MỤC LỤC
Mục lục
1: Mở đầu
- Lý do chọn đề tài
- Mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
2: Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.3. Biện pháp thực hiện
Biện pháp 1: Khảo sát, xây dựng các biện pháp tiết kiệm điện, nhiên
liệu trong trường.
Biện pháp 2: Bồi dưỡng nhận thức cho đội ngũ, tập huấn nâng cao
năng lực chuyên môn và kiến thức GDSDNL tiết kiệm, hiệu quả.
Biện pháp 3. Chỉ đạo xây dựng lớp điểm giáo dục và sử dụng năng
lượng tiết kiệm, hiệu quả
Biện pháp 4. Chỉ đạo làm tốt công tác Xã hội hoá giáo dục để nâng
cao chất lượng giáo dục chuyên đề
Biện pháp 5. Phát động phong trào thi đua thực hành tiết kiệm năng
lượng và thực hiện tốt việc lồng ghép chuyên đề ở tất cả các khối.
Biện pháp 6. Tăng cường công tác quản lý chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra
đánh giá việc thực hiện tiết kiệm năng lượng và thực hiện chuyên đề.
Biện pháp 7. Tổ chức hội thảo, Sơ kết và tổng kết kịp thời
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. Kết luận và kiến nghị
- Kết luận
- Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang
bằng các quy định pháp luật, với hệ thống chính sách thể chế từng bước được
xây dựng và hoàn thiện phục vụ có hiệu quả cho công tác tiết kiệm năng lượng.
Hiện nay năng lượng đang bị cạn kiệt dần, đó là sự suy thoái về tài nguyên đất
đai, suy thoái tài nguyên nước ngọt, suy thoái đa dạng sinh vật học. Rừng đang
bị tàn phá và thu hẹp dần. Môi trường đang bị tàn phá và huỷ hoại nghiêm trọng
gây mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt của tài nguyên môi trường làm ảnh
hưởng đến chất lượng cuộc sống. Mỗi năm trên thế giới có tới 22 vạn người chết
vì bệnh tật do nguồn nước bị ô nhiễm và thiếu hụt năng lượng gây nên. Một
trong những nguyên nhân là sự thiếu hiểu biết về tiết kiệm năng lượng, thiếu ý
thức của con người trong việc sinh hoạt hàng ngày gây ra.
Sự thiếu hụt năng lượng đang là vấn đề nóng bỏng và cấp thiết trên toàn
cầu. Sự cần thiết phải kêu gọi các cấp các ngành, các tổ chức đoàn thể và mọi cá
nhân đều phải có ý thức trách nhiệm trong việc tiết kiệm năng lượng. Vì vậy sự
hiểu biết về tiết kiệm năng lượng cần được thông báo rộng rãi để cho tất cả mọi
người, mọi tổ chức xã hội đều biết, giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả đã trở thành một vấn đề cấp bách và có chiến lược toàn cầu.
Chính vì vậy mà việc Giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
(Sau đây viết tắt là: GDSDNL) đã được đưa vào chương trình giáo dục Mầm
non. Độ tuổi mầm non là giai đoạn đặc biệt nhạy cảm của đời người. Trong giai
đoạn này diễn ra sự phát triển mạnh mẽ cả về trí tuệ, thể chất và năng lực. nó đặt
nền móng cho nét cá tính, phẩm chất đạo đức của nhân cách con người. Đây là
thời kỳ quan trọng để hình thành thái độ đúng đắn với thế giới xung quanh.
Chính vì thế mà việc giáo dục TKNL cho trẻ Mầm non là hết sức quan trọng và
cần thiết.
Tuy nhiên, qua nhiều năm triển khai thì cho đến nay việc Giáo dục sử
dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả dường như đang dần bị sao nhãng, trong
khi đó Việt nam đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt năng lượng nghiêm
trọng.
Hiện nay, năng lượng cùng với vấn đề biến đổi khí hậu đang trở thành
mối quan tâm lớn của toàn nhân loại, trong đó vấn đề năng lượng đã và đang trở
Xuất phát từ những lí do trên, là một người cán bộ quản lý tôi quyết định
chọn đề tài: "Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục
GDSDNL tiết kiệm trong trường MN" để nghiên cứu và triển khai trong năm
học này.
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở thực trạng việc thực hiện chuyên đề giáo dục SDNLTK trường
Mầm Non Thị Trấn. Từ đó đưa ra một số kinh nghiệm vận dụng giữa lý luận và
thực tế nhằm nâng cao chất lượng giáo dục SDNLTK trong trường mầm non.
* Đối tượng nghiên cứu:
- Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục SDNL tiết kiệm,
hiệu quả trong trường MN
* Phương pháp nghiên cứu:
- Quan sát sư phạm.
- Phương pháp dùng lời: đàm thoại, giảng giải.
- Phương pháp điều tra thống kê.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm qua nghiên cứu lý luận thực tiễn
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận:
Như chúng ta đã biết, để làm thay đổi thói quen, ý thức của một người là
điều vô cùng khó khăn và để mỗi người hình thành được thói quen, ý thức tự
giác tiết kiệm năng lượng lại là chuyện càng khó hơn. Đây là công việc rất nặng
nề không thể hoàn thành một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có thời gian, cùng
với sự quyết tâm, nỗ lực và thực hiện xuyên suốt của các cấp, các ngành.
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao chúng ta không giáo dục, rèn luyện ý thức tự
giác tiết kiệm năng lượng cho mọi người ngay từ lúc nhỏ để hình thành thói
quen? Ở những quốc gia phát triển về TKNL trên thế giới như Hàn Quốc, Nhật
Bản… việc giáo dục TKNL là một trong những hoạt động trọng tâm được triển
khai ngay khi học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường.
khí trong lành mát mẻ, không bị ô nhiễm. Nhà trường còn có đội ngũ CBGV có
trình độ trên chuẩn cao, trẻ khoẻ nhịêt tình, yêu nghề mến trẻ, toàn tâm toàn ý
với sự nghiệp giáo dục, có ý thức phấn đấu rèn luyện, đáp ứng được yêu cầu
giáo dục trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay.
* Khó khăn:
Tuy vậy việc thực hiện chuyên đề giáo dục SDNLTK hiệu quả nhà trường
cũng gặp không ít khó khăn đó là:
Nhà trường có 12 nhóm lớp chia làm 2 khu cách nhau khoảng 4km khó
khăn cho công tác quản lý. Mặt khác trình độ dân trí không đồng đều, từ đó việc
phối kết hợp để giáo dục trẻ còn có những hạn chế nhất định. Thời gian làm việc
trong ngày quá dài, áp lực công việc quá cao khiến cho Giáo viên giảm khả năng
sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung tích hợp chuyên đề vào quá trình chăm
sóc giáo dục trẻ, vì vậy phương pháp còn cứng nhắc, bị động, gò ép trong khung
hình định sẵn nên kết quả chưa cao.
Trường lớp được xây dựng quá lâu (từ năm 1993) nên đến nay đường điện
không còn phù hợp do nhu cầu dùng điện tăng, đường dây không đủ tải hay xảy
ra chập, cháy. Kinh phí nhà trường có hạn nên việc bảo dưỡng các thiết bị điện,
nước trong trường chưa thường xuyên.
b. Kết quả thực trạng:
Từ những thuận lợi và khó khăn trên kết quả khảo sát thực trạng đầu năm
học 2015 - 2016 như sau:
Bảng 1: Về phía nhà trường
Trung bình
TT
Nội dung
Tổng tiền
tháng
Kết quả sử dụng điện trong năm học
2
12 5 41,7 4 33,3 3 25,0
quá trình CSGD trẻ
Bảng 3: Kết quả khảo sát trên trẻ
TS
Tốt
Khá
TB
TT
Nội dung
trẻ
SL % SL % SL %
ĐG
1 Hiểu biết về năng lượng
275
50 18,2 90 32,7 135 49,1
2 Lợi ích của năng lượng
275
45 16,4 92 33,4 138 50,2
3 Tiết kiệm năng lượng
275
45 16,4 90 32,7 140 50,9
Nhìn vào bảng kết quả trên ta thấy: mặc dù các thiết bị sử dụng điện trong
nhà trường không nhiều (toàn trường có 2 máy tính sử dụng thường xuyên, 3 nồi
cơm điện sử dụng hàng ngày, 2 ti vi, 2 tủ lạnh, mỗi phòng nhóm có 2 đến 3 quạt
trần) tuy nhiên mức tiêu thụ điện trong năm vẫn ở mức cao (trung bình
1.230.000đ/tháng). Bên cạnh đó so với một trường ở khu vực nông thôn thì mức
tiêu thụ nước vẫn còn quá cao (trung bình 1.520.000đ/tháng) . Điều đó chứng tỏ
đàn... trong lớp chỉ được bật khi tổ chức hoạt động cho trẻ. Các trang thiết bị
điện trong các nhóm/lớp, các phòng làm việc khi không có người làm việc điều
phải cắt hết điện. Không đun nấu bằng điện trong trường.
Bảo vệ trường có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra việc sử dụng các
thiết bị điện theo quy định của nhà trường và có thông báo trên bảng thông tin
của nhà trường hàng tuần. Ban giám hiệu kiểm tra bất thường và theo kế hoạch
cụ thể hàng tháng, quý để kịp thời uốn nắn, phê bình và tổng kết cho việc
thưởng phạt thi đua về tiết kiệm điện.
Thường xuyên nêu gương tốt, việc làm tốt trong việc tiết kiệm điện, nhiên
liệu. Những sáng kiến về tiết kiệm điện, nhiên liệu có hiệu quả trong trường đều
phải khen thưởng kịp thời và áp dụng ngay.
Biện pháp 2: Bồi dưỡng nhận thức cho đội ngũ, tập huấn nâng cao
năng lực chuyên môn và kiến thức GDSDNL tiết kiệm, hiệu quả.
Để giáo viên hiểu rõ tầm quan trọng và phương pháp GDSDNL tiết kiệm
hiệu quả trong trường mầm non, ngay từ đầu năm học tôi đã tổ chức tập huấn ôn
lại kiến thức chuyên đề GDSDNL cho 100% cán bộ giáo viên được tham gia.
Giải thích cho Cán bộ Giáo viên hiểu được: cùng với sự đi lên của quá trình
nghiệp CNH, HĐH hóa đất nước như hiện nay, kinh tế xã hội cũng không ngừng
phát triển kéo theo nhu cầu sử dụng năng lượng tăng lên 1 cách nhanh chóng,
việc khai thác và sử dụng không hợp lý sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Triển khai các nội dung của chuyên đề cụ thể như: Một số hiểu biết cơ
bản về năng lượng; Trách nhiệm của nhà trường, của Giáo viên trong việc tổ
chức thực hiện GDSDNL tiết kiệm hiệu quả; Phối hợp với gia đình và cộng
đồng trong việc giáo dục trẻ GDSDNL tiết kiệm, hiệu quả.
Qua việc ôn lại kiến thức chuyên đề, giáo viên nắm được nội dung giáo
dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, Nắm được nguyên tắc tích hợp
nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả vào chương trình giáo
dục mầm non, đồng thời biết lựa chọn nội dung tích hợp vào trong các chủ đề,
nước, van nước bị rò rỉ tránh làm thất thoát nước trong quá trình sử dụng.
Tổ chức các góc chơi với chủ đề sử dụng tiết kiệm năng lượng hiệu quả;
Tạo góc tuyên truyền, trao đổi với phụ huynh về giáo dục trẻ sử dụng năng
lượng tiết kiệm hiệu quả; Giáo viên phải có ý thức, gương mẫu trong việc sử
dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả ở mọi lúc mọi nơi.
- Thực hiện tiết kiệm trong sử dụng như: Xây dựng được nội quy sử dụng
điện, nước trong lớp; Làm những hướng dẫn sử dụng điện, nước gắn vào các
công tắc sử dụng điện, các chậu rửa tay hay vòi nước trong lớp, nhà vệ sinh.
Tăng cường sử dụng ánh sáng mặt trời, gió để tiết kiệm điện.
- Thu hút trẻ trong lớp tham gia một số việc làm đơn giản nhằm tiết kiệm
điện, nước như: Tắt điện, quạt khi không sử dụng; Dạy cho trẻ thói quen nhắc
người lớn tắt quạt, điện… khi họ quên; vặn nhỏ vòi nước đủ dùng và khóa vòi
khi sử dụng xong....
Tiến hành xây dựng giờ dạy mẫu ở lớp điểm có lồng ghép chuyên đề giáo
dục SDNLTKHQ vào quá trình chăm sóc nuôi dạy trẻ. Giờ học thành công,
được giáo viên đánh giá cao về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức lồng
tích hợp, trẻ thực sự hứng thú, việc tích hợp nhẹ nhàng, thoải mái mà cung cấp
trẻ những hiểu biết cho trẻ vừa dễ nhớ, nhớ lâu, nhớ sâu và thể hiện hành vi
mang tính giáo dục cao. Đồng thời trẻ được hoạt động, được chuyển tải các kiến
thức thành các kĩ năng thực hành tiết kiệm năng lượng và có các hành vi ứng
xử phù hợp với các tình huống, từ đó giáo viên trong trường học tập và nhân ra
diện rộng.
Sau khi dự giờ tôi củng cố lại cho giáo viên về các nội dung chính cần đề
cập đến để giáo viên nắm lại, đồng thời hướng dẫn giáo viên thực hiện nội dung
giáo dục SDNLTKHQ thông qua các hoạt động: hoạt động vui chơi, hoạt động
học tập, dạo chơi thăm quan, lao động. Trong mọi thời điểm giáo viên đều có thể
vận dụng để khai thác, nhấn mạnh những yêu cầu, mục tiêu của nội dung
SDNLTK đặc biệt là tăng cường việc thực hành, tăng cường những kiến thức, ý
thức TKNL, bảo vệ môi trường và chú trọng rèn luyện các kĩ năng SDNLTK và
bảo vệ môi trường để trẻ dễ nhớ, nhớ lâu, nhớ sâu và có hiệu quả nhất.
Biện pháp 5. Phát động phong trào thi đua thực hành tiết kiệm năng
lượng và thực hiện tốt việc lồng ghép chuyên đề ở tất cả các khối.
Sau khi đã trang bị đầy đủ kiến thức cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho
việc thực hiện chuyên đề, chuyên môn phối hợp với các đoàn thể trong trường phát
động phong trào thi đua thực hành tiết kiệm và thực hiện tốt các chuyên đề trong đó
có chuyên đề GDSDNL tiết kiệm, hiệu quả - coi đây là một tiêu chí đánh giá phẩm
chất chính trị đạo đức và năng lực chuyên môn của cán bộ giáo viên.
Ban giám hiệu tăng cường kiểm tra các nhóm lớp, kịp thời nhắc nhở giáo
viên thực hành tiết kiệm trong quá trình hoạt động tại nhóm lớp hay bộ phận
mình được phụ trách. Dự giờ để trao đổi góp ý cho các tiết dạy - đặc biệt là việc
lồng nghép các nội dung của chuyên đề vào tiết dạy cũng như các hoạt động
trong ngày.
Phát động thi đua xây dựng môi trường giáo dục sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả ở tất cả các nhóm lớp. Thi thiết kế và thực hiện các tiết dạy,
các hoạt động có lồng ghép nội dung GDSDNL tiết kiệm, hiệu quả.
Qua mỗi đợt thi đua tôi ghi chép đánh giá ý thức thực hành tiết kiệm, trình
độ năng lực, khả năng sư phạm, sự linh hoạt sáng tạo của mỗi giáo viên. Tổng
hợp lại những mặt mạnh, mặt yếu của đội ngũ để rút ra kinh nghiệm và triển
khai những giờ học đạt kết quả cao, có nhiều sáng tạo để giáo viên học tập, vận
dụng vào tình hình cụ thể của lớp mình. Như vậy mỗi sự sáng tạo của giáo viên
đều được giáo viên trong trường học tập và nhân ra diện rộng. Từ kết quả của
việc thi đua giáo viên tạo ra cho mình những thành tích nhất định để được khen
thưởng một cách xứng đáng. khen thưởng có thể không lớn về mặt vật chất
nhưng khen thưởng là danh dự là niềm tự hào của mỗi giáo viên.
Trên thực tế, việc phát động phong trào thi đua đã góp phần huy động sức
mạnh của toàn thể đội ngũ cán bộ, giáo viên trong toàn trường thực hiện tốt việc
thực hành tiết kiệm và nội dung chuyên đề góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ năm
học đã đề ra.
làm hành trang trong quá trình giảng dạy phía trước.
Tổ chức đánh giá động viên kịp thời 2 lần trong năm vào dịp sơ kết học
kỳ I và tổng kết năm học. Đề xuất khen thưởng đối với những cá nhân tích cực
trong việc thực hiện chuyên đề và thực hành tiết kiệm năng lượng. Khen thưởng
các tổ thực hành tiết kiệm hiệu quả trong việc sử dụng điện, nước… trong nhà
trường, qua đó đưa ra các định hướng, đề ra các giải pháp cho thời gian tới để
đạt được kết quả tốt hơn.
2.4. Hiệu quả
Bằng việc thực hiện đồng bộ các biện pháp nêu trên, tôi đã chỉ đạo nâng
cao ý thức thực hành tiết kiệm và nâng cao chất lượng chuyên đề sử dụng năng
lượng tiết kiệm, hiệu quả trong nhà trường. Kết quả thu được tính đến thời điểm
tháng 4 năm 2016 như sau:
Bảng 1: Về phía nhà trường
TT
Trung bình
Nội dung
Tổng tiền
tháng
Kết quả sử dụng điện trong năm học
1
5.287.000đ
754.000đ
2015-2016 (tính đến tháng 3 năm 2016)
Kết quả sử dụng nước trong năm học
2
6.706.000đ
958.000đ
2015-2016 (tính đến tháng 3 năm 2016)
SL % SL % SL
%
ĐG
1 Hiểu biết về năng lượng
275
50 18,2 90 32,7 135 49,1
2 Lợi ích của năng lượng
275
45 16,4 92 33,4 138 50,2
3 Tiết kiệm năng lượng
275
45 16,4 90 32,7 140 50,9
Nhìn vào bảng trên ta thấy ý thức tiết kiệm của tập thể cán bộ giáo viên
trong nhà trường đã được nâng lên một bước thể hiện ở kết quả tiêu thụ điện,
nước năm học 2015-2016. Từ 1.230.000đ/tháng tiền điện nay chỉ còn
754.000đ/tháng đã giảm được 38,69%; tiền nước 1.520.000đ/tháng nay còn
958.000đ/tháng giảm 36,97% so với năm học trước.
Chất lượng cũng đã được nâng lên 1 cách rõ rệt, số giáo biết sưu tầm
tranh ảnh để trang trí ở góc tuyên truyền và biết cách lồng ghép chuyên đề vào
quá trình chăm sóc giáo dục trẻ đạt ở mức trung bình đã giảm. Thay vào đó là số
giáo viên đạt tốt khá tăng. Bên cạnh đó số trẻ có những hiểu biết tốt về năng
lượng, lợi ích của năng lượng và tiết kiệm năng lượng cũng tăng cao, số trẻ ở
mức trung bình giảm mạnh. Đặc biệt Trẻ nhanh nhẹn hoạt bát, có ý thức cao
trong sử dụng năng lượng tiết kiệm và biết nhắc nhở mọi người cùng thực hiện.
Không những thế, năng lực và lòng yêu nghề của đội ngũ giáo viên không
ngừng được trau dồi và phát triển, góp phần tích cực trong việc giáo dục cái đẹp,
kỹ năng sống cho trẻ.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
đồng bộ của nhà trường và gia đình. Có làm được như vậy mới giúp trẻ có được
ý thức tốt góp phần giữ gìn nguồn năng lượng hiện có và sử dụng chúng một
cách hiệu quả.
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhu
cầu năng lượng ngày càng tăng nhanh, trong khi khả năng cung cấp năng lượng
trong nước có hạn, khả năng nhập khẩu hạn chế. Chính vì thế, nguy cơ thiếu hụt
năng lượng ngày càng đáng lo ngại và hiện hữu. Vì vậy mỗi chúng ta cần chung
tay sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, có trách nhiệm giáo dục thế hệ
mầm non ý thức tiết kiệm năng lượng góp phần giữ gìn nguồn năng lượng hiện
có và sử dụng chúng một cách hiệu quả.
Bài học kinh nghiệm
Qua việc áp dụng đồng bộ một số biện pháp, từ đó tôi rút ra bài học cho
bản thân, những kinh nghiệm quý báu trong công tác lãnh đạo, đó là phải sát
sao, triệt để trong công tác quản lý chỉ đạo, quan tâm sâu sắc đến nội dung
chuyên đề từ việc lập kế hoạch đến việc triển khai thực hiện, từ cơ sở vật chất
đến đội ngũ cán bộ giáo viên. Phải sắp xếp phù hợp năng lực của giáo viên để
phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người trong từng lĩnh vực được phân
công. Mỗi giáo viên đều phải có ý thức trách nhiệm và sự gương mẫu thực hiện
nhiệm vụ được giao. Ban giám hiệu cần phải có động thái khuyến khích giáo
viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.
3.2. Kiến nghị:
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả việc tiết kiệm năng lượng và giáo dục tiết
kiệm năng lượng hiệu quả trong các nhà trường, bản thân xin có một số ý kiến
đề xuất như sau:
* Đối với nhà trường
- Cần tạo điều kiện cho giáo viên được học tập, nâng cao trình độ mọi mặt
đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay của giáo dục.
- Có chế độ khen thưởng kịp thời cho cán bộ giáo viên thực hành tiết kiệm
4. Qua tạp chí mầm non
PHỤ LỤC
MỘT SỐ TRANH ẢNH
CÓ THỂ DẠY CHO CÁC TRẺ MẦM NON
( Tài liệu sưu tầm)
Dưới đây tôi xin chia sẻ cùng đồng nghiệp một số tranh ảnh mà tôi đã sưu
tầm từ các nguồn tài liệu khác nhau để giáo viên có thể dạy cho trẻ học hỏi được
những bài học quý báu về việc sử dụng tiết kiệm năng lượng - bài học mà các trẻ
sẽ mang theo làm hành trang trong cuộc sống hằng ngày.
I. Một số tranh ảnh về tiết kiệm năng lượng dành cho trẻ:
Chỉ dẫn, giáo dục trẻ về
dụng năng lượng .
các thiết bị sử
Lựa chọn những thiết bị, đồ dùng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả .
Sử dụng chảo úp để tăng độ (phản chiếu) sáng
Không sử dụng bàn là trong phòng có bật máy điều hòa nhiệt độ
Không mở tủ lạnh quá lâu