Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu cho trẻ mẫu giáo ở trường MN nga thái - Pdf 44

MỤC LỤC
NỘI DUNG

Trang

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
a. Thuận lợi
b. Khó khăn
c. Kết quả khảo sát
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Biện pháp 1. Bồi dưỡng nâng cao kiến thức về GDBVMT, ƯPVBĐKH
cho đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên.
Biện pháp 2. Chỉ đạo xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung, tích hợp
GDBVMT, ƯPVBĐKH phù hợp, linh hoạt hiệu quả.
Biện pháp 3. Chỉ đạo tích hợp nội dung GDBVMT, ƯPVBĐKH thông
qua các hoạt động cho trẻ mẫu giáo.
Biện pháp 4. Chỉ đạo giáo viên GDBVMT, ƯPVBĐKH qua hoạt động
thực tiễn, các bài tập thực hành, cách xử lý tình huống.
Biện pháp 5. Chỉ đạo giáo viên sử dụng bộ tranh GDBVMT, ƯPVBĐKH
một cách có hiệu quả.
Biện pháp 6. Giáo dục BVMT, ƯPVBĐKH cho trẻ thông qua công tác
phối kết hợp với phụ huynh.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
- Đối bản thân, phụ huynh và nhà trường

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục, tạo nền tảng, cơ
sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc giáo dục trẻ em trở thành công dân tốt cho
đất nước. Ở lứa tuổi này, trẻ đang phát triển và định hình về nhân cách, trẻ rất thích
tiếp xúc với thiên nhiên và cuộc sống xung quanh trẻ. Trẻ dễ tiếp thu và hình thành
những nề nếp thói quen những giá trị tốt đẹp. Đồng thời, trẻ cũng rất nhạy cảm với
những tác động ảnh hưởng của môi trường xung quanh, dễ bị tổn thương bởi những
tác động của biến đổi khí hậu. Môi trường sống của trẻ ngày mai phụ thuộc vào
chính những hành động của trẻ ngày hôm nay [2].
Vì vậy, việc đưa giáo dục bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
(viết tắt là GDBVMT, ƯPVBĐKH) vào chương trình giáo dục trẻ nói chung và trẻ
Mẫu giáo nói riêng là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết. Góp phần hình thành
ở trẻ ý thức, thái độ đặc biệt là hành vi đúng đắn bảo vệ môi trường, cách ứng phó và
giảm nhẹ hậu quả của biến đổi khí hậu và phòng, chống thảm họa thiên tai. Đây là
một việc làm lâu dài, phải được thực hiện trong quá trình giáo dục của hệ thống giáo
dục quốc dân và cộng đồng.
2


Trong những năm gần đây, mặc dù nội dung GDBVMT, ƯPVBĐKH đã và
đang được Bộ GD&ĐT, Sở giáo dục Thanh Hóa, Phòng GD&ĐT Nga Sơn quán
triệt chỉ đạo lồng ghép tích hợp vào chương trình giáo dục mầm non và đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, trong quá trình chỉ đạo thực hiện tại đơn vị
tôi nhận thấy rằng, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi
khí hậu ở các trường mầm non nói chung và Trường mầm non Nga Thái nói riêng
được giáo viên thực hiện đôi lúc còn mang tính chung chung. Một số giáo viên chưa
hiểu sâu kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu;
chưa tạo được hứng thú cho trẻ tham gia vào hoạt động; chưa có sự sáng tạo trong
việc lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí
hậu vào các chủ đề, các hoạt động giáo dục; Trẻ chưa nắm chắc kiến thức ứng phó
với biến đổi khí hậu; chưa tích cực tham gia hoạt động; xử lý tình huống chậm; thái

- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để
xử lý số liệu.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu gây nguy hại cho tất cả mọi sinh vật
sống trên toàn cầu. Vì thế, hai khái niệm môi trường và biến đổi khí hậu là những
vấn đề hiện đang được các nước trên thế giới quan tâm sâu sắc và được đưa thẳng
vào chương trình giáo dục ở các bậc học, kể cả mầm non, điều đó được thể hiện
trong đề án “Đưa các nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chương trình
Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2011 – 2015” được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo ban hành theo quyết định số 4619/QĐ-BGDĐT ngày 12 tháng 10 năm 2010. [1].
Bên cạnh đó Nghị quyết số 24 - NQ/TW, ngày 3/6/2013, Hội nghị lần thứ VII Ban
chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nhất trí thông qua nghị quyết “Chủ động
ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.
Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục BVMT, ƯPVBĐKH đến năm 2020.
Việt Nam chúng ta đang trong quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, sự ô nhiễm môi trường đã và đang xảy ra cục bộ, từng lúc, từng nơi và
đang lan rộng trên khắp mọi miền của đất nước. Việt Nam cũng chính là một trong
những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của tình trạng biến đổi khí hậu. Hằng năm,
sự gia tăng của thiên tai như bão, lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán… gây ra những tổn thất to
lớn về người và của cải vật chất.
Trẻ em độ tuổi mầm non còn non nớt về thể lực, nhận thức và khả năng thích
ứng với biến đổi khí hậu còn hạn chế, nên trẻ dễ bị ảnh hưởng các tác nhân trong
môi trường. Mặt khác, các cháu chính là “Thế giới ngày mai”. Vì vậy, việc giáo dục,
hình thành ý thức, hành vi, thái độ đúng đắn trong giáo dục bảo vệ môi trường và
ứng phó với biến đổi khí hậu ngay từ lứa tuổi mầm non là rất quan trọng và cần thiết.
Nhiệm vụ này không chỉ của trường mầm non mà còn là của gia đình và xã hội.
Chính vì thế, trong mỗi nhà trường “Cần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán
bộ quản lý và giáo viên về giáo dục bảo vệ môi trường, phòng ngừa, ứng phó và
giảm nhẹ biến đổi khí hậu trong các cơ sở giáo dục mầm non. Đây là giải pháp cần

giáo, trường tôi đã có những thuận lợi, khó khăn sau:
a. Thuận lợi:
Nhà trường được sự quan tâm của Phòng giáo dục và đào tạo Huyện Nga Sơn,
các cấp uỷ Đảng chính quyền địa phương Xã Nga Thái tạo điều kiện quan tâm giúp
đỡ xây dựng đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học... Đặc biệt là nhà trường
có đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, thực sự yêu nghề, mến trẻ tạo được niềm tin cho
các bậc phụ huynh. Đặc biệt nhà trường có 21/21 = 100% đồng chí cán bộ giáo viên
có trình độ chuẩn, trên chuẩn là 18/21 = 85,7% đồng chí. Chính điều đó đã tạo điều
kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ, trong đó có nội dung thực
hiện chuyên đề giáo dục BVMT, ƯPVBĐKH. Tuy nhiên trong quá trình tổ chức
thực hiện vẫn còn tồn tại một số hạn chế, kết quả đạt được chưa cao, chưa đáp ứng
được yêu cầu đặt ra.
b. Khó khăn:
5


Năm học 2016 - 2017 trường tôi có 253 cháu mẫu giáo nhưng số cháu đã học
qua lớp bé, nhỡ chỉ có 55/253 cháu. Do đó khả năng nhận biết về môi trường, sự ô
nhiễm môi trường, khí hậu, sự biết đổi khí hậu tác động đến sự sống của con người
như thế nào còn nhiều hạn chế. Trẻ còn vứt rác bừa bãi, sử dụng nước chưa biết tiết
kiệm, xem xong không tắt ty vi, đồ dùng đồ chơi, chơi xong còn vứt lộn xộn, còn bẻ
cành, ngắt lá. Chưa tích cực tham gia các hoạt động trải nghiệm, các trò chơi thực
hành, chưa có kỹ năng ứng phó khi có tình huống xảy ra. Bên cạnh đó một số giáo
viên, chưa nắm chắc các phương pháp, biện pháp tổ chức lồng ghép giáo dục
BVMT, ƯPVBĐKH cho trẻ, cũng như chưa linh hoạt, sáng tạo trong việc lồng ghép
nội dung này vào các chủ đề, các hoạt động giáo dục. Sử dụng tranh còn lúng túng.
c. Kết quả thực trạng:
Từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng và
đem lại kết quả như sau: (Tháng 9 năm 2016)
Bảng 1. Thực trạng đối với giáo viên:

T

1
2

Nội dung
Trẻ nhận biết được một số kiến thức cơ
bản về BVMT và ƯPBĐKH.
Tích cực tham gia các hoạt động giáo
dục BVMT và ƯPBĐKH.

Tổng số
GV

Đạt

Tỷ lệ
( %)

Chưa
đạt

Tỷ lệ
(%)

14

11

78.6


5

35.7

14

9

64.3

5

35.7

Đạt

Tỷ lệ Chưa
(%)
đạt

Tổng số
trẻ

Tỷ lệ
(%)

316

133 42.1

ƯPBĐKH
Thông qua kết quả của thực trạng trên với tổng số cháu nắm vững về nội dung
bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu còn hạn chế. Tỷ lệ giáo viên nắm
chắc kiến thức và lồng ghép tích hợp linh hoạt vào các hoạt động chưa cao. Xuất
phát từ thực trạng trên để chỉ đạo nâng cao chất lượng lồng ghép, tích hợp
GDBVMT, ƯPVBĐKH cho trẻ mẫu giáo cao hơn nữa tôi đã mạnh dạn đưa ra một
số giải pháp và tổ chức thực hiện sau:
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Qua quá trình tổ chức thực hiện tích hợp nội dung GDBVMT, ƯPVBĐKH cho
trẻ mẫu giáo tôi đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp và tổ chức thực hiện mang lại
kết quả khá khả thi như sau:
Biện pháp 1. Bồi dưỡng nâng cao kiến thức về GDBVMT, ƯPVBĐKH cho đội
ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên.
Mặc dù chuyên đề GDBVMT, ƯPVBĐKH đã được triển khai và tổ chức thực
hiện trong nhiều năm qua, giáo viên đã nắm được tính chất của chuyên đề và vận
dụng vào hoạt động giảng dạy. Tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện giáo viên
vẫn còn lúng túng, thực hiện chưa thường xuyên, chưa đồng bộ. Chính vì vậy, để
thực hiện tốt nhiệm vụ chỉ đạo tích hợp nội dung GDBVMT, ƯPVBĐKHN cho trẻ
mẫu giáo đạt hiệu quả, năm học 2016 - 2017 Trường mầm non Nga Thái tiếp tục
triển khai thực hiện nhằm giúp cán bộ quản lý, giáo viên nắm chắc kiến thức, xây
dựng kế hoạch, có kiến thức kỹ năng trong việc lựa chọn nội dung tích hợp
GDBVMT, ƯPVBĐKHN cho trẻ mẫu giáo một cách nhẹ nhàng, không gò bó, cứng
nhắc, phát huy tính tích cực của trẻ, phù hợp với yêu cầu của chương trình giáo dục
mầm non hiện nay. Tôi đã chỉ đạo bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kỹ năng sư phạm
đặc biệt là kiến thức về giáo dục BVMT, ƯPVBĐKH cho cán bộ giáo viên theo các
hình thức sau:
* Tổ chức hội thảo: Để buổi hội thảo diễn ra sôi nổi và đạt hiệu quả cao, công
tác chuẩn bị là vô cùng quan trọng. Vì vậy, trước khi tổ chức, tôi phải soạn thảo và
chuẩn bị nội dung câu hỏi có liên quan đến Nội dung GDBVMT, ƯPBĐKH cho trẻ
mẫu giáo để đưa ra tập thể giáo viên cùng thảo luận.

tai phù hợp với lứa tuổi. Từ đó trẻ hình thành ở trẻ thái độ khi có thảm họa thiên tai
không sợ hãi, hoảng loạn, bình tĩnh thực hiện các yêu cầu, hướng dẫn của người lớn.
+ Khối mẫu giáo 4 – 5 tuổi: Đề tài: “Ô nhiễm môi trường và cách bảo vệ môi
trường” Trẻ biết được một số nguyên nhân làm cho môi trường bị ô nhiễm, gây nên
biến đổi khí hậu, trẻ có một số hành động để bảo vệ môi trường và cách ứng phó với
biến đổi khí hậu. Trẻ có một số kỹ năng chăm sóc và bảo vệ cây, bảo vệ thân thể khi
thời tiết thay đổi.
+ Khối mẫu giáo 3 – 4 tuổi: Hoạt động âm nhạc Bài hát “ Mây và gió” do cô
Mai Thị Hằng thực hiện. Qua bài hát giáo dục trẻ biết một số biểu hiện của thời tiết ,
ích lợi của gió đối với đời sống của con người và vạn vật, giáo dục trẻ biết yêu quý
8


thiên nhiên giữ gìn nguồn nước trong sạch, biết sử dụng tiết kiệm nước, không vứt
rác thải bừa bãi... (Phụ lục 1)
* Ngoài ra tôi còn đầu tư chỉ đạo giáo viên tạo môi trường hỗ trợ hoạt động
GDBVMT, ƯPVBĐKH cho trẻ một cách tích cực hiệu quả như: Chỉ đạo các lớp xây
dựng góc mở theo phương pháp Động – Tĩnh với hình ảnh ngộ nghĩnh, màu sắc
phong phú, nội dung phù hợp với từng chủ đề. Việc trang trí lớp vừa làm đẹp cho
phòng học vừa tạo hứng thú cho trẻ có điều kiện quan sát, nhận xét tranh ảnh, nhận
biết được hành vi đúng, hành vi sai, có thái độ tích cực trong việc bảo vệ môi trường
xung quanh trẻ. Biết thực hành, xử lý tình huống, tham gia các hoạt động với bạn bè
và cô giáo.
- Tạo môi trường trong lớp: Xây dựng môi trường theo chủ đề là một yêu cầu
cần thiết đòi hỏi mỗi giáo viên đều phải thực hiện để tổ chức các hoạt động giáo dục
cho trẻ. Xây dựng môi trường trong lớp, bao gồm mảng chủ đề chính, các góc theo
quy định, bố trí các góc hợp lý, nội dung phản ánh của từng góc, đồ dùng đồ chơi
trong các góc phải được sắp xếp, khoa học, mang mầu sắc theo chủ đề cụ thể.
Ví dụ: Trong chủ đề “Nước và hiện tượng tự nhiên” Mảng chính hình ảnh tôi
gợi ý xây dựng là 2 chú cá heo được chia thành các nhánh theo chủ đề thực hiện.

trẻ trong chủ đề đó. Ban giám hiệu, tham mưu UBND xã, phối hợp với phụ huynh
quy hoạch, cải tạo sân, vườn trường tạo nên góc cho trẻ thực nghiệm các hoạt động
như: Thực nghiệm sự phát triển của cây, tạo góc thí nghiệm vật chìm nổi, chơi với
nước, với cát… khám phá theo dõi sự thay đổi của cây cối trong trường, tạo cảnh
quan để trẻ trải nghiệm với môi trường trong lành, từ đó có ý thức bảo vệ môi
trường, hình thành ý thức với ứng phó biến đổi khí hậu.
Bảo vệ môi trường cũng gắn liền với hoạt động vệ sinh cá nhân của trẻ vì thế
ngay từ đầu năm học tôi đã chỉ đạo giáo viên rèn nề nếp thói quen đi vệ sinh đúng
nơi quy định, biết rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, biết tiết kiệm nước, tiết
kiệm điện trong sinh hoạt. Ngoài ra để tạo môi trường ngoài lớp học, tôi đã hướng
dẫn giáo viên cho trẻ cách gieo hạt, trồng cây để tạo môi trường xanh, sạch, đẹp cho
lớp. Giúp cho trẻ hiểu cây xanh rất có ích cho con người, làm giảm ô nhiễm môi
trường, giảm bụi, giảm tiếng ồn, cây còn trồng trang trí tạo ra cảnh đẹp. Riêng đối
với hoạt động này đầu năm tôi đã chỉ đạo giáo viên xây dựng “Vườn thiên nhiên” tại
10


góc sân trường. Trong đó có chia thành từng khu vực cho trẻ chăm sóc: Vườn thuốc
nam, vườn hoa, vườn rau sạch và chia cho mỗi lớp chăm sóc 1 ô. Đồng thời chọn
giáo viên có năng khiếu về tạo hình, tận dụng các mảng tường xung quanh khuôn
viên trường để vẽ những hình ảnh có nội dung về giáo dục BVMT, ƯPVBĐKH để
giáo dục trẻ. ( Phụ lục 2)
Ngoài việc tổ chức các hình thức trên nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho
giáo viên về giáo dục bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu. Nhà trường còn
tổ chức cho giáo viên qua nâng cao kiến thức, kỹ năng qua các buổi sinh hoạt chuyên
môn, tham quan thực tế các trường bạn. Tìm kiếm sưu tầm một số bài thơ, câu
chuyện, câu đố, ca dao, đồng dao về giáo dục BVMT, ƯPVBĐKH. (Phụ lục 3)
* Kết quả: Thông qua các hình thức trên đã có 100% giáo viên nắm vững nội
dung, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu cho trẻ .
Biết lồng ghép, tích hợp nội dung vào các chủ đề, các hoạt động cho trẻ một cách có

đề cụ thể trên cơ sở chỉ đạo của Sở, Phòng giáo dục đã triển khai.
* Đối với nội dung giáo dục trẻ bảo vệ môi trường: Dựa vào đặc điểm của từng lứa
tuổi giáo viên có thể lựa chọn nội dung sao cho phù hợp, gần gũi như:
- Nội dung 1: Con người và môi trường sống
+ Môi trường sống: Nhận biết môi trường: phòng/nhóm/lớp học/gia đình, làng
xóm. Phân biệt môi trường sạch – môi trường bẩn. Biết được một số nguyên nhân
gây ô nhiễm môi trường. Một số cách tránh tác hại môi trường ô nhiễm.
+ Quan tâm bảo vệ môi trường: Tiết kiệm điện, nước, giữ gìn đồ dùng, đồ
chơi…Tham gia vệ sinh môi trường: không vứt rác bừa bãi, tham gia vệ sinh, lau
chùi, sắp xếp đồ dùng đồ chơi, không bẻ cây, không bắt động vật, biết chăm sóc cây
cối và con vật, không nói to nơi công cộng… Nội dung này có thể tích hợp vào các
chủ đề: Trường mầm non, Bản thân, Gia đình, Giao thông, Nghề nghiệp.
- Nội dung 2: Con người với động vật thực vật: Giúp trẻ nhận biết mối quan
hệ động vật, thực vật với môi trường, đối với con người (ích lợi đối với môi trường
sinh thái: trong tự nhiên không có động vật, thực vật chỉ có lợi hoặc có hại, tất cả đều
cần thiết cho thiên nhiên); Chăm sóc, bảo vệ cây cối và các con vật. Nội dung này có
thể tích hợp vào các chủ đề: Thế giới động vật, thực vật.
- Nội dung 3: Con người với thiên nhiên: Gió: ích lợi, tác hại của gió, biện
pháp tránh gió. Nắng và mặt trời: ích lợi và tác hại của nắng, các biện pháp tránh
nắng. Mưa: nhận biết và đoán được trời sắp mưa, ích lợi và tác hại của mưa, biện
pháp tránh mưa. Bão, lũ: Hiện tượng, nguyên nhân, tác hại của bão, lũ. Nội dung này
có thể tích hợp vào các chủ đề: Nước, mùa hè và các hiện tượng tự nhiên.
- Nội dung 4: Con người và tài nguyên (đất, nước, danh lam thắng cảnh): Trẻ
nhận biết được tác dụng của đất, nguyên nhân gây ô nhiễm, biện pháp bảo vệ. Các
nguồn nước, ích lợi của nước, nguyên nhân gây ô nhiễm, biện pháp bảo vệ. Các danh
lam thắng cảnh, giữ gìn, bảo vệ danh lam thắng cảnh. Tích hợp vào các chủ đề: Quê
hương đất nước, Bác Hồ.
* Đối với nội dung giáo dục trẻ phòng ngừa, ứng phó với biến đổi khí hậu:
- Giáo dục trẻ nhận biết các hiện tượng thời tiết, về nguy cơ của mưa bão, lũ lụt,
hạn hán, động đất, núi lửa, sạt lở đất, lốc, sét, chớp, nắng nóng,…

động này là hoạt động tích hợp nội dung GDBVMT, ƯPVBĐKH toàn phần hay tích
hợp một phần để chủ động trong công tác chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi, hệ thống câu
hỏi đàm thoại, trò chơi và hình thức tổ chức sao cho phù hợp.
Ví dụ: Với hoạt động khám phá khoa học. Đề tài: “Tìm hiểu về nước”
Đây là dạng hoạt động tích hợp toàn phần nội dung GDBVMT, ƯPVBĐKH vì
vậy đòi hỏi giáo viên phải xây dựng kế hoạch hoạt động phù hợp với khả năng nhận
biết của trẻ đảm bảo về mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ. Chuẩn bị về đồ dùng, đồ
chơi, hệ thống câu hỏi đàm thoại, địa điểm và hình thức tổ chức phù hợp.
Hay với Hoạt động làm quen với tác phẩm văn học: Đề tài: Truyện “Ai cần
nước” mẫu giáo 3- 4 tuổi. Đây là đề tài mà tôi đã chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng
giờ dạy mẫu cho giáo viên học tập. Để việc lồng ghép một cách nhẹ nhàng, linh hoạt
nội dung GDBVMT, ƯPVBĐKH tôi đã giúp giáo viên lên mạng Internet tìm kiếm
một số hình ảnh động về tàu, thuyền chạy trên sông, trên biển, một số hình ảnh về
thời tiết, nắng hạn, cây cối khô héo, sự cần thiết của nước đối với con người và thiên
13


nhiên… Sau đó gợi ý giáo viên tạo hứng thú cho trẻ bằng cách: Cho trẻ xem video
một số hình ảnh và trò chuyện với trẻ: Tàu thuyền chạy trên sông, biển được là nhờ
gì? (Các con thử tưởng tượng xem nếu không có nước thì tàu thuyền có chạy được
trên sông, trên biển không?). Cây cối, con vật ốm yếu, chết do thiếu nước trong mùa
nắng hạn (Con có biết vì sao không ?) Tác dụng của nước với cơ thể (Tại sao chúng
ta cần phải uống nước nhỉ?)
Trong khi đàm thoại với trẻ về nội dung câu chuyện giáo viên tích hợp
GDBVMT, ƯPVBĐKH: Nước rất cần trong cuộc sống của chúng ta, nước để chúng
ta uống, ăn, để dùng trong sinh hoạt hàng ngày, nước cần cho cây cối phát triển, tàu
thuyền chạy trên sông… Vì vậy chúng ta cần phải bảo vệ và giữ gìn nguồn nước
trong sạch không được vứt, đổ rác thải bừa bài, ra sông, ra biển làm ảnh hưởng đến
môi trường. Nước rất cần cho cơ thể nên mỗi ngày chúng ta phải uống đủ nước. Do
đó, nước rất cần thiết đối với con người và vạn vật hãy bảo vệ và sử dụng tiết kiệm

chức hoạt động góc cho trẻ, các nội dung chơi cần xác định rõ lựa chọn nội dung gì,
tích hợp những gì vừa tích hợp được nội dung GDBVMT, ƯPVBĐKH nhưng không
làm mất đi nội dung chính của buổi chơi.
Thông qua kiểm tra, dự giờ việc tổ chức hoạt động góc trong chủ đề “Gia đình”.
Qua theo dõi, quan sát trẻ ở các góc
- Góc phân vai:
+ Khi chơi trò chơi gia đình: Trẻ biết mô phỏng các công việc của người lớn
như: Dọn dẹp nhà cửa, lau chùi nền nhà sạch sẽ.
+ Khi chơi đóng vai bác sỹ: Trẻ biết khuyên bệnh nhân ăn sạch, ở sạch, tập thể
dục hàng ngày để cơ thể luôn khỏe mạnh.
+ Khi đóng vai cô giáo, trẻ biết nhắc nhở học sinh giữ gìn trường lớp, đồ dùng
đồ chơi sạch sẽ, khi chơi xong xếp gọn gàng để bảo vệ môi trường lớp học luôn
sạch đẹp.
+ Trò chơi nấu ăn: Trong quá trình trẻ chơi đóng vai đầu bếp hoặc người lớn
trong gia đình chế biến thức ăn: trẻ biết chú ý vệ sinh dụng cụ nhà bếp, rửa thực
phẩm sạch sẽ…
- Góc tạo hình: Trẻ biết làm một số đồ dùng, đồ chơi từ những nguyên liệu
thiên nhiên và phế liệu thải bỏ như: Gáo dừa, vỏ hộp làm bộ gõ nhạc, tre làm
phách…
- Góc thiên nhiên: Khi trẻ chăm sóc cây, lau lá, nhổ cỏ, xới đất, tưới cây, nhặt
lá khô, gieo hạt, trồng cây… trẻ cảm nhận được công việc của người trồng nên
những cây xanh. Khi chơi với cát, nước trẻ biết phải rửa tay sạch sẽ khi chơi xong.
- Góc Xây dựng - Lắp ghép: Qua các trò chơi lắp ghép xây dựng các công
trình như: Vườn bách thú, vườn rau của bé,… trẻ biết bố trí, xếp đặt các khu vực
trong mô hình hợp lý, gọn gàng, sạch đẹp. Biết sử dụng các nguyên vật liệu đã qua
sử dụng để tạo thành các sản phẩm phục vụ cho góc xây dựng. Thông qua quá trình
chơi, sẽ hiểu được ý nghĩa môi trường đối với đời sống con người. Được thực hiện
các thao tác chơi mô phỏng những công việc hàng ngày của người lớn giúp trẻ cảm
thấy mình “quan trọng” và có ý thức cùng chung tay bảo vệ môi trường.
3.3. Tích hợp nội dung GDBVMT, ƯPVBĐKH thông qua hoạt động ngoài trời,

lồng ghép, tích hợp nội dung GDBVMT, ƯPVBĐKH có hiệu quả.
Biện pháp 4. Chỉ đạo giáo viên GDBVMT, ƯPVBĐKH qua hoạt động thực
tiễn, các bài tập thực hành, cách xử lý tình huống.
Chỉ đạo giáo viên hướng dẫn trẻ làm cùng cô một số đồ dùng đồ chơi từ
nguyên vật liệu thiên nhiên và vật liệu đã qua sử dụng như vỏ chai nước rửa bát, của
hộp sữa chua, lon bia, bát nhựa dùng một lần, sỏi, đá, len vụn, cành cây khô, lá cây,
bẹ ngô,… làm đồ dùng dạy học. Trong quá trình trẻ thực hiện, cô trò chuyện với trẻ
và cho trẻ thảo luận với nhau về những sản phẩm mà trẻ đang làm, ý nghĩa của
chúng nhằm chính xác hóa những ấn của trẻ về môi trường. Qua đó, giáo dục trẻ ý
thức tiết kiệm và ý thức lao động sáng tạo. Ngoài ra, hằng ngày tổ chức cho trẻ nhặt
rác, nhặt lá cây, làm cỏ, bắt sâu và chăm sóc cây trồng tại vườn thiên nhiên của bé.
Thu gom nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương để làm đồ dùng, đồ chơi: Cói, lõi, vỏ
cây khô, bẹ ngô, lá chuối, rơm rạ, giấy báo cũ … để làm tranh giáo dục bảo vệ môi
trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
16


( Hình ảnh 2: Sản phẩm của cô và trẻ làm từ lá cây, xốp màu, vỏ cây...)
Đồng thời chỉ đạo giáo viên thường xuyên thực hiện các bài tập đánh giá vệ
sinh môi trường, điều kiện sống của cây cối, con vật, các hành động tốt - xấu đối với
môi trường, nhận biết sự thay đổi của khí hậu, cách ứng phó sự biến đổi khí hậu của
trẻ, cách xử lý tình huống khi có vấn đề xảy ra, nhận biết được hành vi đúng, hành
vi sai, những việc nên làm, không nên làm đối với môi trường và ứng phó với biến
đổi khí hậu. Từ đó củng cố kiến thức cho trẻ, giúp trẻ có một số kỹ năng cơ bản khi
tham gia hoạt động.
Ví dụ: Tổ chức cho trẻ chơi với trò chơi “Lựa chọn đồ dùng phù hợp với thời
tiết” thông qua trò chơi này nhằm giáo dục trẻ biết lựa chọn được đồ dùng cần thiết
(mùa đông thì cần có khăn, áo ấm, tất; mùa hè cần có ô, có mũ để che nắng và có
quần áo mát…).
Hay: Cho trẻ làm bài tập: “Nối hình ảnh tương ứng”, “Tô màu hành vi đúng,

- Cách xử lý tình huống khi “Có dông, sấm sét, mưa to” xảy ra. Giáo viên mở
băng có ghi âm tiếng gió, tiếng mưa, tiếng sấm… cho trẻ chơi tự do trong phòng, sau
đó cô mở từng tiếng của thời tiết để trẻ lắng nghe và tự tránh: Tiếng gió thì chạy về,
tiếng mưa và sấm chạy về không được trú ở những nơi nguy hiểm. Cô giải thích cho
trẻ về tình huống: không trú tại nơi có bóng cây to, trong ô tô hay dưới gầm cầu vì
như thế dễ bị lốc xoáy cuốn theo.
- Cách xử lý tình huống khi “Có hỏa hoạn” xảy ra: Trong trường hợp có hỏa
hoạn các con hãy hét lên thật to để báo cho người lớn và mọi người xung quanh biết,
thông báo rõ địa điểm nơi đang cháy để lực lượng cứu hỏa đến giúp đỡ. Nếu cháy ở
trong phòng, hãy dùng khăn (Khăn ướt càng tốt) bịt mũi để hạn chế hít phải khói
độc, bò bằng đầu gối dưới đám khói và thoát ra ngoài càng nhanh cành tốt. Nếu quần
áo bị cháy, hãy nằm ngay xuống đất, che mặt và lăn qua lăn lại cho đến khi lửa tắt.
Không được chạy vì chạy lửa sẽ càng cháy nhanh hơn. Không được nấp dưới gầm
giường, tủ… Hãy luôn tạo ra tiếng động để mọi người biết nơi trẻ ẩn nấp.

18


- Biết giữ gìn vệ sinh môi trường: Cho trẻ dạo chơi trong trường khi có gió, lá
rụng trẻ nhặt lá bỏ thùng rác, những lá có thể sáng tạo làm đồ chơi cô hướng dẫn trẻ
sáng tạo. Khi chơi xong trẻ vệ sinh chân tay sạch sẽ.
* Kết quả: 98% Trẻ mẫu giáo trường tôi ý thức được việc bỏ rác đúng loại, biết
bảo vệ thiên nhiên. Trẻ đã có hành vi đúng sai khi chăm sóc bản thân và môi trường,
biết cách xử lý khi thời tiết thay đổi, vệ sinh cá nhân, trực nhật…Trẻ biết yêu quý các
động vật, biết chăm sóc bảo vệ con vật. Trẻ luôn hứng thú học, sau khi ăn xong biết
bỏ rác và thùng, biết rửa tay trước khi ăn, có những hành vi văn minh nơi công cộng.
Biện pháp 5. Chỉ đạo giáo viên sử dụng bộ tranh GDBVMT, ƯPVBĐKH một
cách có hiệu quả.
Trẻ mầm non được trải nghiệm, khám phá, tiếp cận với môi trường xung quanh
dưới nhiều hình thức, đa dạng theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi” là

tươi sáng, hài hoà, hấp dẫn trẻ. Kích thước tranh nên đa dạng: tranh cỡ A1, A3, A4
hoặc tranh lô tô để có thể sử dụng được nhiều mục đích, trong nhiều thời điểm, nhiều
hoạt động. Chọn tranh có nội dung, hình ảnh gần gũi với cuộc sống thực của trẻ. Sử
dụng tranh linh hoạt phù hợp với mục đích và nội dung của từng hoạt động với kinh
nghiệm và khả năng của trẻ.
Sau đây là một số cách gợi ý giúp giáo viên sử dụng tranh trong nội dung giáo
dục BVMT, ƯPVBĐKH:
* Quan sát và thảo luận tranh: “Khu rừng yên vui”
- Mục đích: Trẻ nhận biết tên gọi và đặc điểm nổi bật của một số động vật sống
trong rừng. Phát hiện khả năng quan sát so sánh, ngôn ngữ chủ động, sáng tạo ở trẻ.
Trẻ cảm nhận được vẻ đẹp của cảnh vật thiên nhiên trong bức tranh; khung cảnh
cuộc sống yên bình, an toàn của các loài vật trong rừng. Giáo dục trẻ lòng yêu quý
các con vật, có ý thức bảo vệ giữ gìn môi trường: bảo vệ rừng, bảo vệ các con vật
quý hiếm…
- Chuẩn bị: Treo bức tranh: “Khu rừng yên vui” vừa tầm nhìn của trẻ. Một số
câu hỏi; câu đố; bài hát/nhạc “Ta đi vào rừng xanh”, “Lá xanh”… Một số tranh lô tô
các con vật, tranh liên quan.
- Tiến hành: Cô cho trẻ hát “Ta đi vào rừng xanh”, hướng trẻ chú ý vào bức
tranh “Khu rừng xanh tươi”. Hỏi trẻ xem trẻ nhìn thấy gì trong bức tranh. Khuyến
khích trẻ trò chuyện cùng nhau và kể về bức tranh. Cô có thể gợi mở bằng những câu
hỏi: Bức tranh vẽ gì? Trong tranh có những con vật gì? Các con vật đang làm gì?
Các con vật đang ở đâu? Con hãy quan sát kĩ và hãy kể trong bức tranh này còn có gì
nữa? Cảnh vật trong rừng thế nào? (đẹp, tươi vui, yên bình/an toàn, vui vẻ, đông vui)
Vì sao con nghĩ vậy?... Con có thích cảnh vật trong khu rừng này không? Vì sao? Để
bảo vệ những con vật sống ở trong rừng chúng ta cần phải làm gì? Khuyến khích trẻ
đặt tên trong bức tranh.
* Kể chuyện sáng tạo theo tranh về việc trồng cây và bảo vệ cây
- Mục đích: Giúp trẻ biết cách kể chuyện sáng tạo và phát triển ngôn ngữ mạch
lạc. Biết những hành động nên và không nên trong bảo vệ môi trường, bảo vệ cây.
Biết cách chăm sóc, bảo vệ cây, yêu quý cây.

đến lớp. Thời gian này thường rất ngắn, vì vậy tôi đã chỉ đạo giáo viên nên chọn lọc
những thông tin cần thiết nhất về trẻ để trao đổi.
Ví dụ: Nhắc nhở phụ huynh thường xuyên giáo dục trẻ, bảo vệ môi trường,
nhắc nhở phụ huynh để xe đúng nơi quy định.
- Mời phụ huynh tham dự các hoạt động nhằm GDBVMT, ƯPVBĐKH. Để
gắn kết mối quan hệ phối hợp Nhà trường đã mời phụ huynh tham gia một số hoạt
21


động như: Mời phụ huynh tham quan ở các góc chơi, các sản phẩm của trẻ; tham
quan hoạt động của bếp ăn, mời phụ huynh tham gia chế biến món ăn cho trẻ, tham
gia các ngày hội ngày lễ “Ngày hội đến trường của bé”,“Tết trung thu”, hội thi…
Qua đó, phụ huynh hiểu biết cụ thể về cách chăm sóc của cô giáo với các cháu, hiểu
thêm về cách giáo dục, các hoạt động giúp trẻ phát triển toàn diện. Mời phụ huynh
tham gia tư vấn xây dựng trường, lớp, trồng cây bóng mát, cây xanh, cây ăn quả, xây
dựng vườn thiên nhiên, vườn cổ tích cho bé. Tham gia lao động vệ sinh môi trường,
bảo vệ nguồn nước sạch, lắp đặt hệ thống thiết bị điện, nước, an toàn, tiết kiệm điện,
trồng cây… tại trường mầm non. Cùng nhà trường tham gia ứng phó với thời tiết bất
thường xảy ra như có bão, lũ…Trên cơ sở đó phụ huynh có sự hiểu biết, cảm thông,
phối hợp tích cực hơn và hỗ trợ cùng nhà trường chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
- Tổ chức họp phụ huynh: Thông thường họp phụ huynh được tổ chức định kỳ
3 lần/ năm học. Giáo viên thông báo và thảo luận với gia đình trẻ về kế hoạch hoạt
động của lớp, của trường và thống nhất nội dung, biện pháp phối hợp thực hiện chăm
sóc, giáo dục trẻ nói chung, trẻ mẫu giáo nói riêng trong đó có nội dung giáo dục trẻ
bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu bằng cách: Rèn cho trẻ kỹ năng giữ
gìn nhà cửa sạch sẽ, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi gọn gàng, biết chăm sóc cây cối, vật
nuôi, biết ăn chín uống sôi, biết tham gia lao động cùng với cha mẹ và người thân,
biết tham gia giao thông đúng luật, sử dụng tiết kiệm điện nước, biết tránh xa một số
nơi nguy hiểm không an toàn, …
- Sử dụng bảng thông báo, tranh tuyên truyền: Bảng thông báo của nhà

xây mới thêm 8 phòng học, phòng âm nhạc, công trình vệ sinh trị giá trên 5 tỷ đồng.
Phụ huynh ủng hộ nhà trường làm vườn thiên nhiên, trồng cây xanh bóng mát xây
dựng cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp và an toàn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Có thể nói rằng sau khi áp dụng một số biện pháp“Chỉ đạo tich hợp nội dung
giáo dục bảo vệ môi trườnng, ứng phó với biến đổi khí hậu cho trẻ mẫu giáo ở
trường mầm non Nga Thái” Bản thân tôi nhận thấy các giải pháp này đã đem lại
những kết quả rất tốt đó là:
- 100% Giáo viên đã nắm vững kiến thức, nội dung, phương pháp lồng ghép,
tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trườnng, ứng phó với biến đổi khí hậu cho trẻ
mẫu giáo vào các hoạt động một cách có hiệu quả.
- Có tới 90% các bậc phụ huynh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
- Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể trong và
ngoài địa phương đầu tư mua sắm đầy đủ cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho
việc dạy và học. Đặc biệt qua quá trình kiểm tra, khảo sát thực tế trên trẻ, trên giáo
viên đã đem lại những kết quả như sau:
Bảng 1. Kết quả đối với giáo viên:
STT

Nội dung

1

Giáo viên nắm chắc kiến thức chuyên
đề giáo dục BVMT, ƯPVBĐKH.
Tổ chức các hoạt động có hiệu quả giáo
dục BVMT,ƯPVBĐKH cho trẻ mẫu
giáo


92.9

1

7.1

23


3

Biết lồng tích hợp các hoạt động giáo
dục BVMT,ƯPVBĐKH cho trẻ mẫu
giáo.
4
Sử dụng tranh giáo dục BVMT,
ƯPVBĐKH cho trẻ mẫu giáo.
5 Giáo viên tham gia việc tìm kiếm, sưu
tầm các loại truyện, thơ, ca dao, đồng
dao, trò chơi, câu đố. Cách xử lý các
tình huống.
Bảng 2. Kết quả đối với trẻ
STT

Nội dung

1

Trẻ nhận biết được một số kiến thức cơ
bản về BVMT và ƯPBĐKH.

0

0

14

14

100

0

0

Tổng số
trẻ

Đạt

Tỷ lệ
(%)

Chưa
đạt

Tỷ lệ
(%)

316


300

95

16

5

316

291

92

25

8

Thông qua kết quả đạt được có thể nói tỷ lệ cán bộ giáo viên nắm chắc kiến
thức về GDBVMT, ƯPBĐKH tăng lên rõ rệt, giáo viên chủ động trong việc xây
dựng và lựa chọn nội dung, các bài thơ ca, truyện kể, câu đố phù hợp với chủ đề với
từng hoạt động, khéo léo tích hợp một cách có hiệu quả. Đối với trẻ hứng thú hơn
khi tham gia các hoạt động đặc biệt là hoạt động trải nghiệm, biết cách ứng phó với
một số tình huống đơn giản trong cuộc sống hằng ngày, phụ huynh quan tâm hơn,
phối hợp nhịp nhàng hơn cùng nhà trường nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục
trẻ đặc biệt là giá dục BVMT, ƯPBĐKH cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
- Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu và triển khai thực hiện chuyên đề “Giáo dục bảo vệ
môi trườnng, ứng phó với biến đổi khí hậu” cho trẻ mẫu giáo. Tôi nhận thấy, để thực

Trên đây là những kinh nghiệm qua quá trình chỉ đạo thực hiện lồng ghép, tích
hợp GDBVMT, ƯPVBĐKH cho trẻ mẫu giáo, rất mong được sự góp ý của Ban
giám hiệu nhà trường cũng như các bạn đồng nghiệp, Phòng giáo dục để tôi chỉ đạo
tổ chức thực hiện được tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Nga Sơn, ngày 12 tháng 04 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết SKKN
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status