiến, bình luận các vấn đề có thể liên quan hoặc không đến công ty.
Thường thì các trang diễn đàn có chức năng lưu giữ các vấn đề, các chủ đề nhất
định để người khác có thể vào xem và thảo luận. Do đó thu hút được khả năng quay
lại đọc và tiếp tục thảo luận của người khác. Ở một khía cạnh khác, khi mà công ty
của bạn có chiến lược rõ ràng khi tham gia các trang diễn đàn mà gây được thiện cảm
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
12
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
và niềm tin đối với cộng đồng dân cư mạng thì hình ảnh và thông tin về công ty của
bạn cũng sẽ được họ quan tâm cao hơn.
Ban đầu các công ty sử dụng phương pháp lôi kéo người nhà vào tham gia thảo
luận các diễn đàn, hoặc đi tham gia vào các diễn đàn khác, gây sự chú ý, và thu hút
những người khác vào diễn đàn của mình. Các trang blog miễn phí mà các doanh
nghiệp có thể mở diễn đàn như: my.opera.com, hoặc blogpost.com, yahoo.
Các nhà quản trị website, xuất bản web luôn muốn có những bài viết mới mẻ
hàng tiềm năng thì mới giúp lên được danh sách các diễn đàn và trang web rao vặt
phù hợp cho mục đích quảng cáo của doanh nghiệp. Bên cạnh đó cần phải thường
xuyên chăm sóc cho các tin đăng quảng cáo, cập nhật thông tin về sản phẩm và dịch
vụ, trả lời những ý kiến từ phía khách hàng, cộng đồng. Mỗi sự thay đổi đều được
các công ty tìm kiếm ghi nhận. Khả năng lên top tìm kiếm càng cao khi mà thời gian
thay đổi càng ngắn.
Chiến lược lan truyền (Viral Marketing):
Khi mà trang web của công ty bạn cho phép người truy cập sử dụng những tài
khoản e-mail miễn phí, nhắn tin, gửi thiệp điện tử. Thường thì khi mà người sử dụng
gửi e-mail hay tin nhắn đi từ địa chỉ đăng ký trên trang web của công ty thì luôn tự
động kèm theo địa chỉ website của công ty. Nếu như người nhận biết và thích dùng
chúng và gửi cho những người khác thì địa chỉ website của bạn được lan truyền rộng
hơn.
Các phương tiện thông tin truyền thống:
Để quảng bá được website của mình, thì một cách nữa cũng không nên từ chối
khi sử dụng các phương tiện thông tin truyền thống như: đăng quảng cáo lên báo,
truyền hình có kèm địa chỉ website, in lên danh thiếp, bao bì, các thư tín, và mẫu giấy
tờ của công ty…
Suy cho cùng, Marketing trực tuyến cũng giống với Marketing truyền thống ở chỗ
đều vận dụng chiến lược kéo và đẩy. Chiến lược kéo trong Marketing trực tuyến tức
là doanh nghiệp tự tìm đến các đối tượng khách hàng để mời họ vào thăm website
của mình. Quảng bá địa chỉ website cho thật nhiều người biết đến và vào xem nội
dung trang web của doanh nghiệp, quan trọng là hướng đến được với đối tượng
khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp. Các biện pháp cụ thể thường được vận dụng
là gởi thư điện tử mời chào, quảng cáo, các tin rao vặt. Cũng nhờ website, doanh
nghiệp có thê tìm kiếm thông tin về các đối tác tiềm năng, chủ động liên hệ chào
hàng.
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
14
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
15
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
mất hàng giờ hay thậm chí là hàng ngày để phát đi những bức thư theo kiểu truyền
thống.
Chi phí: Đây là một trong những lý do hàng đầu khi các doanh nghiệp lựa chọn
hình thức Marketing trực tuyến. Với Marketing trực tuyến sẽ tiết cho công ty của bạn
về các khoản chi cho việc thiết kế và in ấn các tờ rơi quảng cáo, các hoạt động tiếp
thị, chi phí nhân viên bán hàng. Mặt khác còn tiết kiệm cho nhà sản xuất các chi phí
về thuê mướn địa điểm để mở các của hàng giới thiệu sản phẩm, văn phòng công ty
không nhất thiết phải ở những nơi có tiền thuê đắt đỏ. So với các kiểu quảng cáo
truyền thống thì quảng cáo trong Marketing trực tuyến diễn ra liên tục hơn, bất cứ
thời gian nào (24/24h) khách hàng cũng có thể tiếp cận và tìm kiếm thông tin về sản
phẩm dịch. Chi phí cho loại hình quảng cáo trực tuyến này có những kiểu trả tiền
như: Trả tiền cho mỗi lần kích chuột (PPC: Pay Per Click), có nghĩa là doanh nghiệp
chỉ phải trả tiền mỗi khi có người (khách hàng) kích chuột vào các banner quảng cáo
của mình. Trong trường hợp doanh nghiệp đăng ký đăng các banner của mình lên các
website khác, và chủ website muốn thu phí.
Mặt khác, Marketing trực tuyến còn giúp doanh nghiệp kiểm soát được các thông
tin về sản phẩm dịch vụ của mình, tránh được tình trạng nhiễu thông tin.
Với người tiêu dùng:
Người tiêu dùng sẽ có cơ hội tiếp xúc với nhiều thông tin hơn liên quan đến
những nhu cầu và mong muốn của họ. Để từ đó có các cơ sở để so sánh giữa các sản
phẩm khác nhau. Thoải mái hơn trong việc lựa chọn. Khả năng tiếp xúc và trao đổi
với những nhà sản xuất và cung cấp hàng hóa dịch vụ dễ dàng hơn, để phản hồi, và
trao đổi ý kiến với họ, trực tiếp bày tỏ quan điểm, tham khảo thêm được những ý
kiến của các khách hàng khác.
Nhờ các hoạt động marketing trực tuyến của các doanh nghiệp, người tiêu dùng
sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí hơn trong việc lựa chọn và mua hàng. Không phải đi
lại nhiều, thời gian xem và mua hàng là 24/24h. Người tiêu dùng sẽ không còn phải
phẩm dịch vụ du lịch đều không thuộc loại hàng hóa mà có thể đem trưng bày như
các sản phẩm khác trong siêu thị hay các cửa hàng, showroom được. Người ta mua
nó trước khi nhìn thấy nó. Sản phẩm du lịch là thứ không thể lưu giữ được, cũng
không tồn kho được.
Bên cạnh đấy, Marketing trực tuyến cũng mở rộng mối quan hệ đối tác giữa các
công ty du lịch với nhau. Ví dụ như mối quan hệ giữa công ty lữ hành gửi khách và
công ty lữ hành nhận khách, giữa những nhà cung cấp với công ty lữ hành chẳng hạn.
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
17
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Một điều nữa là, các công ty lữ hành đều có vốn đầu tư kinh doanh không lớn,
ngân sách không cho phép để thực hiện các chương trình quảng cáo, tiếp thị
marketing truyền thống trong những khoảng thời gian dài, đặc biệt là các công ty lữ
hành mới thành lập, danh tiếng chưa có, quy mô không lớn. Để mà đưa các thông tin
giới thiệu về các chương trình du lịch trên truyền hình hay đài báo một cách đầy đủ
thì nội dung các tin quảng cáo ấy sẽ dài, chiếm nhiều thời lượng quảng cáo, phát
sóng. Và dẫn đến là tăng cao chi phí. Bản thân những chi phí cho quảng cáo trên
truyền hình, phát thanh đã là cao rồi. Khi thực hiện những chiến dịch quảng cáo thì
doanh nghiệp cần phải triển khai ồ ạt và tập trung, chứ không thể nhỏ giọt được, mới
mong tạo dựng được hình ảnh trong tâm trí khách hàng. Trong khi đó, internet lại
khắc phục được điểm này. Người tiêu dùng có thể truy cập mạng Internet 24/24h,
không bị giới hạn về thời gian và không gian, các nội dung quảng cáo trực tuyến vẫn
được lưu giữ, không mất đi, khách hàng có thể truy cập và đọc những tin quảng cáo
đó.
1.3 Các điều kiện để thực hiện Marketing trực tuyến
Vần đề nhân sự:
Khâu này đóng vai trò tiên quyết. Trong Marketing trực tuyến đòi hỏi những lao
động có trình độ cả về công nghệ lẫn các kiến thức về kinh tế, đặc biệt là các kiến
thức và kinh nghiệm về Marketing. Đối với Marketing trực tuyến, đôi khi nhân sự sẽ
được tinh giảm gọn nhẹ hơn. Nhất thiết phải cần một vị trí chuyên gia về Marketing
dịch vụ lưu trữ trên mạng hosting (hỗ trợ phát triển website cho công ty), hệ thống
mạng cục bộ và hệ thống mạng Internet, điện thoại, fax…
Ngày nay với sự phát triển chóng mặt của Internet băng thông rộng, không dây và
các dịch vụ internet 3G thì có thể nói là Internet đã đem đến những cánh cửa rộng mở
cho tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty nhỏ và vừa. Cùng với đó là sự cải
tiến khoa học công nghệ diễn ra liên tục. Các trang thiết bị máy tính, thông tin, viễn
thông ngày càng tinh xảo và tiện lợi hơn. Sẽ là một cơ hội nếu như doanh nghiệp đầu
tư ban đầu vào hệ thống cơ sở vật chất này. Một trong những lý do là bởi, nếu như
doanh nghiệp lựa chọn đường truyền internet tốc độ chậm, sẽ gây mất thời gian xử lý
thông tin và dữ liệu, đặc biệt là những thông tin đến từ phía khách hàng. Trong khi đó
“Xử lý thông tin nhanh” là một trong những kỹ năng đặc biệt quan trọng đối với
người làm Marketing Internet. Còn về những máy tính thế hệ cũ thì nó cũng kéo theo
làm giảm tốc độ xử lý và lưu trữ thông tin, dữ liệu. Giảm khả năng tích hợp với các
phần mềm khác có lợi cho hoạt động Marketing trực tuyến nói riêng, chiến lược
Marketing của doanh nghiệp nói chung.
Mục tiêu của kế hoạch Marketing trực tuyến:
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
19
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Cho dù thế nào thì mục tiêu của một kế hoạch Marketing trực tuyến của một công
ty cũng không tách rời chiến lược Marketing chung của toàn doanh nghiệp.
Marketing trực tuyến là một phần của chiến lược Marketing. Bộ phận triển khai
Marketing trực tuyến cần dựa vào đó để xác lập các hoạt động cụ thể.
Cũng như Marketing truyền thống, Marketing trực tuyến cũng cần phải xây dựng
thông tin, và xác định rõ ràng cho thông điệp Marketing của mình.
Đối tác, nhà cung cấp (bên thứ 3):
Con đường để đưa khách hàng đến với doanh nghiệp trong hoạt động Marketing
trực tuyến không gì hữu ích và cấp thiết như chính website của doanh nghiệp đó. Đây
là nơi để khách hàng tìm hiểu về công ty cũng như những sản phẩm và dịch vụ mà
công ty cung cấp cho khách hàng. Nhưng để có được một website của công ty mình
Thông tin ngoài sản phẩm, bao gồm:
Thời tiết, khí hậu
Cách đến trực tiếp công ty
Thông tin giao thông địa phương
Các điểm tham quan khác
Nơi ở
An ninh
Thủ tục xuất nhập cảnh
Hải quan
Các thông tin riêng biệt khác
Quản lý quan hệ với khách hàng, bao gồm:
Chi tiết liên hệ (bao gồm cả danh bạ)
Địa chỉ mail
Thông tin phản hồi
Các đường dẫn lẫn nhau (link)
Chương trình khuyến mại hoặc những tặng thưởng đặc biệt
Bản tin điện tử
Hệ thống cho khách hàng quen thuộc
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
21
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Dịch vụ gọi lại
Danh sách địa chỉ e-mail
Nút gửi e-mail nội dung đang xem về hòm thư e-mail của khách hàng.
Điều tra khách hàng
Hồ sơ khách hàng
Lấy dữ liệu miễn phí
Trò chơi và những trò cạnh tranh
Các nội dung được thiết kế riêng
Đặt chỗ, gồm các mục:
Thông tin về giao thông
Thông tin cụ thể về tour
Thông tin bảo hiểm
Tập hợp các ảnh có liên quan
Bản đồ
Những chỉ dẫn ngắn, những câu hỏi thường gặp (FAQ)
Các đường dẫn(link) tới các trang web của địa phương, vùng, quốc gia
Các thông tin chung
Chính sách sử dụng thông tin cá nhân, các điều khoản và bản quyền.
Thông tin đảm bảo an ninh trong giao dịch qua mạng
Chính sách về bảo hành và trả lại
Dữ liệu điều tra/nghiên cứu
Đường dẫn tới những website bên ngoài
Các đặc điểm đặc biệt
Bình phẩm của khách hàng và những bằng chứng
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
23
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
Thông tin về dự báo thời tiết hay chỉ dẫn thời tiết
Tin tức/báo cáo/tạp chí
Bản tin
Nói chuyện trên mạng (chatting)
Bưu thiếp ảo
Thiết kế và chức năng
Danh mục chính
Danh mục phụ
Đường dẫn quay trở lại trang chủ tại tất cả các trang
Bản đồ trang web
Sử dụng hoạt họa (flash)
Sử dụng cửa sổ nhập dữ liệu
Giá
Thiết bị
Xác nhận về chất lượng (Kiểu như loại sao)
Đăng ký qua mạng
Trong quá trình đăng ký
Để tham dự các cuộc thi
Để xây dựng những tập gấp cá nhân
Để mua sắm
Để tham gia các chat/forum
Để đăng ký nhận bản tin
Để tham gia câu lạc bộ
Mua sắm qua mạng
Đồ dùng
Nguyễn Thị Ngọc Du lịch 48
25