PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
TRƯỜNG MẦM NON NGỌC TRẠO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
PHÁT TRIỂN VẬN ĐỘNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON NGỌC TRẠO
Người thực hiện: Nguyễn Thị Liệu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường mầm non Ngọc Trạo
SKKN thuộc lĩnh mực: Chuyên môn
THẠCH THÀNH, NĂM 2016
MỤC LỤC
1
STT
1
2
Mục lục
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
5
Trang
1
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3
4-6
7
7-10
11
12
12-13
14
14-15
15-16
16-17
18
1. Kết luận:
2. Kiến nghị:
Tài liệu tham khảo
19
I. MỞ ĐẦU
2
giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của nhiệm vụ do giáo viên đề ra và tích cực vượt qua
khó khăn xuất hiện trong hoạt động của mình.
Thực tế hiện nay trong trường mầm non, chúng tôi thấy rằng sự quan tâm
đúng mức tới thể dục cho trẻ mẫu giáo thực sự chưa thực sự đầy đủ lắm, cơ sở
vật chất còn thiếu thốn, phương pháp và hình thức tổ chức phát triển vận động
cho trẻ còn đơn điệu chưa đáp ứng được nhu cầu vận động của trẻ. Như vậy
việc tìm hiểu cách tổ chức các hình thức giáo dục thể chất cho trẻ để từ đó tìm ra
một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể chất đặc biệt là giáo
dục phát triển vận động cho trẻ là một việc làm rất quan trọng trong việc chăm
sóc, bảo vệ sức khoẻ, tăng cường thể lực tầm vóc của trẻ.
Xuất phát từ những vấn đề trên, để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ trong bậc học mầm non nói chung và trong trường mầm non Ngọc Trạo
nói riêng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp nâng cao
3
chất lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Ngọc Trạo”
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng việc tổ chức các hình thức giáo dục phát
triển vận động cho trẻ từ đó chọn lọc các hình thức giáo dục phát triển vận động
phù hợp đối với trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng là trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường Mầm non Ngọc Trạo
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài này tôi đã chọn và sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp nghiên cứu sử dụng tài liệu
+ Phương pháp tuyên truyền với các bậc phụ huynh
+ Phương pháp đàm thoại nêu gương
4
2. Thực trạng của nhà trường trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm:
a. Khái quát về tình hình kinh tế xã hội của địa phương và đặc điểm,
tình hình trường mầm non Ngọc Trạo:
Trường mầm non Ngọc Trạo là một trường thuộc khu vực miền núi thấp,
xã có diện tích 1.062 ha và kinh tế phát triển không đồng đều. Xã có 6 thôn,
trong đó có 2 thôn vùng 135. Dân số chủ yếu làm nông nghiệp, một số là lao
động tự do nên việc làm không ổn định, chỉ một số ít là công nhân viên và tiểu
thương. Các ban ngành đoàn thể của địa phương luôn quan tâm đến trường mầm
non của xã. Xã có 3 cấp học đều đạt trường đạt chuẩn quốc gia mức độ I.
Trường mầm non Ngọc Trạo được thành lập từ năm 1997 và được công nhận
trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ I năm 2010, nhưng cho đến nay còn
nhiều thiếu thốn về cơ sở vật chất. Năm học 2015 - 2016 trường có số lượng cán
bộ giáo viên, nhân viên và học sinh như sau:
+ Tổng số Cán bộ giáo viên, nhân viên: 19 đồng chí
+ Tổng số học sinh : 201 cháu
+ Tổng số lớp : 9 nhóm lớp
Trong đó : Nhóm trẻ : 2 nhóm
Mẫu Giáo : 7 lớp - Mẫu giáo Bé: 3 lớp
- Mẫu giáo Nhỡ: 2 lớp
- Mẫu giáo Lớn : 2 lớp
(Trường mầm non Ngọc Trạo, trường chuẩn quốc gia mức độ I)
5
b. Thực trạng :
chức các hoạt động giáo dục phát triển vận động.
* Khó khăn :
- Số lượng học sinh trong lớp có thể lực phát triển còn hạn chế, còn một số ít
học sinh suy dinh dưỡng và cận suy dinh dưỡng ở thể nhẹ cân và thể thấp còi.
- Sân tập có diện tích hẹp, không có khu tập riêng biệt.
- Một số dụng cụ thể dục chưa phù hợp, chưa đầy đủ, chưa phong phú.
- Trường chưa có phòng giáo dục thể chất cho trẻ.
- Nhận thức của phụ huynh về môn phát triển vận động chưa tốt, quan niệm
của phần lớn phụ huynh cho rằng phát triển vận động chỉ là để chơi không phải
học.
- Đa số phụ huynh làm công nhân cho các nhà máy, đi làm ăn xa không có
thời gian dành cho con chủ yếu là để con cho ông bà chăm sóc. Các bậc phụ
6
huynh không quan tâm việc đến trường các cháu được học những gì, mà chỉ
thích cho trẻ viết chữ, làm toán như lớp 1 hay ở trường phổ thông.
c. Kết quả thực trạng:
Từ thực trạng này tôi đã đưa ra nội dung bài tập để tiến hành khảo sát 27 trẻ
đó là:
- Trẻ hứng thú khi thực hiện các bài tập phát triển vận động.
- Trẻ biết tập động tác phát triển nhóm cơ và hô hấp.
- Trẻ biết tập luyện các kỹ năng vận động cơ bản và phát triển các tố chất
trong vận động.
- Trẻ biết tập các cử động của bàn tay, ngón tay, phối hợp tay, mắt và sử dụng
một số đồ dùng, dụng cụ.
Sau đây là bảng thống kê kết quả khảo sát
Học kỳ I. Năm học: 2015 -2016
Nội dung khảo sát
- Trẻ hứng thú khi
SL
%
SL
%
27
17
63
6
22.2 3
11.1 1
3.7
27
15
55.6 8
29.6 2
4
SL
%
Xuất phát từ kết quả, hiệu quả của thực trạng trên tôi đã mạnh dạn đưa ra:
“ Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động cho
trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Ngọc Trạo”
7
3. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
3.1. Tăng cường tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường trang bị mua
sắm đồ dùng phục vụ tiết dạy vận động.
Để nâng cao chất lượng về phát triển vận động thì việc đầu tư, tăng cường cơ
sở vật chất là việc làm rất quan trọng. Bản thân là tổ trưởng chuyên môn, việc
tham mưu cho Ban giám hiệu nâng cao chất lượng chuyên môn, kiến thức các
bộ môn đặc biệt là những bộ môn mà giáo viên gặp khó khăn như bộ môn phát
triển vận động tôi luôn tham mưu thường xuyên, từ đó có kế hoạch đầu tư về
kinh phí, kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn qua thao giảng, kiểm tra chuyên đề,
mở rộng diện tích sân tập, mua sắm các trang thiết bị cho giờ học như dụng cụ
thể dục: Vòng thể dục, hoa tua, đĩa nhạc, cờ nơ …. Ngoài ra việc tham mưu với
ban giám hiệu bổ xung thêm các thiết bị đồ dùng đồ chơi ngoài trời để đáp ứng
nhu cầu vận động của trẻ, cụ thể là: Trong năm học nhà trường đã thống nhất với
phụ huynh mua thêm bập bênh, xích đu, đóng mới thêm ghế thể dục cho trẻ.
Cùng phối hợp với chuyên môn xây dựng các tiết thể dục cho một giáo viên dạy
tốt thực hiện tiết dạy để tất cả chị em được dự giờ tham khảo rút kinh nghiệm và
thống nhất cách thực hiện kịp thời.
- Đi- chạy
+ Đi, chạy thay đổi tốc độ,
hướng, diz zăc theo hiệu lệnh
- Bò, trườn, trèo
+ Bò bằng bàn tay, bàn chân 4
- Đi- chạy
+Trẻ biết đi, chạy thay đổi tốc độ,
hướng, diz zăc theo hiệu lệnh
- Bò, trườn, trèo
+ Trẻ biết bò bằng bàn tay, bàn
8
Bản
thân
Gia
đình
Nghề
nghiệp
- 5m
- Tung, ném, bắt: Tung bóng
lên cao và bắt bóng
- Bật, nhảy :
+ Bật liên tục vào 5 vòng
- Đi, chạy
+ Đi nối bàn chân tiến lùi
+ Trẻ biết đi, chạy thay đổi tốc độ,
hướng, dic zăc theo hiệu lệnh
- Bò, trườn, trèo
+ Trẻ biết bò dic zăc qua 7 hộp.
+ Trẻ biết bò bằng bàn tay, cẳng
chân chui qua cổng
- Đi- chạy
+ Trẻ biết đi mép ngoài bàn chân,
đi khụy gối.
+ Trẻ biết đi, chạy thay đổi tốc độ,
hướng, diz zăc theo hiệu lệnh
- Tung, ném, bắt:
+ Trẻ biết ném trúng đích nằm
ngang.
- Bật, nhảy :
+ Trẻ biết bật chụm , tách chân
qua 5 ô.
+ Trẻ biết bật xa, ném xa bằng 1
tay.
+ Trẻ biết nhảy lò cò 5m
- Đi- chạy
- Đi- chạy
+ Đi chạy theo đường thẳng.
+ Trẻ biết đi chạy theo đường
+ Chạy nhanh 18m trong thẳng.
khoảng 10 giây
+ Trẻ biết chạy nhanh 18m trong
- Tung, ném, bắt:
khoảng 10 giây
+ Ném xa bằng 2 tay
- Đi- chạy
+ Đi mép ngoài bàn chân, đi
khụy gối.
+ Đi, chạy thay đổi tốc độ,
Thế giới hướng, diz zăc theo hiệu lệnh
động vật - Bò, trườn, trèo
+ Bò zic zắc bằng bàn tay, bàn
chân qua 7 hộp
- Tung, ném, bắt:
+ Ném trúng đích nằm ngang
bằng 1 tay.
+ Chuyền bóng qua đầu
- Đi- chạy
+ Đi mép ngoài bàn chân, đi
khụy gối.
Giao
+ Đi, chạy thay đổi tốc độ theo
thông
hiệu lệnh
- Tung, ném, bắt:
+ Chuyền bóng qua đầu.
- Bật, nhảy :
+ Bật tách chân, khép chân qua
7ô
- Đi- chạy
+ Đi chạy theo đường thẳng.
- Đi- chạy
+ Trẻ biết đi mép ngoài bàn chân,
- Bật, nhảy :
- Bật, nhảy :
nhiên
+ Bật qua chướng ngại vật cao + Trẻ biết bật qua chướng ngại vật
15 - 20cm.
cao 15 - 20cm.
10
Quê
hương Đất
nước –
Bác Hồ
- Đi- chạy
+ Đi chạy theo hiệu lệnh.
- Tung, ném, bắt:
+ Đi và đập bắt bóng
- Bật, nhảy :
+ Bật nhảy từ trên cao (4045cm) xuống
- Đi- chạy
+ Đi chạy theo các hướng.
- Bò, trườn, trèo
+ Trèo lên xuống 7 dóng thang
- Đi- chạy
+ Trẻ biết đi chạy theo hiệu lệnh.
- Tung, ném, bắt:
+ Trẻ biết đi và đập bắt bóng
chúng ta đã biết, tác dụng của thể dục buổi sáng đối với trẻ em hàng ngày có ý
nghĩa to lớn về giáo dục và sức khỏe cho trẻ em, đặc biệt là trẻ ở lứa tuổi mẫu
giáo và mầm non. Buổi sáng ngay sau khi ngủ dậy tập thể dục đơn giản, trẻ tích
lũy được sự sảng khoái cho cả ngày. Tập luyện thường xuyên như vậy, cơ thể
của trẻ nâng cao hoạt động của các cơ quan của cơ thể, thúc đẩy sự phát triển
những kỹ năng vận động cần thiết, củng cố các nhóm cơ, hình thành tư thế đúng
đắn. Vì vậy tôi cho trẻ tập thể dục sáng hàng ngày vào một thời gian nhất định
sau giờ đón trẻ . Thời gian tập khoảng 10 – 15 phút., Trang bị dụng cụ như gậy,
nơ, vòng, bông tua, cờ …thể dục phù hợp với động tác để tạo hứng thú cho trẻ
tập . Khi trẻ tập giáo viên quan sát cách đứng của trẻ, tư thế đầu, vai, mông và
đặc biệt là cột sống của trẻ. Trẻ cần đứng thẳng, vai thả đều, không lên gân, tay
cử động thoải mái, không cúi đầu. Giữ cho trẻ tư thế đứng ngay cả khi nghỉ, khi
đi bộ, chạy và làm các cử động khác. Số lần lặp lại mỗi bài tập phụ thuộc vào
tính chất mỗi động tác, cũng như trình độ thể lực của trẻ. Những bài tập khó, có
khối lượng vận động lớn chỉ nên lặp lại 2- 3 lần, còn động tác phát triển chung
đối với tay, chân thì nên từ 4- 6 lần. Chọn động tác và sắp xếp bài tập cho trẻ cần
theo một số quy định. Trước hết động tác phải phù hợp và hấp dẫn đối với trẻ
em. Bài tập phải có tác động hoàn thiện kĩ năng đi, chạy, trèo, ném, thúc đẩy sự
hình thành tư thế đúng, gây sự hoạt động tích cực của các cơ quan hô hấp, tuần
hoàn, các nhóm cơ…
Ví dụ: Vào khoảng 8h sáng thứ 2 đối với giờ mùa đông, cô cho trẻ tập thể dục
sáng thi đúng giờ đó vào các ngày tiếp theo cô cũng tập thể dục sáng cho trẻ…
Giờ thể dục sáng của trẻ
12
3.4 Khuyến khích tính tự giác và tích cực ở trẻ:
Khuyến khích tính tự giác và tích cực ở trẻ, bởi giáo dục phát triển vận động
cho trẻ là một quá trình sư phạm, cho nên giáo viên không những phải dạy cho
trong tiết học giáo dục phát triển vận động tôi đã sử dụng các hình thức sau:
Ví dụ: Hình thức tập cả lớp đồng loạt:
Khi áp dụng hình thức này có nghĩa là tôi cho tất cả trẻ cùng thực hiện một
bài tập vận động giống nhau. Hình thức dạy học này cho phép giáo viên cùng
một lúc chỉ đạo toàn bộ trẻ, tăng lượng vận động, tạo điều kiện củng cố kỹ năng
vận động, phát triển tố chất thể lực, tính tập thể, khả năng phối hợp vận động khi
thực hiện bài tập.
Ví dụ: Khi dạy trẻ bài tập: “Nhảy lò cò” tôi cho trẻ tập đồng loạt tại chỗ 7
trẻ cùng cô nhảy lò cò.
13
Ví dụ: Hình thức tập cả lớp – nối tiếp:
Khi áp dụng hình thức này, tôi cho trẻ cùng thực hiện một bài tập, liên tiếp
trẻ nọ nối tiếp trẻ kia. Có thể một nhóm có từ 3 – 5 trẻ tập xong bài tập rồi tiếp
theo đến nhóm khác, giống như tập quay vòng. Tập theo nhóm nối tiếp trẻ rất
hứng thú
và thi đua nhau tập.
Ví dụ: Hình thức tập theo nhóm:
Khi áp dụng hình thức này, trong thời gian cho trẻ thực hiện tôi chia lớp
thành 2 hoặc 3 nhóm , mỗi nhóm tập bài tập ở các vị trí khác nhau và có giáo
viên hoặc trẻ có năng lực tổ chức phụ trách. Trong khi thực hiện bài tập theo
nhóm, nếu vận động mới có một bài tập vận động cơ bản thì tập theo kiểu nhóm
không chuyển đổi, các nhóm tập xong bài tập đã cho thì cả lớp chuyển sang
phần tiếp theo của buổi tập. Nếu bài tập vận động mới có 2 vận động cơ bản thì
tôi cho trẻ tập theo kiểu nhóm chuyển đổi, chia lớp thành 2 nhóm: Nhóm 1 tập
xong vận động thứ nhất, cùng lúc nhóm 2 tập xong vận động thứ hai. Sau đó
nhóm 1 tập vận động 2 đồng thời nhóm 2 tập vận động 1. Cuối cùng cả lớp
chuyển sang phần tiếp theo của buổi tập. Tôi đưa hình thức tập theo nhóm này
tính vừa sức và coi trọng đặc điểm cá nhân của trẻ . Xuất phát từ đặc điểm tâm
sinh lý lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, trình độ, khả năng tiếp thu của trẻ mầm non,
giáo viên cần phải xây dựng bài tập sao cho phù hợp, cân đối vận động giữa
chân và tay, giữa cơ quan vận động và cơ quan nội tạng, giữa các tố chất nhanh,
mạnh, bền, khéo của cơ thể…Việc dạy phát triển vận động cần phải có hệ thống
cụ thể và toàn diện và cần nâng dần độ khó của các bài tập để cơ thể trẻ quen
dần với vận động, các cơ quan và hệ thống trong cơ thể tăng dần khả năng thích
ứng. Trong khi đưa vào giảng dạy cũng cần lưu ý dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản
đến phức tạp, khối lượng vận động từ ít đến nhiều, và phải thường xuyên luyện
tập, thường xuyên theo dõi, cập nhật tình trạng phát triển của trẻ để làm cơ sở
xây dựng các hệ thống tập luyện về sau.
Ví dụ: Trong một giờ phát triển vận động với đề tài: Bật liên tục qua 4-5
vòng. Lúc đầu cô có thể cho trẻ bật lần lượt các vòng theo hiệu lệnh của cô, sau
khi thấy trẻ đi đã thành thạo cô có thể tăng dần tốc độ bật lên như: Cô yêu cầu
trẻ vừa bật nhanh rồi kết hợp chạy lên ném vòng cổ chai theo hiệu lệnh của cô.
Lúc này trẻ không chỉ thực hiện có một vận động mà trẻ phải thực hiện cùng
một lúc 2 vận động theo yêu cầu của cô. Khuyến khích trẻ thi đua nhau thực
hiện đội 1, đội 2 để kích thích trẻ tham gia các hoạt động.
15
Khi dạy giáo dục phát triển vận động, cần phải hiểu rõ đặc điểm cá nhân của
trẻ để từ đó xây dựng chương trình vận động, nội dung, phương pháp và khối
lượng vận động sao cho phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ. Nếu bài dạy có
nội dung quá đơn giản, khối lượng vận động quá ít sẽ khiến tác dụng rèn luyện
cơ thể không cao và cũng khiến cho người tập không hứng thú. Ngược lại, nếu
nội dung và lượng vận động quá cao có thể sẽ khiến người tập sợ hãi và không
tiếp thu được bài tập. Bên cạnh đó, trong một lớp học, trình độ và sức khỏe của
học sinh là không đồng đều, giáo viên ngoài việc quan tâm đến sức khỏe chung
Khi đưa biện pháp này vào dạy trẻ trong tiết học giáo dục thể chất tôi thấy trẻ
lớp tôi học tốt hơn, hứng thú hơn và kiến thức, kỹ năng của trẻ được nâng lên rõ
rệt: Trẻ tập Erobic trong phần bài tập phát triển chung.
(Đưa Erobic vào bài tập phát triển chung)
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Sau khi áp dụng các phương pháp, biện pháp trên vào phát triển vận động
cho trẻ tôi thấy kết quả đạt được rõ rệt:
* Kết quả khảo sát 27 trẻ học kì II . Năm học 2015-2016 có sự tiến bộ vượt
bậc.
17
Sau đây là bảng thống kê kết quả khảo sát
Học kỳ II. Năm học: 2015 -2016
Nội dung khảo sát
Số
Tốt
Khá
Trung
trẻ
bình
SL %
SL %
SL %
- Trẻ hứng thú khi thực
hiện các bài tập phát 27
26 96.3 1
SL
%
0
0
0
0
0
0
0
0
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Phát triển vận động cho trẻ mầm non mà đặc biệt là cho trẻ mẫu giáo nhằm
giúp trẻ củng cố và phát triển các kĩ năng của vận động vì khi được 5-6 tuổi thì
hầu hết các vận động của trẻ đã được hình thành và phát triển ở một mức độ
nhất định.
Trong quá trình tham gia các hoạt động giáo dục phát triển vận động, trẻ còn
được phát triển thêm về mặt tình cảm- xã hội cũng như thẩm mỹ. Phát triển vận
động làm thỏa mãn nhu cầu tình cảm của trẻ, giúp trẻ có thể lực, sức khỏe tốt,
tạo cho tinh thần trẻ được sảng khoái, vui vẻ, giúp phát triển tốt mối quan hệ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
………………………………………
Nguyễn Thị Liệu
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN.
2. Giáo trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non.
3. Tạp chí giáo dục mầm non.
4. 100 trò chơi dân gian (Nhà xuất bản Thanh Niên).
5. Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non trẻ 5-6 tuổi
(Nhà xuất bản giáo dục).
6. Tài liệu chuyên đề phát triển vận động.
20