Phân tích tình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú bẳng tiêu chuẩn BEER và tiêu chuẩn STOPP START tại bệnh viện lão khoa trung ương - Pdf 44

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

QUẢN THỊ THÙY LINH
Mã sinh viên: 1201338

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN
THUỐC ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ BẰNG
TIÊU CHUẨN BEERS VÀ TIÊU
CHUẨN STOPP/START TẠI BỆNH
VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ

HÀ NỘI – 2017


BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

QUẢN THỊ THÙY LINH

Mã sinh viên: 1201338

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN
THUỐC ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ BẰNG
TIÊU CHUẨN BEERS VÀ TIÊU CHUẨN
STOPP/START TẠI BỆNH VIỆN LÃO
KHOA TRUNG ƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn:
1. TS. Phạm Thị Thúy Vân


MỤC LỤC
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………………1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN ...................................................................................... 3
1.1. Tổng quan về đặc điểm sử dụng thuốc ở ngƣời cao tuổi…………………… 3
1.1.1. Dịch tễ học người cao tuổi ............................................................................ 3
1.1.1.1. Định nghĩa .................................................................................................. 3
1.1.1.2. Xu hướng gia tăng người cao tuổi ............................................................... 3
1.1.2. Tình trạng mắc nhiều bệnh lý, dùng nhiều thuốc đồng thời và các hậu quả4
1.2. Tổng quan về kê đơn có khả năng không phù hợp ở ngƣời cao tuổi……… 7
1.2.1. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến kê đơn có khả năng không phù hợp ................ 8
1.2.2. Các thuốc thường bị kê đơn không phù hợp ................................................ 9
1.2.3. Hậu quả của kê đơn có khả năng không phù hợp........................................ 9
1.3. Tổng quan các công cụ đánh giá kê đơn thuốc ở ngƣời cao tuổi…………. 10
1.3.1. Tiêu chuẩn Beers ........................................................................................ 10
1.3.2. Tiêu chuẩn STOPP/START ........................................................................ 12
1.4. Một số nghiên cứu phân tích việc sử dụng thuốc có khả năng không phù
hợp PIP dựa trên bộ tiêu chuẩn Beers và STOPP/START…………………… 14
1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới ...................................................................... 14
1.4.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam ...................................................................... 16
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................... 18
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu………………………………………………………...18
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………………….18
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu .................................................................................... 18
2.2.2. Thu thập dữ liệu ......................................................................................... 18
2.2.3. Phương pháp và tiêu chuẩn áp dụng trong nghiên cứu ............................. 20
2.2.3.1. Xác định PIP theo tiêu chuẩn Beers và STOPP/START ............................. 20

3.2.2.1. Mối liên quan giữa ADE và đặc điểm dùng thuốc ..................................... 40


3.2.2.2. Mối liên quan giữa ADE và đặc điểm bệnh lý ........................................... 40
3.2.2.3. Mối liên quan giữa ADE và PIP............................................................... 41
Chƣơng 4. BÀN LUẬN........................................................................................ 43
4.1. Bàn luận về PIP theo các tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn
STOPP/START…………………………………………………………………... 43
4.1.1. Bàn luận về đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu .................................... 43
4.1.1.1. Về đặc điểm bệnh nhân ............................................................................. 43
4.1.1.2. Về đặc điểm sử dụng thuốc ....................................................................... 45
4.1.2. Bàn luận về các PIM và PPO được xác định theo tiêu chuẩn Beers và tiêu
chuẩn STOPP/START .......................................................................................... 46
4.1.2.1. Các PIM được xác định theo tiêu chuẩn Beers và tiêu chuẩn STOPP ....... 46
4.1.2.2. Các PPO được xác định theo tiêu chuẩn START ....................................... 52
4.2. Phân tích mối liên quan ADE và số thuốc dùng, số bệnh và PIP………… 54
4.3. Hạn chế của nghiên cứu……………………………………………………...59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………………………………………61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACEi

Angiotensin Converting Enzyme inhibitors – Chất ức chế men chuyển
dạng angiotensin

ADE

hợp

PIP

Potentially Inappropriate Prescribing – Kê đơn có khả năng không phù
hợp

PPO

Potential Prescribing Omission – Thiếu sót tiềm tàng khi kê đơn

START

Screening Tool to Alert doctors to Right Treatment – Công cụ sàng lọc
cảnh báo bác sỹ điều trị đúng

STOPP

Screening Tool of Older Person’s Prescriptions – Công cụ sàng lọc kê
đơn ở người cao tuổi

WHO

World Health Organization – Tổ chức Y tế thế giới


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Ý nghĩa hệ số kappa .............................................................................. 21
Bảng 2.2. Phân loại mức lọc cầu thận theo KDIGO 2012 ...................................... 22
Bảng 3.1. Số lượng bệnh nhân tại các khoa lâm sàng ............................................. 26

dân số già. Tuổi tăng lên cùng sự lão hóa, giảm hoạt động của các cơ quan dẫn đến
nhiều bệnh lý trên người cao tuổi. Điều tra của Bộ Y tế cho thấy chỉ có 5% người
cao tuổi của nước ta có sức khỏe tốt, còn lại 95% không khỏe mạnh và mang trong
mình nhiều thứ bệnh như tăng huyết áp, viêm khớp, bệnh phổi - phế quản tắc nghẽn
mạn tính, đái tháo đường, sa sút trí tuệ [8]… Do đó, nhu cầu và xu hướng tất yếu là
người cao tuổi dùng nhiều thuốc hơn so với người trẻ tuổi. Không may là việc dùng
nhiều thuốc lại luôn đi cùng với các hậu quả tiêu cực về sức khỏe: tăng chi phí
chăm sóc sức khỏe, các biến cố có hại (ADE), tương tác thuốc, tuân thủ thuốc, suy
giảm chức năng [90]. Dùng nhiều thuốc cũng là yếu tố có mối liên quan mạnh nhất
đến kê đơn có khả năng không phù hợp (PIP – Potentially Inappropriate
Prescribing). PIP được định nghĩa là “kê đơn mà gây ra một nguy cơ đáng kể phản
ứng có hại của thuốc khi mà có bằng chứng cho các biện pháp thay thế khác tương
đương hoặc hiệu quả hơn”. PIP được báo cáo là nguyên nhân quan trọng gây ra
bệnh trong quá trình điều trị, ADE, tử vong và gia tăng chi phí điều trị [42].
Hiện nay trên thế giới có nhiều bộ công cụ giúp đánh giá các PIP với mục đích
nâng cao hiệu quả điều trị và giảm biến cố có hại trên bệnh nhân cao tuổi. Trong đó,
tiêu chuẩn Beers và STOPP/START là hai bộ tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi
trong các nghiên cứu và đã được áp dụng như một tham chiếu lâm sàng khi ra quyết
định kê đơn trên người cao tuổi ở một số quốc gia châu Âu, Á, Úc, Bắc Mỹ, Nam
Mỹ do đã được chứng minh cải thiện đáng kể nguy cơ gặp PIP và ADE [71]. Tuy
nhiên, hiện tại ở Việt Nam chưa có bộ tiêu chuẩn hay hướng dẫn cụ thể để đánh giá
kê đơn có khả năng không phù hợp ở người cao tuổi.
Bệnh viện Lão khoa TW là bệnh viện chuyên khoa hàng đầu về Lão khoa, là
tuyến cao nhất trong công tác khám, điều trị, chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi


2

tại Việt Nam. Bệnh viện luôn luôn quan tâm đến nâng cao chất lượng chăm sóc sức
khỏe cho người cao tuổi.

số lượng nữ nhiều hơn nam (3,2 triệu với 2 triệu) [92].
Theo dự đoán của Liên Hiệp quốc, tỷ lệ người cao tuổi ngày càng tăng, số
lượng người trên 60 tuổi sẽ tăng gấp đôi đến năm 2050 và gấp ba đến năm 2100.
Còn theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê, dân số Việt Nam chính thức bước
vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 [8]. Số người cao tuổi tăng lên sẽ tăng gánh
nặng kinh tế, xã hội để duy trì ổn định cuộc sống và sức khỏe cho nhóm người này.
Theo một nghiên cứu của Viện Lão khoa Trung ương trên 1305 người cao tuổi tại
cộng đồng, tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính ở người cao tuổi khá cao. Trung bình một
người cao tuổi mắc 2,69 bệnh. Các nhóm bệnh thường gặp theo thứ tự giảm dần là:
bệnh về giác quan, tim mạch, xương khớp, nội tiết-chuyển hoá, tiêu hoá, tâm thần
kinh, hô hấp, thận tiết niệu [9].


4

1.1.2. Tình trạng mắc nhiều bệnh lý, dùng nhiều thuốc đồng thời và các hậu quả
Người cao tuổi thường mắc các bệnh lý mạn tính dẫn đến thường xuyên dùng
nhiều thuốc. Dùng nhiều thuốc đồng thời được ghi nhận là yếu tố nguy cơ chính dẫn
đến phản ứng có hại của thuốc ở các nước phát triển [15], [71]. Báo cáo cho thấy
người cao tuổi sử dụng đến 30% tổng số thuốc, mặc dù chỉ chiếm 8% tổng dân số.
Người cao tuổi thường nhận được nhiều thuốc do một hay nhiều hơn một bác sĩ kê
đơn, và điều này càng dẫn đến nguy cơ đa dược học [15].
Đa dược học (dùng nhiều thuốc đồng thời) có thể được định nghĩa theo hai cách.
Một định nghĩa là việc dùng đồng thời nhiều thuốc, đơn giản là tính toán số lượng
thuốc bệnh nhân dùng. Thật ra không có một con số giới hạn nào để định nghĩa
nhiều thuốc [42], [73], nhưng thường quy định từ 3-5 thuốc trở lên là nhiều. Tổ
chức Y tế thế giới và nhiều nghiên cứu ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe đều coi số
thuốc từ 5 thuốc trở lên là “đa dược học” [15], [44], [73]. Tuy nhiên cách định nghĩa
này còn nhiều tranh cãi, vì nhiều người cao tuổi cần sử dụng nhiều thuốc để đạt hiệu
quả điều trị, đặc biệt là bệnh nhân có nhiều bệnh mạn tính. Những bệnh nhân cao

Khả năng gặp ADR trên người cao tuổi ước tính là 6% khi sử dụng 2 thuốc đồng
thời, tăng lên 50% khi 5 thuốc sử dụng đồng thời và tăng lên đến 100% khi sử dụng
đồng thời từ 8 thuốc trở lên [44].
Nghiên cứu của Robert L. và cộng sự đã thiết lập mối quan hệ chặt chẽ rõ ràng
giữa việc dùng nhiều thuốc và các hậu quả lâm sàng [73]. Một nghiên cứu thuần tập
tiến cứu đã chỉ ra rằng bệnh nhân ngoại trú dùng từ 5 thuốc trở lên tăng 88% nguy
cơ gặp ADE so với những người dùng ít thuốc hơn 5 thuốc [17]. Trong một nghiên
cứu khác đánh giá khả năng nhập viện không chủ đích do ADE trên những người
cao tuổi cựu chiến binh cho thấy, bệnh nhân dùng hơn 5 thuốc tăng 4 lần nguy cơ
nhập viện so với những người dùng ít hơn [93]. Các nhóm thuốc thường liên quan
đến ADE bao gồm: thuốc chống đông máu, NSAID, thuốc tim mạch, lợi tiểu, kháng
sinh, thuốc chống co giật, benzodiazepin và các thuốc điều trị đái tháo đường [40],
[46]. Theo một nghiên cứu trên 177 504 bệnh nhân cao tuổi nhập viện ở Mỹ:
warfarin có liên quan đến 1/3 các trường hợp nhập viện, còn insulin, thuốc chống
đông đường uống, thuốc điều trị đái tháo đường đường uống chiếm 2/3 còn lại [20].
-

Nguy cơ tương tác thuốc- thuốc, thuốc- bệnh

Người cao tuổi với việc đa dược học dẫn đến nhiều khả năng gặp tương tác
thuốc [61]. Tỷ lệ tương tác thuốc- thuốc tăng theo số lượng thuốc. Cụ thể, một bệnh
nhân dùng 5-9 thuốc có khả năng gặp tương tác thuốc là 50% trong khi nếu dùng từ
20 thuốc trở lên, khả năng này là 100% [28]. Trong một nghiên cứu ở các bệnh


6

nhân cao tuổi trong cộng đồng, khoảng 50% bệnh nhân có nguy cơ tương tác thuốcthuốc [73]. Trong khi đó tương tác thuốc- thuốc là nguyên nhân dẫn đến các ADE
và nguy cơ nhập viện có thể dự phòng được [73]. Do đó, cần thận trọng khi kê đơn
trên người cao tuổi để tránh biến cố có hại không đáng có.


Suy giảm nhận thức có liên quan đến việc dùng nhiều thuốc [62]. Một nghiên
cứu thuần tập tiến cứu tiến hành ở 294 bệnh nhân cao tuổi cho thấy 22% bệnh nhân


7

dùng ≤ 5 thuốc có suy giảm nhận thức, tỷ lệ này là 33% ở nhóm dùng 6-9 thuốc và
55% ở nhóm dùng ≥ 10 thuốc [48].
-

Nguy cơ không tuân thủ điều trị

Các nghiên cứu trong cộng đồng cho thấy, tỷ lệ không tuân thủ điều trị ở người
cao tuổi khoảng 43-100% [55], [90]. Trong 1 nghiên cứu khác, tỷ lệ bệnh nhân
không tuân thủ điều trị là 35% khi bệnh nhân dùng từ 4 thuốc trở lên [74]. Việc
không tuân thủ điều trị có thể làm giảm tiến triển khỏi bệnh, nguy cơ thất bại điều
trị, khả năng gặp biến cố có hại và nhập viện [90].
Rõ ràng dùng nhiều thuốc là một nhu cầu không thể tránh khỏi bởi tuổi thọ ngày
càng tăng cao và người cao tuổi mắc nhiều bệnh lý mạn tính. Không may là việc
dùng nhiều thuốc lại luôn đi cùng với các hậu quả tiêu cực về sức khỏe. Tuy nhiên
có thể giảm bớt các ảnh hưởng này bằng việc sử dụng các bộ tiêu chuẩn khi kê đơn.
Nhiều nghiên cứu cho thấy việc dùng các bộ tiêu chuẩn khi kê đơn cải thiện đáng kể
biến cố có hại [24], [25], [43], [77].
1.2. Tổng quan về kê đơn có khả năng không phù hợp ở ngƣời cao tuổi
Ở người cao tuổi, thuốc được cho là phù hợp khi có chỉ định dựa trên bằng
chứng rõ ràng, dung nạp tốt, có lợi ích lâm sàng lớn hơn nguy cơ gây hại và đạt chi
phí – hiệu quả [7], [70]. Ngược lại, kê đơn không phù hợp (Inappropriate
prescribing–IP) được định nghĩa là kê đơn một thuốc khi có nguy cơ tiềm tàng lớn
hơn lợi ích thu được hoặc kê đơn khi không có sự đồng thuận của các tiêu chuẩn,

1.2.1. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến kê đơn có khả năng không phù hợp
Nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến kê đơn có khả năng không phù hợp đã được rút
ra từ các thử nghiệm lâm sàng, bao gồm: số lượng thuốc sử dụng, giới tính, tuổi,
điểm bệnh mắc kèm Charlson (CCI), có chẩn đoán bệnh rối loạn tâm thần [42], [7],
[82].
Một tổng quan hệ thống tiến hành bởi Eline Tommelein và cộng sự trên 52
nghiên cứu về kê đơn có khả năng không phù hợp trên người cao tuổi trong cộng
đồng ở các quốc gia Châu Âu trong vòng 14 năm từ 01/01/2000 đến ngày
31/12/2014 cho kết quả như sau. Có 27 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng gặp PIP trên
bệnh nhân đưa vào đánh giá gồm: dùng nhiều thuốc, tuổi, giới nữ, điểm bệnh mắc
kèm/ sự hiện diện của các bệnh mắc kèm, trầm cảm/có dấu hiệu trầm cảm, suy giảm
nhận thức, trình độ giáo dục, chất lượng sức khỏe tự đánh giá, điều kiện kinh tế
thấp, sống một mình, giảm hoạt động sống hàng ngày (qua điểm ADL), tăng BMI,
nhập viện gần đây. Có 3 yếu tố liên quan nhiều nhất đến khả năng gặp PIP là: dùng
nhiều thuốc, tuổi cao và giới nữ. Trong đó, dùng nhiều thuốc là yếu tố liên quan
nhất đến khả năng gặp PIP. Một số yếu tố tuy mức độ liên quan thấp hơn nhưng
được xét mối tương quan với PIP thấy lặp lại ở nhiều nghiên cứu là: trầm cảm, chất
lượng sức khỏe tự đánh giá, giảm hoạt động sống hàng ngày, và điều kiện kinh tế


9

thấp [86]. Nhiều nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra rằng tuổi cao và dùng nhiều thuốc
là yếu tố nguy cơ độc lập và quan trọng dẫn đến PIP và ADE [39], [45], [52].
1.2.2. Các thuốc thường bị kê đơn không phù hợp
Thuốc giải lo âu, thuốc ngủ, thuốc an thần là 3 nhóm thuốc thường gặp nhất
[27], [86]. Thêm vào đó, các thuốc chống trầm cảm (như amitryptilin và doxepin),
chống viêm không steroid và tác nhân chống huyết khối (như ticlopidin và
dipyridamol) cũng thường gặp kê đơn không phù hợp. Theo một tổng quan hệ thống
của Eline Tommelein và cộng sự trên 52 nghiên cứu của các nước Châu Âu, các

hay công cụ “explicit” – là những công cụ dựa trên tiêu chuẩn. Công cụ mở phổ
biến nhất là tiêu chuẩn MAI (Medication Appropriateness Index) được xuất bản
năm 1992 bởi Halon và cộng sự [47]. Ông đưa ra tiêu chuẩn này để phát hiện những
lỗi khi kê đơn và cải thiện chất lượng kê đơn trên người cao tuổi [10], [75]. MAI
nhắm đến 10 khía cạnh khi kê đơn thuốc, mục tiêu để phát hiện ra những lỗi tiềm
tàng khi kê đơn. Những nghiên cứu trong 20 năm qua đã chỉ ra tiêu chuẩn MAI giúp
phát hiện những lỗi tiềm tàng khi kê đơn và dự đoán biến cố có hại. Tuy nhiên việc
sử dụng tiêu chuẩn MAI khá tốn thời gian (10 phút/thuốc) [47], và phần lớn được
áp dụng trong nghiên cứu hơn là thực hành lâm sàng [10], [75].
1.3.1. Tiêu chuẩn Beers
Có nhiều bộ công cụ đóng để đánh giá kê đơn có khả năng không phù hợp trên
người cao tuổi. Tiêu chuẩn Beers là công cụ đóng đầu tiên được xuất bản năm
1991và phiên bản 5 của tiêu chuẩn này vừa được cập nhật bởi Hiệp hội Lão khoa
Hoa Kỳ (American Geriatrics Society) năm 2015. Đây là tiêu chuẩn lâu đời nhất
dùng để đánh giá thuốc không phù hợp trên người cao tuổi. Tiêu chuẩn Beers được
xây dựng bởi Beers và cộng sự năm 1991 để thiết kế riêng cho các viện dưỡng lão,
bao gồm 30 loại thuốc cần tránh ở người cao tuổi. Sau đó được mở rộng và sửa đổi
năm 1997 để áp dụng rộng rãi cho các bệnh nhân trên 65 tuổi ở các đơn vị lão khoa
khác [44], [7]. Năm 2012 tiêu chuẩn này được cập nhật dưới sự hỗ trợ của Hiệp hội
Lão khoa Hoa Kỳ và sự đồng thuận của ban đa ngành gồm 11 chuyên gia trong lĩnh
vực điều trị và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, áp dụng phương pháp Delphi để
đạt đồng thuận. Tiêu chuẩn Beers 2012 áp dụng phù hợp cho tất cả các cơ sở điều
trị người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên ở Hoa Kỳ, với đối tượng sử dụng chính là những


11

người thực hành lâm sàng. Tiêu chuẩn này bao gồm 53 thuốc và nhóm thuốc, chia
thành 3 nội dung [82]. Mỗi nội dung được sắp xếp và tổ chức theo các nhóm trị liệu
và hệ thống các cơ quan, bao gồm:

tác thuốc – thuốc được viết trong y văn có liên quan đến các tác dụng bất lợi trên
người cao tuổi. Sự cập nhật mới này không kỳ vọng sẽ bao hàm toàn diện tất cả các
vấn đề về thuốc trên người cao tuổi, nhóm đa ngành chỉ tập trung vào các thuốc và
tương tác thuốc – thuốc có bằng chứng dùng trên người cao tuổi nếu không hiệu
chỉnh liều hoặc không để ý tương tác thuốc thì có nhiều tác hại hơn lợi ích [83].


12

Một nghiên cứu trên bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên thấy rằng, thuốc có khả năng
không phù hợp theo tiêu chuẩn Beers 2003 chiếm 3,6% trường hợp nhập viện vì
biến cố có hại [18]. Tiêu chuẩn Beers cũng được sử dụng như một tham chiếu lâm
sàng khi ra quyết định kê đơn thuốc trên người cao tuổi [83], [64].
Tuy nhiên tiêu chuẩn này có một số hạn chế quan trọng. Thứ nhất, người cao
tuổi thường không tham gia các thử nghiệm thuốc [11], vì vậy sử dụng cách tiếp cận
dựa trên bằng chứng có thể đánh giá thấp một số vấn đề liên quan đến thuốc, làm
cho mức độ bằng chứng yếu hơn. Thứ hai, bộ tiêu chuẩn không tính đến các cá nhân
và quần thể bệnh nhân đặc biệt, ví dụ, bộ tiêu chuẩn không áp dụng cho bệnh nhân
ở các cơ sở chăm sóc giảm nhẹ, những người mà việc cân nhắc lợi ích/nguy cơ khác
với nhóm quần thể người cao tuổi nói chung. Cuối cùng là các dữ liệu nghiên cứu
bằng ngôn ngữ khác tiếng Anh và các báo cáo nghiên cứu không được công bố thì
không được đưa vào nghiên cứu [83].
1.3.2. Tiêu chuẩn STOPP/START
Bên cạnh tiêu chuẩn Beers, tiêu chuẩn STOPP/START là công cụ đóng được
sử dụng rộng rãi để đánh giá kê đơn không phù hợp. Tiêu chuẩn STOPP/START
được xây dựng để khắc phục nhược điểm của tiêu chuẩn Beers và được thiết kế để
sử dụng trong thực hành lâm sàng thường xuyên [70].
Tiêu chuẩn STOPP/START có nguồn gốc ở Ireland và được xuất bản đầu tiên
năm 2008. Tiêu chuẩn STOPP được thiết kế để phát hiện những kê đơn có khả năng
không phù hợp có thể dự phòng được và thường gặp. Còn tiêu chuẩn START phát


mesoridazin,

estazolam,

trimethobenzamid and metaxalon.
Trong 5 năm gần đây, nhiều thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra lợi ích rõ ràng khi
tiêu chuẩn STOPP/START được áp dụng vào việc điều trị cho người cao tuổi. Một
thử nghiệm lâm sàng của Frankenthal và cộng sự năm 2014 cho thấy việc áp dụng
tiêu chuẩn STOPP/START phiên bản 1 thường xuyên ở các viện dưỡng lão làm
giảm đáng kể số lượng thuốc điều trị, chi phí thuốc hàng tháng, khả năng bị ngã và
khả năng gặp biến cố có hại so sánh với nhóm nhận được chăm sóc y tế bình thường
[33], [50]. Một thử nghiệm lâm sàng khác được tiến hành bởi Dalleur và cộng sự
kiểm tra sự hiệu quả của tiêu chuẩn STOPP/START phiên bản 1 khi áp dụng vào
thực hành lâm sàng thường quy cho các bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì bệnh lý cấp
tính, kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân dùng thuốc có khả năng không phù hợp ở thời
điểm ra viện giảm gần một nửa so với nhóm chỉ nhận được chăm sóc bình thường
(19,3% với 39,7%) [26]. Sử dụng các bộ tiêu chuẩn đánh giá sử dụng thuốc còn
giúp cải thiện kĩ năng kê đơn trên lâm sàng. Gần đây, một thử nghiệm ngẫu nhiên
có đối chứng ở Hà Lan trên 106 sinh viên y khoa cho thấy sinh viên được đào tạo sử
dụng STRIP (công cụ để giảm các kê đơn không phù hợp) và bộ tiêu chuẩn


14

STOPP/START sẽ có đánh giá về kĩ năng kê đơn tốt hơn sinh viên không được đào
tạo [49].
Tuy nhiên, tiêu chuẩn STOPP/START phiên bản 2 cũng có một số hạn chế.
Tiêu chuẩn này không đề cập đến mức độ bằng chứng và độ mạnh khuyến cáo của
các tiêu chí, bởi các chuyên gia cho rằng hầu hết tất cả các tiêu chí thuốc có khả

điều trị loét dạ dày trong vòng > 8 tuần, benzodiazepin tác dụng kéo dài dùng kéo
dài (> 1 tháng), thuốc an thần kinh tác dụng kéo dài dùng như thuốc ngủ (> 1
tháng). Tỷ lệ bệnh nhân có ít nhất một PPO phát hiện theo tiêu chuẩn START là
22,7% - 74,0%. Các PPO phổ biến là: bổ sung vitamin D và canxi ở bệnh nhân
loãng xương, liệu pháp statin cho bệnh nhân có bệnh mạch máu ngoại vi, mạch
vành hoặc mạch não [45]. Một tổng quan hệ thống khác trên các bệnh nhân người
cao tuổi trong cộng đồng Châu Âu cho kết quả tỷ lệ bệnh nhân sử dụng đơn thuốc
có ít nhất một PIM là 21,6%. Nghiên cứu so sánh PIM theo tiêu chuẩn Beers 2003
và PIM theo tiêu chuẩn Beers 2015 cho thấy tỷ lệ này lần lượt là 24,1% và 25,9%.
Trong đó benzodiazepin là PIM được kê nhiều nhất [38].
Một nghiên cứu tiến cứu quan sát được tiến hành tại bệnh viện ở Ấn Độ trên
bệnh nhân ≥ 60 tuổi nhập viện trong thời gian từ tháng 1/2008 đến tháng 6/2009 sử
dụng tiêu chuẩn Beers 2003 để xác định PIM. Theo nghiên cứu này, PIM xuất hiện
trên 191/814 bệnh nhân (23,5%) và tổng cộng có 360 ADR quan sát được trên 292
bệnh nhân. Trong số này, có 11 ADR quan sát được trên 11 bệnh nhân là do dùng
thuốc được liệt kê trong tiêu chuẩn Beers trong quá trình nằm viện. Các thuốc gây
ra ADR được liệt kê trong tiêu chuẩn Beers: clonidin gây ra 3 ADR, amiodaron gây
ra 2 ADR, diazepam, hydroxyzin, và digoxin. Các ADR do thuốc không được liệt
kê trong tiêu chuẩn Beers chủ yếu là: insulin (14%, 49 trường hợp), furosemid
(6,3%, 22 trường hợp), prednisolon (5,1%, 18 trường hợp). Các thuốc không được
liệt kê trong tiêu chuẩn Beers gây ra nhiều ADR hơn các thuốc được liệt kê trong
tiêu chuẩn Beers (OR=13,51; 95%CI: 7,19-25; p < 0,001). Bệnh nhân dùng ≥ 9
thuốc trong thời gian nằm viện thì khả năng gặp PIM cao hơn nhóm còn lại [44].
Một nghiên cứu hồi cứu trên 813 bệnh nhân ≥ 65 tuổi ở một cơ sở điều trị ở
Thụy Điển trong vòng 3 tháng trong năm 2008 cho thấy: tổng cộng 374 (46,0%)
bệnh nhân có ≥ 1 PIP và 159 (19,5%) bệnh nhân có ≥ 1 ADR trong suốt thời gian
nghiên cứu. Trong đó 29,8% các ADR gây ra bởi các PIP được xác định theo tiêu


16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status